Ông Giang khẳng định: NMLD Dung Quất là dự án lọc dầu đầu tiên của đất nước và là sở hữu toàn dân, do người dân đóng thuế để xây dựng, nên ông phải có trách nhiệm giải trình chân thành, trung thực và thẳng thắn nhất để người dân, dư luận và các cơ quan quản lý có thể hiểu thấu đáo và chi tiết về bức tranh tổng thể hiện tại của nhà máy, qua đó có những cách nhìn đúng đắn, thực tế và khách quan hơn về dự án.

- Thưa ông, ngày khánh thành NMLDDQ đã đến. Vậy đến thời điểm này, việc khắc phục các sự cố và an toàn vận hành nhà máy còn có gì khiến các ông phải bận tâm hay không ?

Tôi cho rằng, bất cứ một sản phẩm nào dù nhỏ hay lớn, khi mới đưa vào sử dụng cũng đều có những trục trặc nhất định và phải khắc phục trong thời gian đầu, huống chi NMLDDQ, một dự án có quy mô lớn, trải dài gần 14 km với công nghệ hiện đại, phức tạp vào bậc nhất Châu Á, chắc chắn cũng không là ngoại lệ. Trước đây, các dự án như nhà máy Đạm Phú Mỹ, các dự án của PV Gas hay dàn khoan dầu khí ngoài khơi mặc dù nhỏ hơn rất nhiều lần, nhưng phải hai đến ba năm sau mới đi vào hoạt động ổn định. Vì vậy, chúng ta cần phải đối mặt với một thực tế là không thể đi tìm một siêu nhân nào đó để có thể khắc phục hết các sự cố của NMLDDQ ngay lập tức và chắc chắn những khó khăn, vướng mắc vẫn sẽ xảy ra trong thời gian đầu, khi nhà máy mới đi vào khai thác.

Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây chính là chúng ta nên đánh giá, nhìn nhận và giải quyết các sự cố đó như thế nào. Hướng mà chúng tôi đang đi chính là làm chủ công nghệ càng sớm càng tốt, ngăn ngừa sự cố từ xa, kịp thời khắc phục sự cố một cách chủ động, an toàn, hiệu quả và nhanh nhất. Có thể khẳng định rằng, đến thời điểm này chúng tôi hoàn toàn có thể kiểm soát được mọi việc và đang vận hành nhà máy với trạng thái tốt nhất. Minh chứng rõ nét cho điều này đó là kể từ khi nhận bàn giao vào cuối tháng 5/2010 đến nay, nhà máy luôn vận hành với 100% công suất thiết kế, thậm chí hơn một tháng qua, do nhu cầu thị trường nên chúng tôi đã nâng lên 105% công suất cực đại mà vẫn không hề xảy ra sự cố nào ảnh hưởng đến quá trình sản xuất.

- Thời gian qua, trên diễn đàn Quốc hội cũng như trong dư luận đã có nhiều ý kiến nghi ngờ về tính hiệu quả của NMLDDQ. Vậy với tư cách một người chỉ huy thực hiện dự án trước đây cũng như điều hành dự án hiện nay, ông có ý kiến thế nào về vấn đề này ?

Trước tiên, tôi xin khẳng định lại rằng: NMLDDQ được đầu tư xây dựng với mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, tạo thế chủ động năng lượng trong mọi hoạt động của nền kinh tế.

Còn về hiệu quả của nhà máy lọc dầu, tôi cho rằng bất cứ dự án nào dù lớn hay nhỏ thì những năm đầu tiên cũng khó có lãi ngay.  hơn nữa, từ trước tới nay dư luận luôn kỳ vọng về một mức lợi nhuận cao do NMLDDQ đem lại là hoàn toàn chưa xác đáng. Bởi trên thế giới, không có bất cứ quốc gia nào lại chỉ trông chờ nhiều vào nguồn lợi nhuận do việc đầu tư xây dựng mỗi nhà máy lọc dầu không thôi. Cái sẽ mang lại lợi nhuận vô cùng to lớn đó chính là hóa dầu, tức là việc tận dụng sản phẩm đầu ra của lọc dầu để làm nguyên liệu sản xuất ra những sản phẩm có giá trị kinh tế cao như: sản phẩm nhựa, các loại sợi nhân tạo, hóa chất, chất dẫn xuất... Và hiện nay cũng không có quốc gia nào trên thế giới chỉ đầu tư xây dựng mỗi nhà máy lọc dầu không thôi, mà bao giờ cũng đi kèm cụm lọc, hóa dầu.

Tại VN, trong quá trình triển khai đầu tư xây dựng NMLDDQ, chúng tôi đã song song triển khai thêm nhà máy sản xuất Polypropylen để sản xuất ra các sản phẩm nhựa tiêu dùng và nhựa dùng trong các ngành CN phụ trợ và bước đầu đã tạo ra lợi nhuận lớn. Chính điều đó đã dẫn đến kết quả hết sức thần kỳ là tuy mới đưa vào khai thác nhà máy hơn 6 tháng, nhưng cụm CN lọc hóa dầu Dung Quất đã có lãi hàng trăm tỷ đồng. Hiện chúng tôi đang tiếp tục triển khai thêm các nhà máy hóa dầu khác và tôi tin rằng trong thời gian không xa, đây chính là những “con gà đẻ trứng vàng” cho cụm CN lọc hóa dầu Dung Quất.

Bên cạnh những hiệu quả trực tiếp do NMLDDQ đã tạo ra thì không thể không kể đến những lợi thế gián tiếp đã làm thay đổi bộ mặt đời sống, xã hội của địa phương. Trước khi có NMLDDQ thì Quảng Ngãi không hơn gì một thị trấn, đời sống người dân cực kỳ khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn. Nhưng khi nhà máy lọc dầu ra đời, bộ mặt thành phố đã đổi thay từng ngày. Nhiều trường học, bệnh viện, được mở rộng và nâng cấp, đường sá được đầu tư xây dựng, khách sạn, nhà hàng, siêu thị đua nhau mọc lên để phục vụ đời sống người dân... Ngoài ra, sự ra đời của NMLDDQ đã kéo theo sự xuất hiện nhiều dự án lớn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước như: nhà máy CN Doosan (Hàn Quốc), cảng nước sâu Gemadept, nhà máy thép Đại Liên (Trung Quốc), các dự án của Vinashin và hàng loạt dự án hóa dầu đã và đang được triển khai... tạo ra hàng chục ngàn công ăn việc làm, đóng góp rất lớn cho ngân sách quốc gia và tạo nên một bức tranh kinh tế - xã hội hết sức sống động cho Quảng Ngãi nói riêng và khu vực miền Trung nói chung.

Nói những điều trên, tôi mong muốn mọi người hãy nhìn nhận khách quan và tổng thể về những lợi thế mà NMLDDQ đem lại chứ không chỉ nhìn qua những con số trên sổ sách để đánh giá về hiệu quả nhà máy.

- Vài tháng trước, nhiều người rất lo lắng khi biết tin sản phẩm xăng dầu của NMLDDQ làm ra bị tồn đọng. Vậy ông có thể cho biết vấn đề này đã được giải quyết ra sao ?

Đúng là vào thời điểm cuối tháng 9/2010, việc tồn đọng sản phẩm của NMLDDQ là có thật, và nguyên nhân của nó là hết sức khách quan:

Theo kế hoạch, vào cuối tháng 5/2010 NMLDDQ mới được bàn giao và đi vào hoạt động. Tại thời điểm đó, tất cả những người lạc quan nhất cũng chỉ dám ước đoán, nếu suôn sẻ, nhà máy sẽ vận hành với 80% công suất thiết kế. đây cũng là con số chung của các nhà máy lọc dầu khác trên thế giới khi mới đưa vào vận hành.

Nhưng, ngay tại thời điểm cuối năm 2009, các DN kinh doanh xăng dầu trong nước đã buộc phải chốt khối lượng với các đối tác cung ứng nước ngoài. Do phải chủ động nguồn hàng phân phối cả năm nên các DN đã trừ đi khối lượng sản phẩm của NMLDDQ theo ước tính ban đầu là 80% công suất và ký với đối tác nước ngoài với khối lượng khá lớn. Tuy nhiên, khi bắt đầu đi vào hoạt động, do làm chủ công nghệ nên nhà máy đã ngay lập tức hoạt động hết sức ổn định ở 100% công suất, dẫn đến thừa khoảng 20% công suất còn lại nên dẫn đến lượng tồn kho tăng.

Ngoài ra, một yếu tố khác cũng đã tác động đến lượng tồn kho lúc bấy giờ đó là sản phẩm xăng máy bay của NMLDDQ lúc đó tuy đã được các cơ quan kiểm nghiệm quốc tế và trong nước cấp giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn để sử dụng, nhưng do đây là mặt hàng hết sức nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn cho các chuyến bay nên phía Vietnam Arlines và Vinapco buộc phải thận trọng và tuân thủ nghiêm túc các thủ tục nội bộ nên đã xảy ra chậm trễ một thời gian ngắn. Và ngay sau đó, do đã đầy đủ các điều kiện cộng với việc tỷ giá ngoại tệ đang rất bất lợi cho các nhà nhập khẩu nên các DN kinh doanh xăng dầu đã quay lại mua sản phẩm của chúng tôi. Và vì thế hiện nay mặc dù đã vận hành với 105% công suất cực đại nhưng chúng tôi vẫn không đủ sản phẩm để bán.

- Một số ý kiến cho rằng địa điểm đặt nhà máy là chưa hợp lý, tổng mức đầu tư tăng lên quá cao, và thời gian thực hiện dự án quá dài. Vậy quan điểm của ông về các vấn đề này như thế nào ?

Về địa điểm đặt nhà máy, tôi cho rằng đây là phương án tối ưu bởi ba yếu tố sau: thứ nhất Dung Quất có cảng biển nước sâu rất thuận tiện cho việc XNK hàng hóa, đặc biệt là sản phẩm xăng dầu thường vận chuyển bằng đường biển. Thứ hai, Dung Quất là một vùng còn khá hoang sơ, dân cư thưa thớt nên rất thuận lợi cho việc triển khai xây dựng nhà máy với quy mô lớn và phát triển các khu CN phụ trợ sau này. Và một nguyên nhân vô cùng ý nghĩa nữa đó là: Quảng Ngãi cũng như miền Trung là một khu vực phát triển kinh tế còn khá chậm do không có những điều kiện và động lực, nên việc đặt nhà máy ở đây sẽ có tác dụng vô cùng to lớn trong việc kích thích kinh tế phát triển, tạo công ăn việc làm và đóng góp vào ngân sách địa phương, góp phần thay đổi bộ mặt và đời sống người dân nơi đây.

Về vấn đề tổng mức đầu tư tăng cao so với dự toán ban đầu là điều khách quan và đương nhiên xảy ra bởi để xây dựng một nhà máy quy mô lớn, phức tạp như NMLDDQ thì chắc chắn thời gian sẽ phải kéo dài trong vài năm. Hơn nữa đây lại là một dự án công nghệ cao, đầu tiên được thực hiện ở VN nên thiết bị máy móc đa phần nhập ngoại, nguồn vốn lớn và không chủ động do phải đi vay với lãi suất cao, và do vậy chúng ta không thể chủ động được về giá cả nên phải chấp nhận việc trượt giá theo quy luật chung của thế giới. Tôi cho rằng việc trượt giá đã làm ảnh hưởng chung đến tất cả các dự án đầu tư trong mọi lĩnh vực chứ không chỉ riêng NMLDDQ, và đây là nguyên nhân khách quan, buộc chúng ta phải chấp nhận.

Còn về thời gian thực hiện dự án quá dài lên đến gần 10 năm, tôi cho rằng chúng ta phải thẳng thắn rút kinh nghiệm bởi nguyên nhân của việc này là do những rào cản về thủ tục hành chính, pháp lý, các nguồn vốn đầu tư cho những dự án lớn chúng ta chưa có tiền lệ nên đã có sự bối rối. Ngay việc ban đầu thiếu vốn đầu tư nên chúng ta buộc phải hợp tác với Nga, rồi do bất đồng về quan điểm đầu tư chúng ta phải tự chủ động nên mất thêm 2-3 năm.

Tuy nhiên tôi cũng xin nói rõ đây là một dự án lớn nhất từ trước tới nay và chưa bao giờ chúng ta thực hiện nên việc có nhiều lúng túng trong việc triển khai là điều rất dễ hiểu. Chúng ta không nên đổ lỗi cho bất cứ ai mà nên nhìn kỹ lại quá khứ để rút kinh nghiệm và đừng để nó tái diễn ở các dự án khác trong tương lai.

- Xin  cảm ơn ông !
 

Bàn giao và đi vào SXKD từ tháng 6/2010, đến nay Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đã chế biến 6,75 triệu tấn sản phẩm, xuất bán 6,66 triệu tấn xăng dầu các loại và đạt doanh thu 53.000 tỷ đồng, nộp ngân sách 9. 500 tỷ. Năm 2011, nhà máy sẽ phấn đấu đạt mức doanh thu 74.000 tỷ đồng và nộp ngân sách 14.500 tỷ đồng.

Tiến Dũng thực hiện

Nguồn: http://dddn.com.vn/

(LUATMINHKHUE.VN: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)