Năm 1993 mẹ tôi bị bệnh qua đời.Năm 1995, bố tôi lấy vợ hai và có thêm một người con trai nữa. Giờ tôi muốn xây nhà nhưng bố tôi lại chia đât làm 3 phần( tôi, e trai, bố mẹ). Bố tôi bảo ông cho vợ chồng tôi 1-2 m2 cũng phải nhận, không ở thì dọn đi chỗ khác. Tôi muốn hỏi, tôi có được đòi quyền lợi một nửa số đất của mẹ tôi( đã mất) không? Hay bố tôi chia như thế nào thì tôi phải chấp nhận? Xin văn phòng luật sư tư vấn cho tôi.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn pháp luật dân sự chuyên trang www.luatminhkhue.vn 

Kết quả hình ảnh cho thừa kế

>>Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến gọi: 19006162 

Chào bạn,

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội.

Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình.

2. Luật sư tư vấn:

Căn cứ khoản 1, Điều 633 BLDS:

Điều 633. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1.Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này.

Như vậy, mốc thời gian 1993 sẽ được xem là thời điểm để những người thừa kế theo pháp luật có quyền chia di sản của mẹ bạn. Thời hiệu yêu cầu chia di sản trong trường hợp này là 10 năm tính từ năm 1993 (Căn cứ Điều 645 BLDS) :

Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế 

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Trong trường hợp này, năm 1993 mẹ bạn chết không để lại di chúc, tính đến nay đã quá thời hiệu khởi kiện về thừa kế và không có thỏa thuận của các đồng thừa kế. Như vậy, theo quy định của pháp luật thì tài sản này được coi là tài sản chung và khi chia sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự về tài sản chung để chia. Điều này được quy định tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình như sau :

“2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.”

Theo như thông tin bạn cung cấp thì mẹ bạn sinh được hai chị em bạn vậy Người thừa kế theo pháp luật được quy định tại điều 676 BLDS như sau:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật 

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Căn cứ vào quy định nêu trên thì những người ở hàng thừa kế thứ nhất bao gồm hai chị em bạn và bố bạn mỗi người sẽ có một phần quyền bằng nhau trong số tài sản của mẹ bạn. 

 Tham khảo bài viết liên quan:

Tư vấn thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế ?

Tư vấn chia di sản thừa kế không có di chúc?

Phân chia di sản thừa kế không có di chúc ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật.