Ngôi nhà này xây từ thời ông bà cố (tức là ba mẹ chồng của bà ngoại tôi). Ông bà cố có 3 người con. Một là ông ngoại X có 3 người con A, B, C, Hai là bà Y có 2 người con trai là D và E, ba là bà Z. Sau này ông cố mất, bà cố lúc tuổi già đã lập di chúc trong việc phân chia tài sản như sau:

Người A: "cái nhà trên, cháu đích tôn là người thừa kế gia đình này".

Người B: "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được".

Người C: "2 phòng, phòng để Tivi và phòng kế nhà bếp". Bà ngoại (vợ ông X): "1 phòng".

Người D & E: "3 phòng để gạo cám có khoá".

Trích nguyên văn như sau: "Nay tôi làm tờ di chúc này là do chồng tôi đã nói lại khi chồng tôi đã nhắm mắt và cũng theo lời hứa của chồng, sau khi tôi nhắm mắt xin các nhân chứng và chính quyền địa phương xác nhận đúng trong tờ di chúc". Tờ di chúc thể hiện ngày 02/12/1995. Có dấu tay của bà cố, có người làm giấy và nhân chứng, không có con dấu xác nhận của chính quyền địa phương tại thời điểm đó. Lưu ý một chỗ là người làm chứng lại ký tên và ghi thời điểm là ngày 03/12/1995. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện tại do bà ngoại tôi là vợ ông X đang đứng tên (đất Hộ gia đình, nguồn gốc: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất). Thời điểm cấp Giấy chứng nhận là ngày 16/03/2009.

Tôi có một số câu hỏi như sau:

1. Di chúc có hợp lệ không? Trong trường hợp không có chính quyền địa phương xác nhận cũng như thời điểm người làm chứng không đúng với thời điểm lập di chúc.

2. Tài sản sẽ được phân chia như thế nào nếu nhà bị sập hoặc đập nhà?

3. Trong trường hợp không thoả thuận được việc phân chia thừa kế, ông B là người được chia "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được" có được quyền quyết định diện tích của mình không? Bởi vì di chúc ghi không rõ ràng diện tích nên không xác định được. " Muốn cất nhà chỗ nào cũng được" không đồng nghĩa "tất cả chỗ ấy là của mình". Tổng diện tích lô đất gần 900 m2.

>> Xem thêm:  Mẫu văn bản từ chối nhận di sản thừa kế mới nhất năm 2020

4. Người D & E có thực sự được chia không?

5. Trong trường hợp bà ngoại vợ ông X mất mà chưa làm thủ tục di chúc thì tài sản được phân chia như thế nào? Hoặc nếu bản gốc tờ di chúc bị thất lạc hoặc bị mối mọt không còn nguyên vẹn. Nếu gia đình anh em với nhau mà thoả thuận phân chia được hoặc di chúc ghi rõ diện tích thì có lẽ tranh chấp không xảy ra, nhưng hiện tại ông B đòi chia phần diện tích của bản thân, ông D & E đòi hơn thứ mình thực sự có. Bà tôi hiện tại giờ cũng đã 70 tuổi, cũng không biết chia như thế nào để các con vừa lòng.

Người gửi: T.Đ.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

Thắc mắc về việc phân chia thừa kế.

                                       >> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sự gọi1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

>> Xem thêm:  Tặng cho đất đai có phải đóng thuế không ? Thủ tục tặng cho đất

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005. 

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất: Trong trường hợp không có chính quyền địa phương xác nhận cũng như thời điểm người làm chứng ký không đúng với thời điểm lập di chúc thì di chúc có hợp lệ không?

Theo Điều 652 Bộ luật dân sư năm 2005 quy định về di chúc hợp pháp như sau:

“1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn soạn thảo, xác lập di chúc và phân chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”.

Với quy định trên, một di chúc được coi là hợp pháp mà không được công chứng chứng thực nếu có đẩy đủ các điều kiện:

+ Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép

+ Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật

Đồng thời đối với chủ thế lập di chúc phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 2, khoản 3 Điều này nếu thuộc các trường hợp trên.

Theo thông tin bạn cung cấp, bà cố bạn có để lại di chúc được lập vào ngày 2/12/1995, hình thức di chúc được lập bằng văn bản và có chữ ký của người làm chứng, có dấu vân tay của bà cố bạn và không được công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, người làm chứng lại ký vào ngày 3/12/1995.

Căn cứ Điều 656 Bộ luật dân sự quy định di chúc bằng văn bản có người làm chứng:

“Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 653 và Điều 654 của Bộ luật này”.

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn pháp luật về thừa kế uy tín, chuyên nghiệp

Bạn chưa cung cấp được, khi bà cố lập di chúc, ai là người viết di chúc?

Trường hợp 1: Nếu bà cố tự viết di chúc và nhờ người làm chứng ký vào di chúc thì di chúc này hợp pháp.

Trường hợp 2: Nếu bà cố nhờ người lập di chúc, đồng thời có người làm chứng

Xét trường hợp di chúc nêu trên của bà cố bạn, bạn cần tìm hiểu lý do người làm chứng lại ký sau thời điểm lập di chúc. Nếu di chúc trên mà người làm chứng chứng minh và đưa ra lý do hợp pháp về việc ký vào di chúc, thì di chúc trên đã đáp ứng đầy đủ điều kiện của pháp luật. Nếu trường hợp người làm chứng không đưa ra lý do phù hợp về việc ký sau thời điểm lập di chúc, bạn cần xem xét lại tại thời điểm lập di chúc, bà cố bạn có lập trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt không hay bị cưỡng ép. Với trường hợp di chúc được lập trong tình trạng không minh mẫn, sáng suốt thì di chúc này vô hiệu.

2. Tài sản sẽ được phân chia như thế nào nếu nhà bị sập hoặc đập nhà?

Theo khoản 3 Điều 667 Bộ luật dân sự quy định:

“Di chúc không có hiệu lực pháp luật, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực”.

Với quy định trên, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế, thì di chúc không còn hiệu lực pháp luật. Nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì di sản còn lại vẫn còn hiệu lực.

Đối với trường hợp của bạn, trường hợp nhà bị sập tại thời điểm mở thừa kế, nhưng diện tích đất không ảnh hưởng, vì vậy, người thừa kế vẫn được thừa kế diện tích đất có nhà bị sập đó. Trong trường hợp đập nhà tại thời điểm thừa kế mà không hỏi ý kiến của người thừa kế, sẽ phải bồi thường thiệt hại và nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đơn khởi kiện của người yêu cầu.

Trong trường hợp không thoả thuận được việc phân chia thừa kế, ông B là người được chia "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được" có được quyền quyết định diện tích của mình không? Bởi vì di chúc ghi không rõ ràng diện tích nên không xác định được. "Muốn cất nhà chỗ nào cũng được" không đồng nghĩa "tất cả chỗ ấy là của mình". Tổng diện tích lô đất gần 900 m2.

>> Xem thêm:  Tư vấn phân chia tài sản thừa kế khi có hai vợ?

Theo Điều 673 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về giải thích nội dung di chúc:

“Trong trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau thì người công bố di chúc và những người thừa kế phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc. Khi những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì coi như không có di chúc và việc chia di sản được áp dụng theo quy định về thừa kế theo pháp luật.

Trong trường hợp có một phần nội dung di chúc không giải thích được nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần không giải thích được không có hiệu lực”.

Như vậy, với quy định này xét trong trường hợp của bạn, cả hai bên không thống nhất về nội dung di chúc, thì phần không rõ ràng đó không có hiệu lực, và sẽ phải chia theo thừa kế pháp luật nếu không ảnh hưởng đến các phần còn lại trong di chúc.

3. Trong trường hợp không thoả thuận được việc phân chia thừa kế, ông B là người được chia "một số đất từ nhà vệ sinh dọc xuống đụng rào phía Đông, dọc vô phía Nam, dọc lên phía Tây, muốn cất nhà chỗ nào cũng được" có được quyền quyết định diện tích của mình không? 

Việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được quy định tại khoản 2 Điều 681 Bộ luật dân sự:

"1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:

a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
b) Cách thức phân chia di sản.

2. Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản".
 
Do đó, việc phân chia di sản thừa kế ưu tiên sự thỏa thuận của các đồng thừa kế và việc thỏa thuận của những người thừa kế  phải được lập thành văn bản.

Nếu vẫn không thể thỏa thuận với nhau và có tranh chấp xảy ra khi thời hiệu khởi kiện về thừa kế vẫn còn theo quy định tại điều 645 Bộ luật dân sự:

Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế  

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

>> Xem thêm:  Đất được tặng cho mới chỉ công chứng hợp đồng mà chưa sang tên thì có đòi lại được không ?

Như vậy, trong trường hợp này, nếu có tranh chấp thì các bên có thể khởi kiện yêu cầu chia thừa kế nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn mà ông B không được quyền quyết định diện tích đó.

4. Người D và E có thực sự được chia không?

Nếu di chúc trên hợp pháp, thì người D và E được chia phần di sản thừa kế đã nêu trong di chúc. Vì, theo Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Đây là ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của bà cố cho hai người D và E, vì vậy D và E vẫn được hưởng di sản thừa kế được nêu trong di chúc.

5. Trong trường hợp bà ngoại vợ ông X mất mà chưa làm thủ tục di chúc thì tài sản được phân chia như thế nào? Hoặc nếu bản gốc tờ di chúc bị thất lạc hoặc bị mối mọt không còn nguyên vẹn. Nếu gia đình anh em với nhau mà thoả thuận phân chia được hoặc di chúc ghi rõ diện tích thì có lẽ tranh chấp không xảy ra, nhưng hiện tại ông B đòi chia phần diện tích của bản thân, ông D & E đòi hơn thứ mình thực sự có. Bà tôi hiện tại giờ cũng đã 70 tuổi, cũng không biết chia như thế nào để các con vừa lòng.

Trong trường hợp này nếu bà ngoại vợ ông X mất mà chưa làm thủ tục di chúc thì theo quy định của pháp luật di sản sẽ được chia theo pháp luật về hàng thừa kế tại điều 676 Bộ luật dân sự 2005.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Nên làm di chúc hay hợp đồng tặng cho đối với quyền sử dụng đất ?

Bộ phận Tư vấn pháp luật Dân sự.

>> Xem thêm:  Làm thủ tục sang tên tặng cho đất thì sẽ phải nộp các loại lệ phí nào ?