Kính chào công ty Luật Mimh Khuê. Gần đây tôi có đọc được nhiều vụ tranh chấp đất đai và cũng có nhiều người quen thường hỏi tôi vấn đề pháp lý liên quan tới vấn đề này. Tôi có một thắc mắc mong được luật sư giải đáp ạ. Xin luật sư cho biết thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án hiện nay được quy định như thế nào? Rất mong nhận được phản hồi từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Vàng A Pó - Điện Biên

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

- Luật đất đai năm 2013

2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án

>> Xem thêm:  Phiên tòa là gì ? Quy định pháp luật về phiên tòa ?

2.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đại theo quy định BLTTDS 2015

Điều 26 BLTTDS năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự của Tòa án, trong đó có ghi nhận Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai tại khoản 9. Cụ thể:

"9. Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng."

2.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định Luật đất đai 2013

Kể từ sau khi Luật đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua, có thể nôi thẩm quyển của Tòa dân sự trong việc giải qùýết tranh chấp đất đài đã mỏ rộng tôì đa.

Tại Điều 203 Luật đất đai năm 2013 quy định về thẩm quyển giải quyết tránh chấp đất đai như sau:

“Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại ủyban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì dữ Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tô tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch úy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhận dận theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nạm định cự ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành”.

2.2.1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100

Các giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 như sau:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trọng các ỊoạỊ giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải, nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong SỔ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sẩn gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Uy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ỏ thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

>> Xem thêm:  Hoãn phiên tòa là gì ? Tìm hiểu về hoãn phiên tòa hình sự, dân sự

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ củ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đồ ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ồ và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sờ hữu nha ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

4. Hộ gia đinh, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.

Cần lưu ý là khi giải quyết loại tranh chấp mà các bên xuất trình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 thì Tòa án cần phải xem xét, đánh giá bản chất của sự việc. Do đó, không phải ai đứng tên trong các giấy tờ đó đều công nhận quyền sử dụng đất cho họ, mà Tòa ản phải xem xét trong từng trường hợp cụ thể, tùy theo tính chất của quan hệ pháp luật tranh chấp để giải quyết cho chính xác. Ví dụ, nếu một bên đã đứng tên trong sổ đăng ký ruộng đất hoặc trong sổ địa chính, nay một bên tranh chấp cho đất đó là của mình hoặc là di sản thừa kế thì phải xem xét, người đứng tên trong sổ sách nói trên có phải thuộc trường hợp đứng tên hợp pháp hay không? Tòa án chỉ công nhận quyền sử dụng đất cho bên có giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 khi chính họ là người có quyền sử dụng đất hợp pháp.

2.2.2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có một trọng các loại giấy tờ quy định tại Điều 100

Đối với tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trọng các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 thì đương sự chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

- Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

- Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tô tụng dân sự;

>> Xem thêm:  Chứng minh trong tố tụng dân sự là gì ? Quy định về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự theo Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành?

Như vậy, đối với trưòng hợp người sử dụng đất mới chỉ đứng tên trong sổ mục kê, sổ dã ngoại, mới ghi số thửa trong bản đồ, thậm chí không có bất kỳ loại giấy tờ gì, nếu có tranh chấp và đã được ủy ban nhân dân cấp xã hòa giải không thành thì các đương sự có thể lựa chọn việc khởi kiện ngay ra Tòa án để yêu cầu Tòa dân sự giải quyết. Trường hợp đương sự không muốn khỏi kiện ra Tòa án thì có quyền nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

Đối với các đương sự cũng như các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cần phải quán triệt quy định tại Điều 202 và Điệu 203 là việc hòa giải tại ủy ban nhân dân cấp xã là một yêu cầu bắt buộc. Chỉ khi hòa giải không thành hoặc không hòa giải được thì đương sự mới được khởi kiện ra Tòa án hoặc mới được yêu cầu ủy ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Từ phân tích nói trên có thể nhận thấy, Tòa dân sự có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp đất đai đã có giấy chứng nhận hoặc có giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 và cả đất tranh chấp không có các loại giấy tờ nêu trên.

Đối với ủy ban nhân dân, nếu đương sự gửi đơn đến ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì ủy ban nhân dân chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai đối với những trường hợp đất đang có tranh chấp không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013.

3. Lưu ý khi Tòa án nhận đơn khởi kiện giải quyết TC đất đai mà đương sự không có giấy tờ tại Điều 100

Đối với tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai thì luật quy định đương sự có thể lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là nộp đơn yều cầu giải quyết tranh chấp tậi ủy ban nhân dân hoặc khởi kiện tại Tòa án. Do đó, để tránh việc đương sự gửi đơn đến cả hai cơ quan yêu cầu giải quyết, và hai cơ quan cùng thụ lý giải quyết một vụ việc, khi Tòa án có thẩm quyền nhận được đơn khởi kiện của đương sự yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, thì Tòa án phải hỏi rõ đương sự có gửi đơn yêu cầu ủy ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đó hay không?

Trường hợp đương sự đã gửi đơn đến hai nơi thì Toà án phải yêu cầu người khởi kiện làm văn bản lựa chọn cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp người khỏi kiện không làm được văn bản, ví dụ như không biết chữ... thì Tòa án phải lập biên bản ghi rõ về việc người khởi kiện lựa chọn cơ quan nào giải quyết.

Trong trường hợp người khởi kiện lựa chọn Tòa án giải quyết thì Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung, đồng thời có văn bản thông báo cho ủy ban nhân dân có thẩm quyền đã nhận đơn của đương sự biết là Tòa án đã thụ lý giải quyết theo sự lựa chọn của đương sự và yêu cầu ủy ban nhân dân có thẩm quyển chuyển toàn bộ tài liệu, hồ sơ giải quyết đơn (nếu có) cho Tòa án.

Trong trường hợp người khởi kiện lựa chọn ủy ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết và vụ việc chưa thụ lý thì Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành trả lại đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm thẹo cho người khởi kiện. Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp; nếu Tòa án đã thụ lý thì căn cứ Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để đình chỉ giải quyết đơn khởi kiện.

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa dân sự theo Lụật đất đai năm 2013 được mở rộng tới múc, theo tác giả đã có phần vượt quá giới hạn của Tòa án. Đây là điểm sẽ rất khó khăn, phức tạp khi Tòa dân sự giải quyết loại tranh chấp này.

>> Xem thêm:  Giai đoạn tố tụng là gì ? Khái niệm về giai đoạn tố tụng

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Phong tỏa tài sản là gì ? Quy định pháp luật về phong tỏa tài sản

Câu hỏi thường gặp về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án

Câu hỏi: Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đất đai không?

Trả lời:

Có. Căn cứ quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: tranh chấp đất đai là một trong những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Câu hỏi: Đối với tranh chấp đất đai đương sự không có giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai thì có được khởi kiện tại Tòa án hay không?

Trả lời:

Có.  Đối với tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trọng các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 thì đương sự chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

- Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

- Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tô tụng dân sự;

Câu hỏi: Lưu ý khi Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện giải quyết tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy tờ theo điều 100 Luật đất đai là gì?

Trả lời:

Để tránh việc đương sự gửi đơn đến cả hai cơ quan yêu cầu giải quyết, và hai cơ quan cùng thụ lý giải quyết một vụ việc, khi Tòa án có thẩm quyền nhận được đơn khởi kiện của đương sự yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, thì Tòa án phải hỏi rõ đương sự có gửi đơn yêu cầu ủy ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đó hay không?