Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Chào Anh/ chị!

Công ty chúng tôi cần tư vấn công việc như sau:

- Chúng tôi muốn kinh doanh dịch vụ mua hàng từ nước ngoài, tương tự như link ở bên dưới đây. Chúng tôi có đơn vị cung cấp hàng hóa từ 123 của nước ngoài. Đơn vị vận chuyển cũng từ bên 123 free cung cấp, chuyển hàng trực tiếp cho khách hàng từ nước ngoài.

Chúng tôi - công ty kvic đứng ra mở sàn thương mại điện tử A, D, B, C... mở nhiều sàn và đồng thời liên kết với các sàn thương mại điện tử khác để quảng bá, nhận booking từ khách hàng. Sau đó khách hàng đặt mua trực tuyến và đơn vị vận chuyển phía nước ngoài sẽ vận chuyển trực tiếp cho khách.

Về vấn đề ship hàng cho khách thì sẽ có 2 trường hợp xảy ra : Khách hàng trả tiền trực tiếp bằng online hoặc khách hàng trả tiền sau khi nhận hàng.

Thanh toán online bằng các loại thẻ visa quốc tế thì ko có gì khó khăn và do tài khoản trả về sẽ trả trực tiếp cho cty bán hàng.

Tuy nhiên, có cách nào để thực hiện việc thanh toán sau khi nhận hàng. Tức là khách hàng nhận hàng rồi mới thanh toán thì có là bất hợp pháp hay ko?

Và làm thế nào để làm đúng theo luật, về vấn đề thanh toán.

TRẢ LỜI:

CĂN CỨ PHÁP LÝ

- Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010;

- Luật bưu chính 2010;

- Nghị định 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt;

- Nghị định 47/2011/NĐ-CP hướng dẫn luật bưu chính;

- Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử;

- Thông tư 47/2014/TT-BCT về quản lý website thương mại điện tử do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành;

NỘI DUNG TƯ VẤN

Website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử là website thương mại điện tử do thương nhân, tổ chức thiết lập để cung cấp môi trường cho các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động thương mại. Website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử bao gồm các loại sau:

- Sàn giao dịch thương mại điện tử;

- Website đấu giá trực tuyến;

- Website khuyến mại trực tuyến;

- Các loại website khác do Bộ Công Thương quy định.

Sàn giao dịch thương mại điện tử là website thương mại điện tử cho phép các thương nhân, tổ chức, cá nhân không phải chủ sở hữu website có thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên đó.

Đối với vướng mắc của Qúy khách, Luật Minh Khuê sẽ làm rõ hai vấn đề:

Thứ nhất, Mở nhiều sàn thương mại điện tử, liên kết nhiều sản với nhau, liên kết với các sàn thương mại điện tử khác để quảng bá, nhận booking từ khách hàng có đúng quy định pháp luật không?

Thứ hai, việc thanh toán tiền có được thực hiện theo hình thức chuyển khoản và thanh toán tiền mặt khi nhận hàng.

Để Qúy khách tiện theo dõi, Luật Minh Khuê sẽ phân tích từng vấn đề như sau:

Vần đề 1: Mở nhiều sàn thương mại điện tử, liên kết nhiều sàn với nhau, liên kết với các sàn thương mại điện tử khác để quảng bá, nhận booking từ khách hàng có đúng quy định pháp luật không?

Trả lời:

Điều 24 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định rõ:

Điều 24. Chủ thể của hoạt động thương mại điện tử

Các chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử bao gồm:

1. Các thương nhân, tổ chức, cá nhân tự thiết lập website thương mại điện tử để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người sở hữu website thương mại điện tử bán hàng).

2. Các thương nhân, tổ chức thiết lập website thương mại điện tử để cung cấp môi trường cho thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ (thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử).

3. Các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng website của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người bán).

4. Các thương nhân, tổ chức, cá nhân mua hàng hóa hoặc dịch vụ trên website thương mại điện tử bán hàng và website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (khách hàng).

5. Các thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho người sở hữu website thương mại điện tử bán hàng và cho thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng).

6. Các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng thiết bị điện tử có nối mạng khác để tiến hành hoạt động thương mại.

Khoản 2 Điều 35 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định:

“2. Các hình thức hoạt động của sàn giao dịch thương mại điện tử:

a) Website cho phép người tham gia được mở các gian hàng trên đó để trưng bày, giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ;

b) Website cho phép người tham gia được lập các website nhánh để trưng bày, giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ;

c) Website có chuyên mục mua bán trên đó cho phép người tham gia đăng tin mua bán hàng hóa và dịch vụ;

d) Các loại website khác do Bộ Công Thương quy định.”

Như vậy, theo quy định này có thể hiểu rằng:

- Công ty Qúy khách có thể tự thiết lập website để phục vụ cho hoạt động bán hàng hóa của mình, xúc tiến thương mại để bán các hàng hóa của mình.

- Công ty Qúy khách có thể thiết lập website thương mại điện tử để cung cấp môi trường cho tổ chức khác, hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ của họ.

- Công ty Qúy khách có thể sử dụng website của tổ chức khác để phục vụ hoạt động cung ứng dịch vụ của mình.

Theo quy định trên và dựa trên các nội dung của Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử, Thông tư 47/2014/TT-BCT về quản lý website thương mại điện tử có thể thấy: Công ty Qúy khách có thể mở nhiều sàn thương mại điện tử vì không có quy định hạn chế số lượng mở sàn giao dịch thương mại điện tử.

Công ty Qúy khách có thể liên kết nhiều sàn, liên kết với các sàn thương mại điện tử khác để quảng bá, nhận booking từ khách hàng vì không có quy định cấm nội dung này. Tuy nhiên, Công ty Qúy khách cần đảm bảo hoạt động kinh doanh thương mại điện tử này không được vi phạm các nội dung sau: (Nội dung này quy định tại Điều 4 Nghị định 52/2013/NĐ-CP)

- Tổ chức mạng lưới kinh doanh, tiếp thị cho dịch vụ thương mại điện tử, trong đó mỗi người tham gia phải đóng một khoản tiền ban đầu để mua dịch vụ và được nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ việc vận động người khác tham gia mạng lưới;

- Lợi dụng thương mại điện tử để kinh doanh hàng giả, hàng hóa, dịch vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh;

- Lợi dụng danh nghĩa hoạt động kinh doanh thương mại điện tử để huy động vốn trái phép từ các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác;

- Cung cấp các dịch vụ thương mại điện tử hoặc dịch vụ giám sát, đánh giá và chứng thực trong thương mại điện tử khi chưa đăng ký hoặc chưa được cấp phép theo các quy định của Nghị định này;

- Cung cấp các dịch vụ thương mại điện tử hoặc dịch vụ giám sát, đánh giá và chứng thực trong thương mại điện tử không đúng với thông tin trong hồ sơ đăng ký hoặc cấp phép;

- Có hành vi gian dối hoặc cung cấp thông tin sai sự thật khi thực hiện các thủ tục thông báo thiết lập website thương mại điện tử, đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử, đăng ký hoặc xin cấp phép các dịch vụ giám sát, đánh giá và chứng thực trong thương mại điện tử.

- Giả mạo thông tin đăng ký hoặc không tuân thủ các quy định về hình thức, quy cách công bố thông tin đăng ký trên website thương mại điện tử;

- Sử dụng biểu trưng của các chương trình đánh giá tín nhiệm website thương mại điện tử khi chưa được những chương trình này công nhận;

- Sử dụng các đường dẫn, biểu trưng hoặc công nghệ khác trên website thương mại điện tử để gây nhầm lẫn về mối liên hệ với thương nhân, tổ chức, cá nhân khác;

- Sử dụng đường dẫn để cung cấp những thông tin trái ngược hoặc sai lệch so với thông tin được công bố tại khu vực website có gắn đường dẫn này.

- Thực hiện các hành vi lừa đảo khách hàng trên website thương mại điện tử;

- Giả mạo thông tin của thương nhân, tổ chức, cá nhân khác để tham gia hoạt động thương mại điện tử;

- Can thiệp vào hệ điều hành và trình duyệt Internet tại các thiết bị điện tử truy cập vào website nhằm buộc khách hàng lưu lại website trái với ý muốn của mình.

- Đánh cắp, sử dụng, tiết lộ, chuyển nhượng, bán các thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh của thương nhân, tổ chức, cá nhân khác hoặc thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử khi chưa được sự đồng ý của các bên liên quan, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

- Giả mạo hoặc sao chép giao diện website thương mại điện tử của thương nhân, tổ chức, cá nhân khác để kiếm lợi hoặc để gây nhầm lẫn, gây mất lòng tin của khách hàng đối với thương nhân, tổ chức, cá nhân đó.

Như vậy, Công ty Qúy khách có thể liên kết nhiều sàn, liên kết với các sàn thương mại điện tử khác để quảng bá, nhận booking từ khách hàng vì không có quy định cấm nội dung này. Khi mở các sàn giao dịch điện tử, công ty Qúy khách cần tiến hành đăng ký với Bộ công thương theo quy định.

Vấn đề 2: Việc thanh toán tiền có được thực hiện theo hình thức chuyển khoản và thanh toán tiền mặt khi nhận hàng.

Trả lời:

Điều 34 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định:

Điều 34. Thông tin về các phương thức thanh toán

1. Thương nhân, tổ chức, cá nhân phải công bố toàn bộ các phương thức thanh toán áp dụng cho hàng hóa hoặc dịch vụ giới thiệu trên website, kèm theo giải thích rõ ràng, chính xác để khách hàng có thể hiểu và lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp.

2. Nếu website thương mại điện tử có chức năng thanh toán trực tuyến, thương nhân, tổ chức, cá nhân phải thiết lập cơ chế để khách hàng sử dụng chức năng này được rà soát và xác nhận thông tin chi tiết về từng giao dịch thanh toán trước khi thực hiện việc thanh toán.

Website thương mại điện tử có thể thực hiện thanh toán trực tuyến. Tuy nhiên, công ty phải công bố toàn bộ các phương thức thanh toán áp dụng cho hàng hóa hoặc dịch vụ giới thiệu trên website kèm theo giải thích rõ ràng, chính xác để khách hàng có thể hiểu và lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp.

Việc thanh toán tiền mặt khi nhận hàng hoàn toàn có thể thực hiện. Tuy nhiên, việc chuyển phát phải tuân thủ các quy định của Luật bưu chính 2010 và nghị định 47/2011/NĐ-CP hướng dẫn luật bưu chính.

Khoản 5 Điều 2 Nghị định 47/2011/NĐ-CP quy định “Cung ứng dịch vụ bưu chính quốc tế là việc chấp nhận bưu gửi từ Việt Nam để vận chuyển và phát tại nước ngoài hoặc nhận bưu gửi từ nước ngoài về để vận chuyển và phát tại Việt Nam hoặc cả hai chiều.” Do vậy, bên duty free có thể cung cấp, chuyển hàng trực tiếp cho khách hàng từ nước ngoài để phát tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc cung cấp và chuyển hàng phải tuân thủ pháp luật Việt Nam.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềSàn giao dịch thương mại điện tử”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp quy định như thế nào?

Trả lời:

Điều 14 Luật doanh nghiệp 2014 quy định:

Điều 14. Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

1. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có trách nhiệm sau đây:

a) Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;

b) Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

c) Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về việc người đại diện đó và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp chi phối tại các doanh nghiệp khác.

2. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này.

Câu hỏi: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp?

Trả lời:

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Quyền của doanh nghiệp quy định như thế nào?

Trả lời:

Quyền của doanh nghiệp

1. Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm.

2. Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh.

3. Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn.

4. Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng.

5. Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu.

6. Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh.

7. Chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh.

8. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp.

9. Từ chối yêu cầu cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật.

10. Khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

11. Tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

12. Quyền khác theo quy định của luật có liên quan.