1. Khái quát chung

Công ty hợp danh có nhiều đặc điểm liên quan tới thành viên của nó. Đôì vói hình thức công ty này, pháp nhân công ty gắn bó chặt chẽ với tư cách và trách nhiệm của các thành viên. Do đó khi nghiên cứu công ty họp danh không thể không nghiên cứu một cách cụ thể về các thành viên. Trong việc pháp điêh hóa luật thương mại nói chung hay luật công ty nói riêng, nêù cố qui định hình thức công ty họp danh, người ta phải thiết lập qui chế đặc biệt cho thành viên công ty hợp danh.
Thành viên của công ty hợp danh có quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ gì?

2. Điều kiện làm thành viên của công ty hợp danh

Thành viên công ty hợp danh có tư cách thương nhân, có nghĩa là họ phải đáp ứng được các tiêu chuẩn chung liên quan tới thương nhân thể nhân hay thương nhân pháp nhân tương ứng, mà tiêu chuẩn này thường được đưa ra trong qui chế chung về thương nhân. Ở trên đã nói công ty hợp danh thuở ban đầu có bản chất là sự liên kết giữa các thương nhân đơn lẻ. Tuy nhiên với sự can thiệp của rihà nước qua các bộ pháp điển hóa, một người thường, khi tham gia thành lập hoặc gia nhập công ty hợp danh, trở thành thương nhân, có nghĩa là một người khi tham gia thành lập hoặc gia nhập công ty hợp danh không nhất thiết phải là thương nhân, hay việc trở thành thương nhân của người đó là hậu quả của việc tham gia thành lập hoặc gia nhập công ty hợp danh. Do vậy pháp luật nói chung thường yêu cầu những người này phải đáp ứng các tiêu chuẩn vào nghề của thương nhân. Họ phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc trường hợp bị câm trở thành thương nhân (Chẳng hạn như: Đã phạm phải một tội khiến không thể trở thành thương nhân; đang thi hành hình phạt hay chế tài hình sự; đã tham gia quản lý một công ty mà công ty đó bị phá sản; đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người quản lý công ty...), phải công khai hôn sản. Việc công khai hôn sản nhằm bảo đảm cho chê' độ chịu trách nhiệm vô hạn của thương nhân. Luật Doanh nghiệp 2020 và Luật Thương mại 2005 không qui định một cách có hệ thông, đầy đủ và rành mạch các tiêu chuẩn đối vói thương nhân bởi các đạo luật này bị pháp điêh hóa một cách riêng rẽ và không dựa trên một cơ sở lý thuyết nhất định.

3. Trách nhiệm nghĩa vụ của thành viên công ty hợp danh

Các thành viên công ty hợp danh phải chịu trách nhiệm cá nhân, liên đói và vô hạn định đôì với các khoản nợ của công ty hợp danh. Đây là một nguyên tắc pháp định mà các thành viên hợp danh không thể thỏa thuận khác. Nguyên tắc này dẫn tới một hệ luận quan trọng là các chủ nợ của công ty hợp danh được bảo đảm kép, tức là được bảo đảm bằng toàn bộ tài sản của công ty hợp danh và bằng toàn bộ tài sản hiện có hoặc sẽ có trong tương lai của tất cả các thành viên của công ty hợp danh. Tuy nhiên luật phá sản hiện đại đã tính toán tói việc chấm dứt việc trả nợ của thành viên công ty hợp danh tại một thời điểm nhất định với những điều kiện nhất định sau khi công ty hợp danh bị phá sản để thành viên công ty hợp danh bị phá sản có được một khởi đầu mới. Nguyên tắc chịu trách nhiệm liên đói và vô hạn định của thành viên công ty hợp danh không ràng buộc người thứ ba về cam kết của họ miễn trừ hay hạn chế trách nhiệm cho thành viên công ty hợp danh. Tình trạng liên đới chịu trách nhiệm của nguyên tắc này được xem xét dưới hai giác độ: (1) Sự liên đới giữa các thành viên với công ty; và (2) sự liên đới giữa các thành viên với nhau. Thông thường các khoản nợ được thi hành trước hết trên tài sản của công ty hợp danh. Còn các thành viên của công ty hợp danh có vai trò là những người bảo lãnh liên đới cho hoạt động của công ty hợp danh. Tình trạng liên đới giữa họ không có sự khác biệt với tình trạng liên đới thông thường theo qui tắc của luật dân sự.

4. Nguyên tắc trách nhiệm của thành viên công ty hợp danh

Trong nguyên tắc trách nhiệm của thành viên công ty hợp danh có hai trường hợp đặc biệt- đó là: (1) Trách nhiệm của thành viên mới gia nhập công ty hợp danh đôì với các khoản nợ cũ của công ty hợp danh; và (2) trách nhiệm của người đã ra khỏi công ty hợp danh đôi vói các khoản nợ phát sinh trong thời điểm người này còn là thành viên công ty hợp danh.
Việc ra khỏi công ty hợp danh của một thành viên cũng phải đạt được bởi một sự thỏa thuận giữa các thành viên còn lại với thành viên này cũng là một họp đổng giữa các thành viên với nhau, do đó không thể ảnh hưởng tới các chủ nợ. Như vậy việc rút khỏi công ty không được xem là một nguyên nhân châm dứt vai trò bảo lãnh của người rút ra khỏi công ty đối với những khoản nợ phát sinh trong thời kỳ người này vẫn còn là thành viên của công ty hợp danh. Có thể có trường hợp đặc biệt: một thành viên nào đó bị châm dứt tư cách thành viên của công ty hợp danh bởi pháp luật. Trong trường này, thành viên bị châm dứt tư cách đó vẫn phải chịu trách nhiệm về những khoản nợ đã phát sinh khi người này ở trong công ty.
Khi thành viên công ty hợp danh chuyền nhượng phần quyền lợi của mình cho người khác để người này trở thành thành viên của công ty hợp danh, tâ't cả quyền lợi và trách nhiệm được chuyển sang cho người được chuyển nhượng. Đây là trường hợp đặc biệt của việc chuyển nhượng trái quyền, do đó có thể theo qui chế riêng mà không theo qui chế chuyển quyền yêu cẩu và chuyển giao nghĩa vụ trong luật dân sự. Ngày nay sự chuyển giao này được phép phụ thuộc vào điểu lệ của công ty. Quan niệm cũ về công ty hợp danh cho rằng hễ có sự rút khỏi công ty hợp danh của một thành viên bởi bâ't kê’ nguyên nhân gì thì cũng kéo theo sự chấm dứt công ty này. Quan niệm cứng nhắc như vậy không có lợi cho mỗi thành viên và cũng không có lợi cho xã hội. Vì vậy sự thay đổi là cần thiết để duy trì sự tổn tại của công ty họp danh.
Sự gắn bó chặt chẽ giữa thành viên và pháp nhân công ty trong công ty họp danh khiến nhà làm luật phải quan tâm để loại trừ các hành vi có tính cách tư lợi của thành viên công ty hợp danh. Luật Doanh nghiệp 2020 qui định thành viên họp danh không được nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành nghề kinh doanh của công ty mà mình đang là thành viên. Ngoài ra thành viên công ty hợp danh còn có thê’ bị nhà làm luật hạn chế một sô' quyền như không được đồng thời làm chủ doanh nghiệp tư nhân hay thành viên của một công ty họp danh khác và không được chuyển nhượng một phần hay toàn bộ quyền lợi của mình trong công ty hợp danh cho người khác mà không được sự nhất trí của các thành viên của công ty hợp danh mà mình đang làm thành viên. Sự hạn chê' này của nhà làm luật là sự giải thích cho hợp đổng của các thành viên công ty hợp danh khi họ không qui định hoặc qui định không rõ ràng về những trường họp nêu trên. Các qui định này là cần thiết để bảo vệ các lọi ích của các thành viên và của công ty họp danh.

5. Quản trị và vận hành công ty hợp danh

Các thành viên công ty hợp danh là những người hoàn toàn bình đẳng và quan hệ với nhau theo kiểu mỗi trong sô' họ đều là chủ ủy và thụ ủy của nhau. Đây được xem là nêh móng của chế định công ty hợp danh. Chẳng hạn: Công ty hợp danh ABC có ba thành viên là A, B và c mà quan hệ của họ với nhau phải theo cách thức như sau: (i) A là thụ ủy của B và c, có nghĩa là B và c là chủ ủy của A; (ii) B là thụ ủy của A và c, có nghĩa là A và c là chủ ủy của B; (iii) c là thụ ủy của A và B, có nghĩa là A và B là chủ ủy của c. Như vậy về nguyên tắc họ hoàn toàn phải quyết định vân đề theo nguyên tắc nhất trí. Mỗi người trong sô' họ đều có quyền phủ quyết. Tuy nhiên họ có thể thống nhất lựa chọn ra người quản lý công ty mà người này có thê’ là một người không phải là thành viên của công ty hoặc là một thành viên công ty. Lưu ý rằng khi một người không phải là thành viên công ty được chọn làm người quản lý công ty hợp danh thì người này có quyền đại diện cho công ty hợp danh nhưng không có tư cách thương nhân.
Công ty hợp danh mang bản châ't hợp đổng sâu sắc. Do đó nêù họp đổng thiết lập công ty họp danh không qui định ai là người quản lý công ty thì mỗi thành viên công ty đều là người quản lý công ty. Và họ phải quyết định theo nguyên tắc nhất trí. Tuy nhiên hiện nay nguyên tắc này bị điều giảm. Trường hợp người quản lý công ty bị chê't mà các thành viên không nhất trí được việc chỉ định một người quản lý mới thì họ cũng phải hành xử với nguyên tắc này.
Nếu họp đổng thành lập công ty hợp danh đã âh định sẵn một thành viên công ty làm quản lý công ty thì các thành viên công ty không thể quyết định châm dứt được chức vụ quản lý này bởi nó là một điểu kiện của hợp đồng thành lập công ty mà người quản lý công ty đã tham gia giao kết nó. Việc hủy bỏ điều kiện đó của họp đổng phải có lý do chính đáng và phải được tòa án ra phán quyê't. Tuy nhiên các qui tắc này không áp dụng cho người quản lý công ty mà không phải là thành viên công ty mặc dù chức vụ của người này đã được ân định trong hợp đồng thành lập công ty bởi bản thân người này không tham gia giao kết hợp đổng thành lập công ty đó và điều khoản thiết lập chức vụ của người này không phải là điều kiện hợp thành hợp đồng thành lập công ty mà chỉ là điều khoản ủy quyêh gắn vào hợp đồng thành lập công ty. Người quản lý mà là thành viên công ty không thể đơn phương chấm dứt chức vụ của mình. Nhưng người quản lý mà không phải là thành viên công ty có thể đơn phương châm dứt chức vụ của mình.
Các qui tắc cơ bản về quản trị công ty hợp danh cho thâý cơ câù quản trị có hai định chế quan trọng- đó là hội đổng thành viên và người quản lý công ty. Ngày nay người ta thường duy trì một qui chế tương đối mềm mỏng đối với quản trị công ty hợp danh để bảo đảm cho nó hoạt động một cách linh động và có hiệu quả. Luật Doanh nghiệp 2020 cũng đi theo khuynh hướng đó, tuy nhiên không thê’ coi đó là hoàn thiện.
Hội đồng thành viên là nơi tập họp của tất cả các thành viên của công ty hợp danh. Việc hoạt động của hội đổng này hoàn toàn lệ thuộc vào hợp đồng thành lập công ty hay điều lệ công ty. Luật Doanh nghiệp 2020 đã can thiệp khá sâu vào vẩh đề quản trị công ty hợp danh bằng cách qui định dứt khoát về việc hội đồng thành viên phải bầu ra một thành viên làm chủ tịch hội đổng thành viên giống với mô hình quản trị công ty trách nhiệm hữu hạn mà đạo luật này tạo dựng nên, và vị chủ tịch này kiêm giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty họp danh nêù Điều lệ công ty không qui định khác. Đạo luật này cũng xông thẳng vào các vâh đề vận hành cụ thê’ của công ty họp danh bằng cách, nêù điều lệ công ty không qui định khác, tuyên bô' một tỷ lệ 3/4 tổng sô' thành viên tán thành đê’ giải quyết các vâh đề lớn của công ty như: Phương hướng phát triêh công ty; sửa đổi, bổ sung điểu lệ công ty; kết nạp thành viên mới; cho thành viên hợp danh rút khỏi công ty hoặc khai trừ thành viên; quyết định các dự án đầu tư; quyết định vay, huy động vốn; cho vay với giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ của công ty; quyết định thông qua báo cáo tài chính hàng năm, tổng số lợi nhuận được chia và số lợi nhuận chia cho từng thành viên; giải thế công ty.... Việc định ra một tỷ lệ phần trăm phiếu bầu cho việc ra các quyết định của công ty hợp danh không phải là xa lạ. Song việc qui định quá cụ thể về các vâh đề lớn mà có thê’ được quyết định vói tỷ lệ đó là hiếm thâỳ.
Mỗi thành viên công ty hợp danh theo nguyên lý đều có quyền góp ý và kiểm soát việc quản lý công ty. Người quản lý công ty được hưởng thù lao từ việc thực hiện chức năng của người quản lý. Thông thường khoản thù lao này được ân định rõ trong điều lệ công ty hay trong một nghị quyết được thông qua bởi các thành viên công ty.
Việc chia lãi cho các thành viên công ty được qui định trong điều lệ công ty. Nếu không có qui định như vậy, thì chia lãi theo qui định của pháp luật theo nguyên tắc khoản lãi được chia tương ứng vói tỷ lệ phần lợi của mỗi thành viên trong công ty.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê