Các thoả thuận họp tác giữa các doanh nghiệp để nghiên cứu ứng dụng khoa học kĩ thuật hoặc các thoả thuận họp tác để chia sẻ rủi ro, tiết kiệm chi phí, chia sẻ bí quyết kĩ thuật thúc đẩy đổi mới nhanh là những thoả thuận có thể đem lại lợi ích đáng kể cho toàn bộ nền kinh tế.

Bên cạnh một số thoả thuận thúc đẩy cạnh tranh thì vì mục tiêu lợi nhuận, các doanh nghiệp sẽ tìm cách thực hiện chiến lược kinh doanh hợp tác với nhau để không phải cạnh tranh và có thể áp đặt lên người tiêu dùng các mức giá có lợi cho doanh nghiệp và áp đặt lên các đối tác mức giá thực chất cao hơn “giá thị trường”. Các thoả thuận như vậy làm giảm sức ép cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh và là những thoả thuận hạn chế cạnh tranh gây phương hại tới lợi ích của nền kinh tế cũng như người tiêu dùng.

Trong kinh tế học, hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh được nhìn nhận là sự thống nhất cùng hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh.

Về mặt kinh tế, thoả thuận hạn chế cạnh tranh thể hiện tình trạng độc quyền nhóm do các doanh nghiệp đạt được bằng cách liên kết với nhau để kiểm soát thị trường. Loại hình liên kết cổ điển và cũng phổ biến nhất là các bên cùng nhau ấn định giá và các yếu tố hình thành giá với mục đích ngăn cản sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới. Hậu quả tiêu cực nhất của liên kết này là người tiêu dùng không được hưởng lợi từ sự cạnh tranh lành mạnh về giá cả trên thị trường mà đáng lẽ họ phải được hưởng nếu không có thoả thuận ấn định giá giữa các doanh nghiệp.

Trên thế giới, một số thoả thuận hạn chế cạnh tranh được thiết chế hoá thành các tổ chức xuyên quốc gia như OPEC (Tổ chức các nhà xuất khẩu dầu lừa) hoặc De Beers (Tổ chức các nhà xuất khẩu kim cương), theo đó hành vi thoả thuận ấn định giá của các thành viên trong tổ chức được coi là điều hoàn toàn bình thường và cần thiết trong khuôn khổ các tổ chức này. Mặt khác, chủ thể tham gia tổ chức OPEC hay DeBeers là các quốc gia nên không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật cạnh tranh.

Nghiên cứu lịch sử phát triển luật cạnh tranh trên thế giới cho thấy quy định về thoả thuận hạn chế cạnh tranh xuất hiện đầu tiên trong Luật cạnh tranh của Hoa Kỳ (section 1 của đạo luật Sherman năm 1890), theo đó:

"Mọi hợp đồng, liên kết dưới hình thức độc quyền hoặc theo phương thức khác, nhằm hạn che trao đổi hoặc thương mại giữa các bang với nhau hoặc với các quốc gia khác, đều bị coi là bất hợp pháp".

Ở châu Âu, thoả thuận hạn chế cạnh tranh được quy định tại Điều 81 (Điều 85 cũ) của Hiệp ước Rome về thành lập cộng đồng chung châu Âu năm 1957 (hiện nay là Điều 101 TFEU sau Hiệp ước Lisbon), theo đó:

"Mọi thoả thuận giữa các doanh nghiệp, mọi quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và mọi hành vi liên kết khác có thể ảnh hưởng đến trao đỗi thương mại giữa các nước thành viên và có đối tượng hoặc hệ quả ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch quy luật cạnh tranh trong thị trường của liên minh, đều bị coi là đi ngược lại với mục đích thành lập thị trường chung và bị cấm, đặc biệt là các hành vì: ấn định một cách trực tiếp hoặc gián tiếp giá bárứmua hoặc các điều kiện giao dịch khác; hạn chế hoặc kiểm soát sản xuăt, thị trường, tiến bộ kĩ thuật hoặc đầu tư; phân chia thị trường hoặc các nguồn cung cấp; áp dụng, đối với các đối tác thương mại, các điều kiện mang tính phân biệt đối xử đổi với các giao dịch tương đương gây thiệt hại cho đoi tác trong cạnh tranh; buộc bên giao kết hợp đồng phải chấp nhận các điều kiện thương mại bổ sung mà xét về bản chất hoặc theo tập quán thương mại, không liên quan đến đối tượng của hợp đồng".

Điều 4 Luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ quy định: Mọi thoả thuận, hành vi cấu kết của các doanh nghiệp, các quyết định và hành vi của các hiệp hội doanh nghiệp có tác động hoặc cố ảnh hưởng gây kìm hãm, bóp méo hoặc hạn chế cạnh tranh trên thị trường hàng hoá hoặc dịch vụ một cách trực tiếp hay gián tiếp đều bị cấm.

Như vậy, từ phạm trù kinh tế, thoả thuận hạn chế cạnh tranh đã được thể chế hoá vào luật cạnh tranh của các nước.

Luật cạnh tranh năm 2018 của Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, theo đó:

>> Xem thêm:  Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có vi phạm luật sở hữu trí tuệ không ?

“Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh”.

Bên cạnh việc đưa ra khái niệm về “thỏa thuận hạn chế canh tranh”, Luật cạnh tranh còn liệt kê các thoả thuận bị coi là thoả thuận hạn chế cạnh tranh. Theo Điều 11 Luật cạnh tranh năm 2018, các thoả thuận hạn chế cạnh tranh gồm:

- Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;

- Thoả thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;

- Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán, hàng hoá, cung ứng dịch vụ;

- Thỏa thuận để một hoặc các bên tham gia thoả thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ.

- Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;

- Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thoả thuận;

- Thoả thuận hạn chế phát triển kĩ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;

- Thoả thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện kí kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của họp đồng;

- Thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận;

>> Xem thêm:  Điều tra vụ việc cạnh tranh theo thủ tục tố tụng cạnh tranh ?

- Thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp hàng hóa cung ứng dịch vụ của các bên không tham gia thỏa thuận;

- Thỏa thuận khác gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh.

Như vậy, quy định về thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo Luật cạnh tranh Việt Nam là một quy định mở, tức là các thoả thuận hợp tác khác tuy không được quy định cụ thể trong luật nhưng vẫn có thể bị cấm nếu gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường. Cách tiếp cận này có ưu điểm là đảm bảo tính linh hoạt của pháp luật cạnh tranh trước sự thay đổi không ngừng của các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, quy định như vậy cũng có thể dẫn đến lúng túng trong áp dụng pháp luật đối với các vụ việc cụ thể.

Dưới giác độ nghiên cứu trong khoa học pháp lí có thể hiểu: "Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất ý chí của từ 2 chủ thể kinh doanh trở lên được thể hiện dưới bất kì hình thức nào, có hậu quả làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường".

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật cạnh tranh, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại.

Trân trọng./.

Công ty luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Nhiệm vụ, quyền hạn thủ trưởng, cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ?