1. Thời điểm mở thừa kế là gì ?

Khái niệm thời điểm mở thừa kế được hiểu là thời điểm bắt đầu phát sinh quan hệ thừa kế.

Thời điểm mở thừa kế được xác định là thời điểm người có tài sản chết hoặc thời điểm Tòa án tuyên người có tài sản là đã chết.

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm để xác định những người thừa kế: người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, người đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế và sinh ra còn sống, người thừa kế là cơ quan, tổ chức phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có quyền, nghĩa vụ của người chết để lại.

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm xác định di sản thừa kế của người chết để lại, là thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Thủ tục giải quyết thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật ?

Kinh gửi Luật sư LÊ MINH TRƯỜNG. Vấn đề này do tính chất tế nhị của nó, nên tôi xin phép luật sư không gửi vào trang mạng của Công ty, mà gửi theo địa chỉ mail riêng của Luật sư. Tôi VŨ HÀ NỘI, 86 tuổi, là người thừa kế thuộc hàng thứ nhất và duy nhất còn sống sót căn nhà của bố mẹ tôi để lại. Nay tôi đã cao tuổi muốn khởi kiện đòi nhà để chia cho các hàng thừa kế thế vị.
Kính hỏi Luật sư: Để khởi kiện tôi có cần thiết phải được uỷ quyền của các cháu thuộc hàng thừa kế thế vị không?
Rất mong được Luật sư hồi âm. Chân thành cảm ơn

Luật sư tư vấn:

Thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 Bộ luật dân sự năm 2005:

"Điều 677. Thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống."

Từ quy định trên cho thấy con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu được hưởng nếu còn sống.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi nay đã 86 tuổi muốn khởi kiện để đòi lại càn nhà bố mẹ tôi cho thuê. Tôi là thừa kế thuộc hàng thứ nhất và duy nhất còn sống. Xin cho biết các cháu tôi thuộc hàng thừa kế thế vị rât đông trên dưới 50 có cần phải làm giấy ủy quyền cho tôi trong hồ sơ khởi kiện hay không? Chân thành cám ơn và mong được hồi âm ?

=> Như chúng tôi đã trình bày ở trên thì nếu bác cũng là người thừa kế theo quy định của pháp luật thì bác có quyền tự mình làm đơn khởi kiện. Còn nếu các cháu cũng muốn khởi kiện để đòi quyền thừa kế thì bác và các cháu đều là nguyên đơn trong đơn khởi kiện.

Thưa luật sư, luật sư cho tôi hỏi về thủ tục tách sổ đỏ cho gia đình tôi, hiện tại cả gia đình tôi đang ở 1 mảnh đất 210m2 và có sổ đỏ là sổ chung do bà nội tôi đứng tên, giờ gia đình tôi muốn tách làm 4 sổ thì thủ tục như thế nào? Hộ khẩu cũ của bà tôi gồm 11 người thì có 3 người con đứng tên 3 sổ, bà tôi đứng tên 1 sổ. Cám ơn luật sư

=> Trình tự, thủ tục thực hiện tách thửa được quy định tại Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013:

''1. Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị tách thửa hoặc hợp thửa.

2. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

a) Đo đạc địa chính để chia tách thửa đất;

b) Lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất đối với thửa đất mới tách, hợp thửa;

c) Chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.

3. Trường hợp tách thửa do chuyển quyền sử dụng một phần thửa đất hoặc do giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, đấu giá đất hoặc do chia tách hộ gia đình, nhóm người sử dụng đất; do xử lý hợp đồng thế chấp, góp vốn, kê biên bán đấu giá quyền sử dụng đất để thi hành án (sau đây gọi là chuyển quyền) thì Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các công việc sau:

a) Đo đạc địa chính để chia tách thửa đất;

b) Thực hiện thủ tục đăng ký biến động theo quy định tại Nghị định này đối với phần diện tích chuyển quyền; đồng thời xác nhận thay đổi vào Giấy chứng nhận đã cấp hoặc trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần diện tích còn lại của thửa đất không chuyển quyền; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao cho người sử dụng đất hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.

4. Trường hợp tách thửa do Nhà nước thu hồi một phần thửa đất thì cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm chỉ đạo Văn phòng đăng ký đất đai căn cứ quyết định thu hồi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các công việc sau:

a) Đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai;

b) Xác nhận thay đổi vào Giấy chứng nhận đã cấp và trao cho người sử dụng đất hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.’’

Thưa luật sư, xin hỏi: Bố mẹ tôi có 2 mảnh đất ở, lúc bố mẹ tôi còn sống và minh mẫn có tặng cho 2 anh em tôi mỗi người 1 mảnh đất ở, khi đó anh trai tôi đã làm thủ tục sang tên bìa đỏ từ tên bố mẹ tôi sang tên anh tôi 1 mảnh đất ở mà bố mẹ tôi cho tặng. Còn tôi khi đó bận công tác và cũng chỉ nghĩ đơn giản rằng bố mẹ tôi đã nói là tặng cho hai anh em mỗi người 1 mảnh đất ở rồi thì yên tâm nên cũng không sang tên bìa đỏ cho mình (lúc đó tôi cùng sống với bố mẹ trên mảnh đất đó, còn vợ chồng anh trai tôi sinh sống trên mảnh đất thứ 2 mà bố mẹ tôi đã cho tặng). Đến khi bố mẹ tôi mất, vợ chồng anh trai tôi quay ra đòi thừa kế mảnh đất mà bố mẹ tôi đã tặng cho tôi. Rất mong Công ty Luật Minh Khuê tư vấn giúp ai đúng, ai sai và cách giải quyết như thế nào?

=> Nếu bố mẹ bạn trước khi mất đã cho bạn mảnh đất nhưng chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu bạn có bằng chứng chứng minh việc bố mẹ bạn đã cho tặng quyền sử dụng đất cho bạn thì anh bạn không có quyền đòi chia thừa kế. Nếu không có bằng chứng để chứng minh thì mảnh đất bạn đang ở được coi là di sản thửa kế của bố mẹ bạn, anh bạn vẫn được hưởng theo hàng thừa kế được quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Thưa luật sư, xin Luật sư mình hỏi. Phụ nữ không chồng có 2 người con trai. Con trai đầu 24 tuổi, con thứ 2 17 tuổi. Mẹ có đất và nhà muốn cầm ngân hàng với thế chấp sổ đỏ. Do người con không về ký người thừa kế gì đó. Nên không vay được ngân hàng. Luật sư cho em hỏi trường hợp vậy phải làm sao để vẫn có thể dùng sổ đỏ vay ngân hàng mà không cần người thừa kế ký. Cảm ơn luật sư.

=> Vì thông tin bạn đưa ra tư vấn không rõ rằng, chúng tôi chưa xác định được người để lại di sản thừa kế là ai. Đất là sở hữu chung của mẹ và con do đều là thừa kế cung mà giờ muốn thế chấp phần di sản mà mình được nhận thì có thể làm thủ tục khai nhận di sản tại Văn phòng công chứng mà không cần phân chia di sản theo quy định tại Điều 58 Luật công chứng năm 2014:

"Điều 58. Công chứng văn bản khai nhận di sản

1. Người duy nhất được hưởng di sản theo pháp luật hoặc những người cùng được hưởng di sản theo pháp luật nhưng thỏa thuận không phân chia di sản đó có quyền yêu cầu công chứng văn bản khai nhận di sản.

2. Việc công chứng văn bản khai nhận di sản được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 57 của Luật này.

3. Chính phủ quy định chi tiết thủ tục niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Có được ưu tiên mua đất của người cùng hàng thừa kế không ?

Thưa Luật sư, Ông bà nội tôi có 3 người con trai, bố tôi là con thứ 2 nhưng ở chung với ông bà, còn chú và bác tôi ở xa lâu lâu mới về. Ông bà tôi sở hữu thửa đất ngang 16m dài 30m.
Năm 2006, ông nội tôi mất không để lại di chúc. Sau đó có chủ trương của Nhà nước đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) thì bố tôi có làm thủ tục đổi sổ đỏ mới chỉ đứng tên mình bà nội tôi là chủ sở hữu. Đầu năm 2015 thì chú và bác về đòi chia đất đai của ông bà tôi. Theo thỏa thuận đạt được của bố tôi với chú, bác tôi và sự đồng ý của bà nội tôi thì mảnh đất đó sẽ được chia làm 4 phần bằng nhau cho 4 người: bà tôi,bố tôi, bác, chú tôi.
Nguyện vọng của bà nội tôi là sẽ để lại phần đất thuộc sở hữu của bà cho em trai tôi.Xin hỏi Luật sư một số câu hỏi sau:
1.Nếu chú, bác tôi bán phần đất được thừa kế của mình thì bố tôi được quyền ưu tiên mua khi nào và bị mất quyền ưu tiên mua khi nào?
2. Bà nội tôi có thể làm hợp đồng tặng cho 1 phần đất của bà cho em trai tôi được không hay bắt buộc bà phải làm di chúc để lại thừa kế?
Người hỏi: V.T.H

Trả lời:

- Vấn đề thứ nhất: Khi quyền sử dụng đất là của chú, bác bạn ( tức là bà bạn đã làm thủ tục sang tên cho 2 người) thì chú và bác bạn có toàn quyền sử dụng, mua bán, tặng cho,.. không vi phạm pháp luật mà không phải hỏi ý kiến bố bạn có mua trước hay không. Không có quy phạm pháp luật nào quy định sau khi chia di sản thừa kế, nếu muốn bán tài sản thừa kế của mình phải ưu tiên hỏi người cùng hàng thừa kế trước khi rao bán.

- Vấn đề hai: Theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành thì hợp đồng tặng, cho là sự thỏa thuận giữa các bên. Theo đó, bên tặng giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng đồng ý nhận.

Theo Điều 465, Điều 467 Bộ luật dân sự năm 2005 thì trường hợp tặng, cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký quyền sở hữu. Hợp đồng tặng, cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng, cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

Trường hợp bà của các bạn chỉ cần lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, và hợp đồng có công chứng; mặt khác em bạn làm thủ tục sang tên đổi chủ. Như vậy, hợp đồng tặng, cho từ bà của các bạn sẽ có hiệu lực pháp luật.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Tổng đài tư vấn luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7: 1900.6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng!

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Xử lý tranh chấp về chia thừa kế như thế nào ?

Thưa Luật sư! Bố chồng tôi có 3 người con trai, một người đã chết (đi ở rể). Di chúc bố chồng tôi để lại chỉ chia đất cho 2 người con trai còn sống. Tuy nhiên, chị dâu tôi (vợ của người đã chết) đòi chia đất và không cho gia đình tôi làm sổ đỏ.
Hiện tại mẹ chồng tôi vẫn còn sống và ở với gia đình chúng tôi mảnh đất ở hiện tại được chia cho tôi và anh trai tôi. Xin hỏi nếu xảy ra tranh chấp thì sẽ như thế nào? (di chúc tôi mang ra thì được cho là không có hiệu lực vì không có dấu công chứng của địa phương).
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tranh chấp về chia thừa kế: Khi di chúc chỉ chia tài sản cho người còn sống ?

Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 quy định:

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

Như vậy, đúng là di chúc của bố bạn vô hiệu vì không được công chứng, chứng thực. Di sản thừa kế của bố bạn (cả mảnh đất hoặc 1/2 mảnh đất tùy thuộc vào mảnh đất đó là tài sản chung vợ chồng hay tài sản riêng của bố bạn) sẽ được chia theo pháp luật.

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật :

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo quy định trên, người được hưởng thừa kế theo pháp luật sẽ là mẹ chồng bạn và 3 người con ruột, mỗi người sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau. Tuy nhiên, một người con đã chết trước thời điểm với người để di sản (bố chồng bạn), do đó phần di sản đáng lẽ ra người này được hưởng nếu còn sống sẽ được chuyển cho con người đó (tức cháu nội của người để di sản) theo Điều 677 về thừa kế thế vị. Như vậy, con dâu không thuộc diện thừa kế thứ nhất cũng không phải đối tượng được nhận phần thừa kế mà chồng đã chết đáng lẽ được hưởng, do đó không có quyền gì trong việc đòi chia đất và làm sổ đỏ.

Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia (Điều 685 Bộ luật dân sự năm 2005 (văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015))

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Không có tên trong di chúc có được kiện đòi tài sản thừa kế ?

Kính gửi Công ty Luật Minh Khuê! Tôi có câu hỏi xin được giải đáp: Mẹ tôi mất năm 2009, trước đó bà có để lại bản di chúc có người làm chứng là ngôi nhà đang ở cho các con nhưng không có dấu hay công chứng của pháp luật ( bản di chúc được làm lúc minh mẫn), bố của tôi đã bỏ gia đình và không có trách nhiệm gì với vợ con suốt 20 năm và khi mẹ tôi mất cũng không về. Ngôi nhà có tên sổ đỏ của mẹ tôi, bây giờ bố tôi khởi kiện đòi chia tài sản thừa kế ngôi nhà đó.
Vậy tôi nhờ Công ty Luật tư vấn giúp tôi là nếu chia theo pháp luật thì ngôi nhà đó sẽ chia như thế nào ạ? Tôi được biết là hàng thừa kế đầu tiên sẽ chia đều như nhau có đúng không ạ? ( tức là theo tôi hiểu thì nhà có 6 người trong đó chồng và 5 người con thì sẽ chia ra làm 6 phần bằng nhau đúng không ạ?).
Xin chân thành cảm ơn luật sư!

Không có tên trong di chúc có được kiện đòi tài sản thừa kế ?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn

Điều 652- Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 quy định:

"1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực."

Theo đó, di chúc của mẹ bạn là hợp pháp, di sản thừa kế sẽ được chia theo di chúc đó. Tuy nhiên, theo Điều 669- BLDS 2005 :

" Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tài khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

Theo quy định nêu trên, dù bố bạn không có tên trong danh sách hưởng di sản thừa kế trong di chúc, nhưng nếu bố bạn không từ chối nhận di sản theo Điều 642 và không thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 thì bố bạn sẽ được hưởng di sản, nhưng phần tài sản mà bố bạn được hưởng chỉ bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, tức là bằng 2/3 suất của mỗi anh em bạn. Như vậy mặc dù bố bạn và các bạn đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất, nhưng di sản thừa kế sẽ không chia thành 6 phần bằng nhau.

Tài sản thừa kế là ngôi nhà mẹ bạn đứng tên sổ đỏ, tức mẹ bạn là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nơi có ngôi nhà là tài sản gắn liền với đất. Di chúc không nói rõ phần tài sản mỗi người được nhận, nên các bạn có thể tự thỏa thuận với nhau. Về bố bạn, phần mà ông được hưởng sẽ tương ứng với 2/3 suất của mỗi bạn nếu chia theo Pháp luật. Để xác định phần tài sản đó, bạn cần xác định giá trị thực tế của ngôi nhà, sau đó chia đều cho số người thừa kế theo pháp luật, trong trường hợp của bạn là 6, rồi lấy kết quả đó nhân 2/3 là ra phần tài sản mà bố bạn được nhận.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?