1. Cách tính thời gian thử việc theo luật ?

Chào Luật sư, xin hỏi: Tôi hiện làm bên nhân sự của công ty X, vừa rồi có một người lao động hết hạn hợp đồng nên chúng tôi đã chốt và trả sổ bảo hiểm xã hội, các khoản tiền lương cho người lao động. Người này đã lao động cho công ty từ tháng 1/2015 đến tháng 1/2017 và công ty có đóng bảo hiểm đầy đủ cho họ (Chỉ có 2 tháng thử việc không đóng bảo hiểm ).
Ngoài các khoản tiền lương trong tháng họ yêu cầu chúng tôi chi trả thêm trợ cấp thôi việc cho 2 tháng không đóng bảo hiểm. Không biết 2 tháng thử việc này có được tính để hưởng trợ cấp thôi việc không ạ ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Điều 48 Luật lao động năm 2012 về trợ cấp thôi việc như sau:

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc

Đồng thời tại khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định như sau:

3. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.

Như vậy, theo quy định nêu trên thời gian để tính thời gian chi trả trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Thời gian thử việc cũng được tính là thời gian làm việc thực tế để hưởng trợ cấp thất nghiệp. Đối chiếu với trường hơp của bạn, khoảng thời gian người lao động thực hiện hợp đồng thử việc không được công ty tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Vì vậy, khoảng thời gian này sẽ được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp. Vì thời gian được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động là 2 tháng cho nên sẽ được tính bằng 1/2 năm ( điểm c khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ).

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật lao động thời gian thử việc trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

2. Đã ký hợp đồng thử việc thì có được tiếp tục được hưởng trợ cấp thất nghiệp

Chào Luật sư. Tôi được nhận trợ cấp thất nghiệp 6 tháng. Hiện nay mới hưởng được 3 tháng, nhưng tôi có xin được vào 1 công ty. Thời gian thử việc 2 tháng có ký hợp đồng thử việc. Như vậy, tôi có được tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp của 3 tháng còn lại không ạ?
Xin cảm ơn!

Trả lời

Điểm b khỏan 1 Điều 21 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định:

Điều 21. Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Các trường hợp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:

a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động;

b) Có việc làm

Người lao động được xác định là có việc làm thuộc một trong các trường hợp sau:

- Đã giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ đủ 03 tháng trở lên. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc có hiệu lực theo quy định của pháp luật;

- Có quyết định tuyển dụng đối với những trường hợp không thuộc đối tượng giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Ngày có việc làm trong trường hợp này được xác định là ngày bắt đầu làm việc của người đó ghi trong quyết định tuyển dụng;

- Người lao động thông báo đã có việc làm cho trung tâm dịch vụ việc làm theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày ghi trong thông báo có việc làm của người lao động.

Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật lao động 2012 thì Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây: Hợp đồng lao động không xác định thời hạn; Hợp đồng lao động xác định thời hạn; Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Như vậy, hợp đồng thử việc không phải một loại hợp đồng lao động. Cho nên việc bạn ký kết hợp đồng thử việc không làm chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp. Trong thời gian thử việc bạn vẫn được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định pháp luật.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

3. Có thể kiện công ty khi vi phạm quy định về thử việc không ?

Chào Luật Sư! Em đang gặp một số khó khăn trong công việc liên quan đến tranh chấp lao động, em mong nhận được sự hỗ trợ của luật sư. Em chân thành cảm ơn. Nội dung: Em sinh năm 1993 tốt nghiệp CĐ, tháng 12/2015 có có xin vào làm việc trong một công ty chuyên về dịch vụ ăn uống, trong thư mời nhận việc thì chức vụ của em là nhân viên hành chính nhân sự.
Công việc cụ thể của em là nhân viên tuyển dụng, mức lương thử việc là 4 triệu thử việc trong vòng 60 ngày, hết thời gian thử việc mức lương sẽ được thỏa thuận theo năng lực. Theo như thỏa thuận thì đến ngày 8/2/2016 là em hết thời gian thử việc, do thời gian đó là nghỉ tết nên em chưa được đánh giá để ký HĐLĐ. Sau thời gian nghỉ tết khoảng đầu tháng 3 thì em có làm một báo cáo thử việc gửi cho trưởng phòng nhân sự. Kết quả là trưởng phòng nhân sự đánh giá em không đạt yêu cầu trong mảng tuyển dụng do lúc đó bộ phận C&B đang thiếu nhân sự nên em được điều chuyển qua bộ phận C&B làm việc và thử thách trong vòng 2 tháng kể từ ngày 12/3/2016.
Cho đến đầu tháng 7 em vẫn làm việc ở bộ phận C&B do làm việc quá lâu mà em chưa được ký HĐLĐ và không được tăng lương nên các chị đồng nghiệp có hướng dẫn em làm thêm 1 báo cáo thử việc nữa. Ngày 2/7/2016 em tiếp tục làm báo cáo thử việc, kết quả đánh giá là em không đạt yêu cầu ở bộ phận C&B và công ty chấm dứt thời gian thử việc với em, trong khi đó trong thời gian làm việc em không bị vi phạm kỷ luật gì. Trong công việc có sai sót nhưng không ảnh hưởng đến tiến độ công việc, chỉ có điều em không được thuận với team leader hay cãi nhau với sếp, do đó em không đồng ý với đánh giá trên của P. NS. Sau đó P. NS mới thay đổi ý kiến đánh giá em năng lực còn yếu trong tương lai không thể tiếp tục đảm nhận công việc, nên quyết định chấm dứt HĐLĐ với em trước thời hạn và bồi thường cho em 1 tháng tiền lương, em không đồng ý thì P.NS vẫn kiên quyết chấm dứt HĐLĐ với em trước thời hạn và báo trước cho em 30 ngày làm việc kể từ ngày 2/7/2016. Tất cả nội dung trên điều được lập thành biên bản. Luật sư cho em hỏi trường hợp trên là công ty có đang sa thải người lao động trái pháp luật không và sau này em được phép kiện công ty hay không ?
Mong nhận được phản hồi từ phía luật sư. Em chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 27 Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 quy định về thời gian thử việc như sau:

"Điều 27. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác."

"Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận."

Điều 7 Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung Bộ luật Lao động quy định:

"Điều 7. Thông báo kết quả về việc làm thử

1. Trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động,người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

2. Khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động."

Theo quy định của pháp luật thì thời gian thử việc không được quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động. Luật lao động không thừa nhận việc gia hạn thêm thời gian thử việc trong trường hợp thử việc không đạt yêu cầu, cho dù hai bên người lao động và người sử dụng lao động đều đồng ý.

Như vậy, đối với 1 công việc chỉ được thử việc 1 lần. Sau khi bạn kết thúc đợt thử việc 2 tháng, lúc này công ty sẽ giao kết hợp đồng với bạn khi nếu bạn đạt yêu cầu và có quyền hủy bỏ thỏa thuận thử việc bất cứ lúc nào. Trường hợp bạn thử việc không đạt yêu cầu thì trong thời hạn 3 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc 2 tháng, công ty sẽ thông báo bạn không đạt yêu cầu thử việc và bạn sẽ không tiếp tục thử việc nữa. Việc công ty quy định thời gian thử việc đối với vị trí công việc thứ hai của bạn là từ ngày 12/3/2016 đến ngày 2/7/2016, là đã gần 4 tháng( quá thời hạn 2 tháng theo quy định). Như vậy trong trường hợp này công ty đã vi phạm quy định của pháp luật về thời gian thử việc. Và công ty sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định 88/2015/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp vi phạm quy định về thử việc như sau:

5. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau:

“Điều 6. Vi phạm quy định về thử việc

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng laođộng khi có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu thử việc đối với người laođộng làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ;

b) Không thông báo kết quả công việcngười lao động đã làm thử theo quy định của pháp luật.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người lao động thử việcquá 01 lần đối với một công việc;

b) Thử việc quá thời gian quy định;

c) Trả lương cho người lao động trongthời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việcđó;

d) Kết thúc thời gian thử việc, ngườilao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động không giao kết hợp đồnglao động với người lao động.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc trả đủ 100% tiền lương của công việc đó cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 1,Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này.”

Như vậy trường hợp của bạn, do công ty đã vi phạm quy định của pháp luật về thời gian thử việc. Theo đó, công ty này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm b và điểm d khoản 2 với mức phạt là phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng và bị buộc trả đủ 100% tiền lương của công việc đó cho bạn.

Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

"Điều 186. Quyền khởi kiện vụ án

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình."

Như vậy, trong trường hợp bạn cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị công ty xâm phạm. Thì bạn có quyền khởi kiện công ty đó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bạn làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi đặt trụ sở chính của công ty để yêu cầu giải quyết.

Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

"Điều 32. Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định đó hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết.

3. Tranh chấp liên quan đến lao động bao gồm:

a) Tranh chấp về học nghề, tập nghề;

b) Tranh chấp về cho thuê lại lao động;

c) Tranh chấp về quyền công đoàn, kinh phí công đoàn;

d) Tranh chấp về an toàn lao động, vệ sinh lao động.

4. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp.

5. Các tranh chấp khác về lao động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

4. Quyền Lợi của người lao động mang thai sau thời gian thử việc mà chưa được ký hợp đồng ?

Chào Luật sư! Tôi xin hỏi luật sư 1 vài vấn đề như sau, xin nhờ Luật sư tư vấn và giải đáp giúp ạ.

1. Tôi đang làm cho 1 công ty tư nhân TNHH với thời hạn thử việc theo thỏa thuận là 2 tháng từ ngày 23/7/2015 đến 23/9/2015. Nhưng đến nay đã hơn 1 tháng, dù có đề cập đến vấn đề tăng lương và ký hợp đồng chính thức nhưng anh, chị giám đốc vẫn lờ đi và thoái thác trả lời. Đến nay 21/10/2015 tôi nhận được thông báo đề nghị hoàn thành công việc mà không thuộc trách nhiệm của mình đồng thời lấy kết quả đó để đánh giá việc ký hợp đồng lao động sau ngày 31/10/2015. Như vậy xin hỏi Luật sư, tôi cần làm gì trong trường hợp này???

2. Tuy trong thời gian thử việc đã qua, nhưng chưa được ký HĐ chính thức thì hiện nay 21/10/2015 tôi lại có thai 7 tuần (do bị hiếm muộn, có 1 thời gian chạy chữa nhưng không có kết quả, thời gian thử việc tôi không đi chữa bệnh nữa thì bất ngờ có thai, chỉ phát hiện khi thai được 6 tuần). Vậy xin hỏi Luật sư, tôi có được hưởng chế độ gì từ công ty không, dù chưa có hợp đồng nhưng công ty có thể cho tôi thôi việc không?

Xin nhờ Luật sư giải đáp và tư vấn giúp tôi, tôi xin chân thành cảm ơn quý Luật Sư!

Người gửi: K.L

Trả lời:

Thứ nhất, Bộ luật lao động 2012 quy định:

"Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận"

Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định:

"Điều 7. Thông báo kết quả về việc làm thử

1. Trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

2. Khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động."

Như vậy, theo thông tin bạn đưa ra thì hành vi của công ty là không thực hiện việc thông báo kết quả về việc làm thử của bạn sau khi thời gian thử việc kết thúc và đề nghị bạn hoàn thành công việc mà không thuộc trách nhiệm của mình đồng thời lấy kết quả đó để đánh giá việc ký hợp đồng lao động khi đã qua thời gian thử việc là vi phạm quy định của pháp luật về lao động. Hành vi của công ty có thể sẽ phải chịu xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 95/2013/NĐ-CP như sau:

"Điều 6. Vi phạm quy định về thử việc

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động yêu cầu thử việc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người lao động thử việc quá 01 lần;

b) Thử việc quá thời gian quy định;

c) Trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc trả đủ 100% tiền lương cho người lao động trong thời gian thử việc đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này."

Đối với hành vi vi phạm trên bạn có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết đến ban điều hành của công ty, nếu như công ty không giải quyết bạn có thể tố cáo đến Ủy ban nhân dân huyện, nơi có trụ sở công ty để tiến hành hòa giải, nếu hòa giải không thành bạn có thể khiếu kiện đến Tòa án nhân dân nơi công ty có trụ sở.

Thứ hai, Bộ luật lao động 2012 quy định:

"Điều 155. Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ

1. Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp sau đây:

a) Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;

b) Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

2. Lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai từ tháng thứ 07, được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủ lương.

3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

4. Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý kỷ luật lao động.

5. Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút; trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. "

Như vậy, theo Khoản 3 Điều 155 bạn sẽ không bị thôi việc vì lí do mang thai.Tuy nhiên, hợp đồng làm việc đối với người thử việc sẽ bị chấm dứt trong hai trường hợp:

-Người thử việc không đạt yêu cầu thử việc

-Người thử việc bị thi hành kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.

Bạn có thể sẽ được hưởng một số qưu đãi như sau:

"Điều 156. Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai

Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Thời hạn mà lao động nữ phải báo trước cho người sử dụng lao động tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định."

"Điều 157. Nghỉ thai sản

1. Lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng.

Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng.

2. Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

3. Hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với người sử dụng lao động.

4. Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng.

Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội."

"Điều 158. Bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản

Lao động nữ được bảo đảm việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 157 của Bộ luật này; trường hợp việc làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản."

"Điều 159. Trợ cấp khi nghỉ để chăm sóc con ốm, khám thai, thực hiện các biện pháp tránh thai

Thời gian nghỉ việc khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu, phá thai bệnh lý, thực hiện các biện pháp tránh thai, chăm sóc con dưới 07 tuổi ốm đau, nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, lao động nữ được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.".

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng!

5. Tư vấn bảo hiểm thất nghiệp cho lao động thử việc ?

Kính nhờ luật sư tư vấn trường hợp của tôi như sau: 31/8/2015 chấm dứt HĐLĐ theo thỏa thuận với Cty A. 6/9/2015 bắt đầu thử việc ở cty B 2 tháng đến 5/11/2015 (chưa ký HĐLĐ & Cty không đóng BhXH, BHYT, BHTN trong 2 tháng thử việc). 18/9/2015 nộp hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp.
Ngày 14/10/2014 nhận quyết định trơ cấp BHTN. Xin hỏi luật sư nếu sau 2 tháng thử việc, tôi được Cty B chính thức ký HĐLĐ, từ ngày 6/11/2015, thử việc từ ngày 6/9/2015. Vậy tôi có vi phạm quy định BHTN không? Nếu không, tôi chấm dứt nhận BHTN từ ngày nào?
Trân trọng.

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Kính chào bạn ! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Được biết vào ngày 31/8/2015 bạn chấm dứt HĐLĐ theo thỏa thuận với Cty A và ngày 6/9/2015 bắt đầu thử việc ở công ty B 2 tháng đến 5/11/2015 (chưa ký HĐLĐ & Cty không đóng BhXH, BHYT, BHTN trong 2 tháng thử việc). Sau đó ngày 18/9/2015 nộp hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp.Ngày 14/10/2014 nhận quyết định trơ cấp BHTN. Bạn muốn biết nếu sau 2 tháng thử việc bạn được Công ty B chính thức ký HĐLĐ, từ ngày 6/11/2015, thử việc từ ngày 6/9/2015 , bạn có vi phạm quy định BHTN không. Trường hợp này chúng tôi tư vấn như sau:

Theo Điều 49 Luật số 38/2013/QH13 của Quốc hội : Luật việc làm​ quy định Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

" Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết."

Vậy, trong trường hợp của bạn sau khi bạn nghỉ việc tại công ty A nhưng ngay sau đó 5 ngày bạn đã tìm được việc làm nhưng trong giai đoạn thử việc. Xét thấy theo quy định pháp luật không phân biệt bạn có việc hay trong thời gian thử việc mà quan trọng bạn đã tìm cho mình được việc làm ngay sau đó. Do đó, bạn thuộc trường hợp đã có việc làm nhưng bạn lại đi đăng ký trợ cấp thất nghiệp với Trung tâm giới thiệu việc làm nên bạn không thỏa mãn điều kiện được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định nêu trên. Bạn sẽ thuộc đối tượng tạm dừng hưởng trợ cấp theo Khoản 3 Điều 53 luật việc làm 2013 quy định Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau đây:

"a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp;

b) Tìm được việc làm;

c) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

d) Hưởng lương hưu hằng tháng;

đ) Sau 02 lần từ chối nhận việc làm do trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp giới thiệu mà không có lý do chính đáng;

e) Không thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này trong 03 tháng liên tục;

g) Ra nước ngoài để định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

h) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

i) Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp;

k) Chết;

l) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

m) Bị tòa án tuyên bố mất tích;

n) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù."

Như vậy, bạn cần thông báo với Trung tâm giới thiệu việc làm về việc bạn muốn chấm dứt hưởng trợ cấp, nếu bạn bị phát hiện đã và đang trong quá trình làm việc tại công ty khác thì bạn sẽ bị buộc chấm dứt và chịu các biện pháp xử phạt hành chính khác.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email hoặc qua Tổng đài luật sư tư vấn: 1900.6162

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê