1. Thời gian tòa án quyết việc ly hôn là bao lâu ?

Thưa luật sư Minh Khuê, vợ chồng em có đơn thuận tình ly hôn, nhưng chúng em chưa thoả thuận được về tải sản cũng như con cái, chúng em đã đã được hướng dẫn và nộp đủ những giấy tờ cần thiết nhưng đến nay là 2 tháng rồi mà vẫn không được toà án phản hồi cho em. Vây tào án làm vậy có đúng không ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì:

Điều 203. Thời hạn chuẩn bị xét xử

1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật này;

b) Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác;

c) Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng;

d) Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;

đ) Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này;

e) Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

g) Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này.

3. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

d) Đưa vụ án ra xét xử.

4. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng

Điều 204. Lập hồ sơ vụ án dân sự

1. Hồ sơ vụ án dân sự bao gồm đơn và toàn bộ tài liệu, chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án dân sự.

2. Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ vụ án dân sự phải được đánh số bút lục, sắp xếp theo thứ tự ngày, tháng, năm. Giấy tờ, tài liệu có trước thì để ở dưới, giấy tờ, tài liệu có sau thì để ở trên và phải được quản lý, lưu giữ, sử dụng theo quy định của pháp luật.

Điều 205. Nguyên tắc tiến hành hòa giải

1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

2. Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình;

b) Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Điều 206. Những vụ án dân sự không được hòa giải

1. Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.

2. Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.

Điều 207. Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được

1. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.

2. Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng.

3. Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.

4. Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thời gian giải quyết vấn đề thuận tình ly hôn là bao lâu

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Quyền được chăm sóc, thăm nom con sau ly hôn ?

Xin chào VP luật Minh Khuê. Tôi và vợ đã ly hôn được gần 1 năm. Chúng tôi có 1 con gái chung, bé hiện được 3,5 tuổi. Cả 2 chúng tôi đều có đầy đủ điều kiện cơ bản như theo luật để có thể có quyền nuôi dạy con, tuy nhiên theo qđ của pl thì quyền nuôi con khi bé dưới 36 tuổi thuộc về vợ tôi. Chúng tôi đã cùng thoả thuận về quyền, nghĩa vụ nuôi và chăm sóc, thăm non, đã nêu trong qđ thuận tình ly hôn của chúng tôi. Tuy nhiên, từ khi chúng tôi ly hôn, vợ tôi luôn tìm cách để tôi bị hạn chế gặp con, ví dụ như: tôi chỉ đc đến đón con đi chơi vào mỗi sáng chủ nhật và về trước giờ ăn trưa.
Thật sự vì tôi không muốn có cãi vã hay mâu thuẫn gì nữa bởi chuyện của chúng tôi đã kết thúc, nên đành chấp nhận ý muốn đó. Nhưng chỉ vì 1 lần tôi đến đón con đi chơi và giữ bé ở lại ăn cơm cùng ông bà nội mà từ đó đến nay đã 3 tuần vợ tôi không cho tôi gặp con, đến nhà vợ thì đi vắng, đi chơi, cuối tuần thì tìm đủ cách để tôi không gặp được con. Vì lý do này, tôi muốn làm đơn kiện vợ tôi ra toà do đã ko làm đúng thoả thuận chung về thuận tình ly hôn.
Vậy tôi muốn hỏi lý do tôi khởi kiện có đủ căn cứ không, và tôi cần phải làm những thủ tục gì ?
Rất mong sớm nhận được tư vấn của anh/chị.

Quyền được chăm sóc, thăm nom con sau ly hôn!

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Thứ nhất, Quyền thăm nom con sau khi ly hôn

Căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."
"Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."
Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Như vậy, nếu theo thông tin anh cung cấp người vợ cũ có hành vi ngăn cản việc anh thăm nom con sau khi ly hôn thì có yếu tố vi phạm quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Thứ hai, Xử lý trường hợp cản trở quyền thăm nom con sau khi ly hôn:

Trong trường hợp này đầu tiên anh có thể trao đổi lại với người vợ cũ về hành vi vi phạm của cô ấy, nếu vẫn cản trở quyền thăm con của anh thì anh có thể làm đơn gửi ra Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người vợ đang cư trú để yêu cầu can thiệp, hành vi cản trở quyền thăm con sẽ bị xử lý hành chính theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.
Điều 53. Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau
Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.

Như vậy: Việc ngăn cản việc thăm con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn là trái với quy định của Luật hôn nhân và gia đình và bị xử phạt hành chính theo quy định như trên, nếu đã được chính quyền địa phương can thiệp mà tiếp tục tái diễn thì anh có thể làm đơn gửi tòa án yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 84, Luật hôn nhân và gia đình 2014.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Thủ tục ly hôn giải quyết như thế nào ?

Thưa luật sư, Tôi ly hôn chồng khi con tôi được 15 tháng tuổi ( con tôi mang họ HUỲNH), một mình tôi nuôi con chồng không cấp dưỡng, lúc nhỏ con tôi thường xuyên bệnh. Nên tôi cho con nhờ người em nuôi dưỡng và làm khai sinh mang họ THÁI họ của người em tôi. Về mặt pháp lý tôi và con tôi không có quan hệ gì hết. Đến nay con tôi đã được 11 tuổi thì chồng tôi biết được là con tôi không mang họ của chồng, anh ta thưa tôi về tội đổi họ cho con mà không được sự đồng ý của anh ta. Nếu ra chính quyền mà con tôi không đồng ý đổi lại họ HUỲNH thì có được không? vì hiện nay tất cả giấy tờ đi học cháu điều mang họ THÁI. Tôi đã hỏi cháu nhiều lần cháu vẫn đòi mang họ THÁI. Tôi có vi phạm pháp luật điều 63 của luật hôn nhân gia đình. Và tôi bị xử phạt như thế nào?
Nhờ luật sư tư vấn. Tôi thành thật cảm ơn.Tôi chúc ông nhiều sức khỏe!

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, thì:

Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng”.

Theo đó, cả vợ và chồng đều có quyền và nghĩa vụ nhất định đối với con của mình kể cả khi quan hệ hôn nhân chấm dứt.

Trong giấy khai sinh, pháp luật thừa nhận bố mẹ của người con và theo quy định của pháp luật dân sự thì cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật.

Việc thay đổi họ tên cho con phải xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của con bạn và việc thay đổi họ không được gây ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, nhân phẩm, tinh thần của người khác. Nếu việc yêu cầu thay đổi từ họ cho con bạn với mục đích là cản trở quyền và nghĩa vụ người cha trong việc cấp dưỡng, thăm nom, chăm sóc, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của con bạn, chia rẽ tình cảm của con với cha như bạn trình bày, thì việc yêu cầu đó được coi là không có lý do chính đáng và không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

Đối với quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng đã chấm dứt, chồng hoặc vợ làngười không trực tiếp nuôi con sau ly hôn, nhưng quyền và nghĩa vụ của chồng hoặc vợ đối với con không thay đổi và được pháp luật thừa nhận, cả cha và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con của mình. Vì vậy, trường hợp yêu cầu thay đổi họ cho con của bạn từ họ cha sang họ mẹ phải được sự thỏa thuận, đồng ý của cả cha và mẹ.

Từ những quy định trên thì trường hợp yêu cầu thay đổi họ cho con từ họ cha sang họ mẹ hoặc ngược lại phải xuất phát từ quyền lợi hợp pháp của con và phải được sự thỏa thuận, đồng ý của cả cha và mẹ.

Về việc đăng ký nuôi con nuôi đối với trẻ em phải được thực hiện theo đúng quy định của Luật Nuôi con nuôi 2010 và của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Nuôi con nuôi. Cụ thể trẻ em có cha, mẹ đẻ thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký việc nuôi con nuôi phải tiến hành lấy ý kiến cha, mẹ đẻ của trẻ em. Về nguyên tắc, nếu bố, mẹ trẻ không thể hiện sự đồng ý cho con làm con nuôi thì việc đăng ký con nuôi không thể thực hiện được.

Từ những phân tích trên cho thấy bạn đổi họ của con bạn và việc bạn cho con bạn mang họ người khác là không đúng theo quy định pháp luật.

Xin chào, Em là người Cần Thơ, sinh năm 1987. Chồng cũ của em là người Trung Quốc, Em có sang Trung Quốc làm thủ tục kết hôn vào 28/7/2014 rồi chúng em về Việt Nam sinh sống. Đến tháng 10/2014 thì chúng em chia tay vì không thể tiếp tục hòa hợp, từ đó em không có liên lạc với anh ta.Nay em muốn làm thủ tục ly hôn với người chồng cũ để được kết hôn với người yêu mới.Cho em hỏi em có thể làm thủ tục ly hôn với chồng cũ tại việt nam được không? Lúc kết hôn em chỉ đăng ký bên Trung Quốc, không có ghi chú kết hôn tại Việt Nam. Trong lúc mâu thuẫn em đã xé bỏ giấy chứng nhận kết hôn với chồng cũ. Nếu cần thiết em có thể sang Trung Quốc để xin ly hôn, nếu vậy em cần chuẩn bị những giấy tờ gì, thời gian giải quyết là bao lâu? Rất mong nhận được thông tin hữu ích từ phía luật sư, em rất biết ơn!

Trường hợp của bạn chỉ đăng ký kết hôn ở Trung Quốc (hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài) muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn.

Hồ sơ xin ly hôn:

- Đơn xin ly hôn hoặc Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (theo mẫu của Tòa án).

- Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải trình bày rõ trong đơn.

- Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (bản sao chứng thực) của hai bên.

- Bản sao giấy khai sinh của con (nếu có con).

- Bản sao chứng thực chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

- Giấy tờ xác nhận về tình trạng hôn nhân của vợ chồng.

- Hồ sơ tài liệu chứng minh việc một bên đang ở nước ngoài (nếu có)

Thời gian giải quyết:

Thời hạn chuẩn bị xét xử: Từ 4 đến 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.

Thời hạn mở phiên tòa: Từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Kính gửi Luật sư; Tôi có một vấn đề nhờ luật sư tư vấn Vợ chồng tôi sau khi kết hôn có mua 1 mảnh đất, đứng tên sổ đỏ 2 người. Vậy sau khi ly hôn tài sản đó đc chia như thế nào. Số tiền mua mảnh đất đó là 600tr. Trong đó: 200tr: tôi được công ty tôi tặng riêng cho tôi bằng tiền mặt. 300tr là số tiền lương lao động của tôi tích cóp được. 100tr là tiền mẹ chồng tôi cho hai vợ chồng khi mua. Vậy sau khi ly hôn, tôi sẽ được chia tài sản như thế nào? Rất mong quý luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin cảm ơn. Nguyễn Thị Vân

Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng

Thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân:

- Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp.

- Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước.

- Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Trường hợp của bạn mảnh đất được mua sau khi kết hôn tức là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì được coi là tài sản chung của vợ chồng. Khi ly hôn tài sản này được đem chia theo thỏa thuận của vợ chồng bạn hoặc theo phán quyết của Tòa án.

Chào luật sư, Xin luật sư tư vấn giúp trường hợp của tôi Vợ chồng tôi kết hôn năm 2013 có một bé trai 2 tuổi. Trong quá trình chung sống tôi phát hiện chồng tôi là người vô tâm và ko chăm lo cho cuộc sống. Vợ chồng tôi sống nhờ sự đùm bọc của bố mẹ tôi. Vì thế chúng tôi nảy sinh mâu thuẫn đến tháng 9 -2015 thì chồng tôi bỏ nhà đi đến nay. Nay tôi muốn làm đơn ly hôn nhưng chồng tôi đồng ý nhưng ko hợp tác. Không cho tôi giấy tờ cá nhân và ko chịu kí đơn. Cứ hẹn hết ngày nọ ngày kia. Vậy tôi có thể làm đơn ly hôn mà ko có giấy tờ của chồng tôi đc ko. Và nếu khi tòa gọi mà chồng tôi ko ra thì tôi có đc giải quyết cho ly hôn ko. Tôi đã đi tư vấn luật sư thì họ nói nếu chồng tôi ko ra tòa thì ko giải quyết đc. Nếu giải quyết vắng mặt thì phải 2 năm và phải thông báo trên truyền thông. Tôi rất hoang mang Mong đc luật sư tư vấn ..Xin cảm ơn luật sư Người gửi Phương

Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Theo quy định này thì bạn có quyền nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án.

Hồ sơ, thủ tục ly hôn đơn phương được quy định như sau:

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

- Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

- Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

- Đơn xin ly hôn (Theo mẫu).

Trường hợp chưa có đủ giấy tờ bạn có thể đề nghị Tòa án tiếp nhận hồ sơ sau đó bổ sung các giấy tờ còn thiếu.

Chồng bạn không đến Tòa khi được triệu tập để giải quyết vụ việc. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì:

Điều 227. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Theo quy định nêu trên, Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, chồng bạn vắng mặt mà không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nếu chồng bạn tiếp tục vắng mặt không có lý do chính đáng thì Tòa án xét xử vắng mặt.

Việc Tòa án trả lời bạn như vậy là không có cơ sở pháp lý. Bạn có quyền nộp đơn và đề nghị Tòa án giải quyết.

Thưa luật sư trường hợp của tôi như sau: Sau khi hai vợ chồng ly hôn cách đây 6 tháng do đứa con mới 6 tháng tuổi nên quyền nuôi con thuộc bên vợ và tôi cũng thuần tình. Vợ tôi không đòi hỏi tôi phải trợ cấp cho con và cô ấy đưa con về sống với mẹ ruột và bố Dượng. Lúc 1 đến 2 tháng đầu thì họ còn đối sự tốt với mẹ con cô ấy, do vợ tôi phải nuôi con ở nhà và không thể đi làm để phụ giúp gia đình được nên càng ngày 2 mẹ con cô ấy càng bị đối xử tệ. Cụ thể khi đứa con đã ăn được cháo thì họ không cho vợ tôi tiền để mua cháo. Nhất là 2 tháng vừa rồi con tôi bị bệnh thì họ không thèm đi chữa bệnh cho con của tôi, vì cũng khá thường xuyên đón con về chăm sóc, nhà cũng gần nhau nên tôi biết kịp thời và đã đi chữa bệnh cho con và từ đó tôi cũng thường xuyên mua cháo, bánh, sữa cho con. Thấy vậy cô ấy cảm thấy hối hận và muốn quay lại với tôi. Nhưng riêng với tôi thì tôi không chấp nhận cô ấy nữa và tôi cũng chưa có ý định đi bước nữa vì con tôi không được sống trong điều kiện tốt và tôi nói cô ấy nhường quyền nuôi con cho tôi. Những thời gian qua khi thấy tôi lo cho con thì bên bố mẹ cô ấy càng bỏ mặc và ỷ lại. Bây giờ tôi muốn cô ấy nhường quyền nuôi con vì tôi thấy cô ấy không lo nổi cho con khi mà không được bố mẹ cô ấy cho tiền. Vậy tôi muốn hỏi luật sư là: làm thế nào để tôi được quyền nuôi con? Vì tôi giờ sống một mình và cũng không khá giả gì nhưng sẽ lo được tốt hơn so với hòan cảnh của cô ấy. Và cả bố mẹ, anh, chị, em của tôi cũng rất cưng chiều đứa con của tôi khi tôi đón con về trông nom lúc có thời gian. Họ cũng ủng hộ quyết định nuôi con của tôi Xin cám ơn luật sư

Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Theo đó bạn có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu đã đạt được sự thỏa thuận giữa bạn và vợ bạn. Nếu vợ bạn không đồng ý, bạn có thể đưa ra các chứng cứ chứng minh người đang trực tiếp nuôi con là vợ bạn không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đồng thời chứng minh bạn có đầy đủ các điều kiện nêu trên.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật ?

Kính chào luật sư! Em có một số thắc mắc về việc ly hôn xin luật sư tư vấn cho ạ. Em sinh năm 1990. Đến năm 2012 em có đăng ký kết hôn với vợ sinh năm 1994 và chung sống với nhau có một đứa con sinh ngày 28/6/2015 .Trong quá trình sinh sống mặc dù đôi khi có bất đồng nhưng không lớn không chửi rủa hay đánh đập gì hết. Nhưng cha mẹ hai bên nghèo nên khổ cực.
Từ lúc vợ em sinh con, một mình em đi làm để nuôi gia đình. Khi sinh con ra hay bệnh tật nên có nợ một ít, đỉnh điểm là tháng 7/2015 mẹ em bị đột quỵ nên em có vay tiền chữa bệnh cho mẹ và có yêu cầu vợ em về chăm sóc một thời gian để anh em trong nhà sắp xếp công việc rồi cho người thế, nhưng vợ em không chịu vì em là con út nên rất khó xử nên có sự cãi nhau với vợ. Rồi đến nữa tháng 7 trong lúc em đi làm thì chị vợ lên dẫn vợ và con em đi cho đến nay mà không cho em gặp mặt con. Rồi vợ em đòi ly hôn mặc dù em đã năn nỉ nhiều lần bỏ qua hết để nuôi con nhưng vợ em không đồng ý. Nay em xin hỏi luật sư em làm thủ tục đơn phương ly hôn như thế nào, em ở Đồng Nai còn vợ em ở An Giang và có nhập khẩu về Đồng Nai. Con em 2 tuổi rưỡi khi ra tòa em có quyền nuôi con không?, tại vợ em không có nghề nghiệp ổn định còn em trung bình tháng được 9 triệu và bên gia đình vợ em không ai có nghề nghiệp cả nhà suốt ngày chỉ đi đánh bạc (giáp ranh casino ở An Giang) và ở đó cũng ít trường lớp để con em học nữa ?
Nay xin luật sư tư vấn giúp em. Cảm ơn luật sư rất nhiều mong được hồi âm của luật sư!

Trả lời:

1. Vấn đề nuôi dưỡng con cái sau ly hôn

1.1. Quyền nuôi dưỡng con sau ly hôn theo quy định của pháp luật

Khoản 2 và khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo đó, vợ chồng bạn sẽ thỏa thuận với nhau về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nếu không thỏa thuận được, Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con để giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Trong trường hợp con dưới 36 tháng tuổi thì Tòa sẽ giao con cho người mẹ trực tiếp nuôi.

Do con của bạn đã được 2 tuổi rưỡi nên bạn hoàn toàn có quyền được nuôi con.

1.2. Điều kiện nhận nuôi con theo quy định của pháp luật.

Tòa án sẽ là người quyết định ai là người nuôi con dựa trên cơ sở xem xét nhiều phương diện khác nhau như: khả năng tài chính; nơi sinh sống; thời gian chăm sóc con; phẩm chất đạo đức; nghề nghiệp; độ tuổi của con; … nhằm đảm bảo rằng trẻ em được phát triển trong môi trường bình thường và thuận lợi nhất. Người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Do đó nếu muốn dành được quyền nuôi con bạn phải chứng minh được những điều kiện sau

Chứng minh về kinh tế:

– Khi xem xét đến yếu tố kinh tế để công nhận quyền nuôi con cho cha hoặc mẹ Tòa án sẽ xem xét đến mức thu nhập bình quân một thàng của cha, mẹ. Mức độ ổn định của nghề nghiệp, nếu như cha hoặc mẹ có mức thu nhập rất tốt nhưng nguồn thu nhập đó lại được tạo ra từ công việc bất hợp pháp, hoặc nghề nghiệp có rủi ro kinh tế cao thì Tòa án cũng chưa chắc công nhận quyền nuôi con cho người đó.

Chứng minh về nhân phẩm, đạo đức:

– Tòa án sẽ xem xét đến cách giáo dục con cái, lối sống, quan hệ của cha, mẹ đối với gia đình, xã hội. Nếu cha, mẹ thường xuyên đánh đập con cái, sống không chan hòa với làng xóm thì chắc chắn Tòa án sẽ không công nhận quyền nuôi con cho người đó.

Chứng minh thời gian chăm sóc nuôi dưỡng con:

Việc xem xét đến thời gian của cha, mẹ có đủ để dành cho con không cũng là một yếu tố quan trọng. Cha, mẹ có đủ thời gian để chăm sóc con thì con mới cảm nhận được sự yêu thương, chở che từ cha mẹ. Đó cũng là yếu tố chứng minh tình cảm của cha mẹ dành cho con.

Đó chỉ là một trong những cách để chứng minh đủ điều kiện nuôi con sau ly hôn của cha và mẹ, khi xem xét vấn đề này Tòa án sẽ phân tích kỹ lưỡng và toàn diện mọi mặt của cha, mẹ để đảm bảo rằng người con được hưởng những thứ tốt nhất từ người chăm sóc mình sau khi ly hôn.

Rõ ràng, việc cha, mẹ ly hôn là một ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần và cuộc sống của con cái, nếu như người chăm sóc con sau ly hôn không tốt thì sẽ càng tác động hơn nữa đến cuộc sống của con cái.

2. Thủ tục li hôn đơn phương

2.1. Hồ sơ ly hôn đơn phương gồm:

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính)

- Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của vợ và chồng (bản sao có chứng thực)

- Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực)

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ, chồng

- Đơn xin ly hôn (theo mẫu)

- Các giấy tờ về tài sản chung vợ chồng: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (“sổ đỏ”), giấy đăng ký xe, sổ tiết kiệm, giấy chứng nhận vốn góp, cổ phiếu..

2.2. Thẩm quyền giải quyết ly hôn đơn phương

Thẩm quyền giải quyết ly hôn đơn phương (không có yếu tố nước ngoài): Tòa án cấp huyện, nơi bị đơn thường xuyên cư trú. Nếu không xác định được nơi cư trú của bị đơn thì thẩm quyền giải quyết ly hôn đơn phương là Tòa an nơi bị đơn đang sinh sống hoặc làm việc hoặc nơi bị đơn có tài sản.

2.3. Thời hạn giải quyết ly hôn đơn phương

Căn cứ điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời gian chuẩn bị xét xử vụ án ly hôn tối đa là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý. Có thể gia hạn 02 tháng đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan.

Trong thời hạn 01 tháng kế từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa. Trường hợp có lý do thì thời hạn này là 02 tháng.

Tuy nhiên, không ít trường hợp thời hạn giải quyết vụ án ly hôn lại ngắn hơn so với qui định. Bởi trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự có thể thỏa thuận được với nhau, nên Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn.

Như vậy, khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án bạn chứng minh những lý do phía trên mà bạn vừa trình bày là đúng sự thật khiến cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng và vợ chồng bạn không thể tiếp tục chung sống thì đơn xin ly hôn đơn phương của bạn sẽ được chấp nhận.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Muốn giành quyền nuôi cả hai con làm như thế nào ?

Kính gửi luật sư, tôi và vợ có 2 con chung,đứa lớn gần 4 tuổi, cháu nhỏ gần 2 tuổi. Tôi làm việc thu nhập hơn 20 triệu mỗi tháng, nhưng hiện tại 2 tháng nay không làm công ty nữa mà chuyển sang kinh doanh tự do thu nhập không có giấy tờ chứng minh. Vợ tôi chỉ lo nội trợ ông bà nội rất thương yêu 2 cháu (cả khu vực quanh nhà ai cũng thấy). Với lại gia đình tôi có điều kiện chăm sóc cháu, bên vợ thì không, như vậy khi li hôn tôi muốn nuôi cả 2 con có được không ? Tôi rất lo lắng nếu li hôn không nuôi được cả 2 cháu thì 1 trong 2 đứa đã thiếu thốn tình cảm cha lại thiếu cả vật chất cho phát triển cả thể chất lẫn tinh thần.
Kính mong luật sư giúp tôi trong hoàn cảnh này.

Trả lời:

Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.".

Đối với bé gần 02 tuổi thì vợ bạn sẽ được quyền ưu tiên nuôi con.

Đối với bé gần 4 tuổi, bạn muốn nuôi con thì bạn có nghĩa vụ chứng minh các điều kiện của bạn tốt hơn của vợ thì bạn sẽ được xem xét giao con. Các yếu tố này thường được xem xét thông qua: điều kiện vật chất/tiền lương/thu nhập; điều kiện chỗ ở; thời gian chăm sóc con.

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn chỉ có khả năng xem xét trong việc giành nuôi bé lớn, bé nhỏ thì vợ bạn sẽ có quyền ưu tiên nuôi con.

Thưa luật sư! Em có 01 việc về ly hôn xin nhờ luật sư tư vấn: - em có 01 người chị muốn ly hôn đơn phương. Chị và anh ta đăng ký kết hôn ở quảng nam. Giờ chị em muốn ly hôn nhưng anh ta không hợp tác. Không đưa sổ hộ khẩu cũng như CMND. Anh ta hiện đang ở gia lai nhưng không đăng ký tạm trú. Vậy cho em hỏi, nếu chị em lên gia lai giải quyết thì có được không? Và làm cách nào để chị em được ly hôn khi anh ta không hợp tác, không chịu đưa giấy tờ cũng như không chịu về ly hôn ở quảng nam. Xin nhờ luật sư tư vấn giúp ạ! em cảm ơn!

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

"Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này".

Người vợ muốn ly hôn đơn phương thì phải yêu cầu Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi người chồng cư trú để giải quyết. Nếu người chồng không có hộ khẩu hoặc không có đăng ký tạm trú thì phải có giấy tờ xác nhận nơi người này làm việc tại Gia Lai thì Tòa án nhân dân tại Gia Lai giải quyết.

Nếu người chồng không chịu giao giấy tờ, thì người vợ có thể đến Ủy ban nhân dân xã nơi đăng ký kết hôn để xin trích lục đăng ký kết hôn, đến Ủy ban nhân dân xã/phường nơi đăng ký khai sinh cho con để xin trích lục Giấy khai sinh; đến Công an xã, phường nơi người chồng có hộ khẩu để xin Xác nhận về nhân khẩu để hoàn thiện hồ sơ ly hôn.

Còn về vấn đề anh này không về để tiến hành thủ tục ly hôn thì Tòa án vẫn xem xét giải quyết theo điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

"Điều 227. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ."

Chào Luật sư, hiện tại tình hình 2 vợ chồng rất căng thẳng, hay xảy ra xung đột ngoài ý muốn nên tôi muốn ly hôn. Muốn ly hôn phải làm những thủ tục và cần nhưng giấy tờ gì ạ, và nộp đơn ở đâu ạ. Quê chúng tôi ở thái bình nhưng lên hà nội làm ăn thì có thể nôp đơn ở Hà Nội. Chúng tôi có 1 đứa con hiện mới được 2 tuổi sau khi ly hôn con tôi vẫn đươc nuôi chứ. Nếu trong trường hợp chồng tôi chưa kí vào đơn ly hôn nhưng lại bế con tôi đi mất thì tôi phải làm thế nào ?

Nếu bạn muốn ly hôn thì bạn có thể nộp đơn tại Hà Nội nếu chồng bạn có đăng ký tạm trú tại Hà Nội theo điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, và điều 12 Văn bản hợp nhất luật cư trú.

Hồ sơ giấy tờ bạn cần chuẩn bị bao gồm: Mẫu đơn; Giấy đăng ký kết hôn (Bản chính); CMND và Sổ hộ khẩu của 02 vợ chồng (Bản sao có chứng thực); Giấy khai sinh của con (Bản sao có chứng thực); Giấy tờ chứng minh tài sản (bản sao có chứng thực).

Con bạn dưới 3 tuổi nên căn cứ khoản 3, điều 81 Luật hôn nhân gia đình bạn sẽ được quyền ưu tiên nuôi con.

Nếu chồng bạn cản trở quyền nuôi con thì bạn có quyền yêu cầu chính quyền địa phương xử lý chồng bạn theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

"Điều 53. Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.".

Thưa luật sư tôi muốn hỏi là, tôi muốn ly hôn nhưng vợ tôi không chịu ký, vì tôi còn nợ gia đình vợ một số tiền khoảng 30 triệu. Vậy tôi có ly hôn đơn phương được không ?

Bạn sẽ chỉ bị hạn chế quyền ly hôn đơn phương trong trường hợp quy định tại điều 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cụ thể là:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.".

Xin chào luật sư! Em muốn hỏi, 2 vợ chồng lấy nhau đươc gần 2 năm có chung một bé trai được 13 tháng tuôi, anh ta hay có thái độ và hành vi bạo lực, lại hay chửi xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của em và gia đình ( như bố mẹ để của em). Bây giờ em muốn ly hôn và nuôi con, công việc của em la công nhân 4,5 triệu, anh ta cũng la công nhân 4 triệu, nhà thì giờ bọn em đang thuê đều không có nhà riêng, bố mẹ chồng thì không ôm hãm con cho bọn em mà phải đi thuê, trong đó thường hay đi nhậu nhẹt , bia bọt có khi 23-24h đêm mới về, giờ anh đòi nuôi con, em nghĩ anh ta không đủ khả năng này tiền làm ra ít, nợ nần riêng tư thì nhiều, không có lòng kiên nhẫn với con cứ nóng là hét con phải khóc, em muốn nuôi con thì phải làm gì và đến đâu nhờ giải quyết

Điều 81 Luật hôn nhân gia đình quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.".

Xét thấy bạn đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cho nên bạn sẽ được Tòa án giao con.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?