1. Khái niệm và ý nghĩa của thời hạn

Trong các quan hệ pháp luật dân sự, các bên chủ thể có thể thỏa thuận đặt ra một khoảng thời gian để mỗi bên hoàn thành xong nghĩa vụ của mình. Khoảng thời gian này còn được gọi dưới tên gọi “thời hạn”. Bàn về thời hạn thì có thể coi đây là một yếu tố pháp lý quan trọng được quy định trong pháp luật dân sự. Do đó, tại Bộ luật Dân sự hiện hành cũng ghi nhận thời hạn tại Điều 144:

“Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác"

Ví dụ như trong hợp đồng thuê nhà ở, bên cho thuê và bên thuê thỏa thuận thời hạn thuê là 2 năm tính từ ngày kí kết hợp đồng hoặc A thuê B som nhà cho A trong thời hạn 1 tuần phải hoàn thành.

Thời hạn và thời gian là hai thuật ngữ có mối quan hệ với nhau. Thời hạn chính là một khoảng thời gian. Nêu như thời gian mang tính khách quan, không có điểm bắt đầu và kết thúc thì thời hạn lại xác định được điểm bắt đầu và điểm kết thúc. Bởi vậy, thời hạn vừa mang tính khách quan lại vừa mang tính chủ quan với những đặc tính sau:

Thứ nhất, thời hạn mang tính khách quan. Thời hạn là thời gian nên thời hạn mang tính khách quan của thời gian nói chung, trôi theo quy luật ngày đêm của vũ trụ mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Nói một cách khác, thời hạn cũng như thời gian, sự vận hành liên tục của nó không vì ý chí của con người mà dừng lại hoặc thay đổi quy luật. Chính vì thế, thời gian hay thời hạn đều không bị lệ thuộc ý chí chủ quan của con người và mang tính khách quan.

Thứ hai, thời hạn mang tính chủ quan. Thời hạn xác định được điểm đầu và điểm cuối mà việc xác định điểm này phụ thuộc vào ý chí con người. Trong giao dịch dân sự, đối với các hành vi pháp lý đon phương, chủ thể đưa ra hành vi pháp lý đơn phương có quyền xác định thời hạn. Ví dụ như, trong cuộc thi ẩm thực, nhà hàng đưa ra tuyên bố ai có thể nấu được món ăn ngon nhất trong vòng thời gian 02 tiếng được nhà hàng thưởng 05 triệu đồng. 02 tiếng là thời hạn do nhà hàng đưa ra trong tuyên bố hứa thưởng của mình. Còn trường hợp hợp đồng, thời hạn được xác định theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Ví dụ như các bên thỏa thuận về thời hạn giao tài sản và trả tiền trong hợp đông mua bán tài sản, thời hạn chuyển tiền và thời hạn trả nợ trong hợp đồng vay tài sản. Đặc biệt, đối với các hợp đồng có đối tượng là công việc, các bên thường thỏa thuận về thời hạn để hoàn thành công việc trong hợp đồng... Như vậy, tính chủ quan của thời hạn thể hiện rõ nét ở việc các chủ thể có quyền lựa chọn điểm bắt đầu và điểm kết thúc của thời hạn. Khi xác định được điểm bắt đầu và điểm kết thúc thì khoảng thời gian này lại vận hành theo đúng quy luật trôi của dòng thời gian.

Trong các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng, thời hạn có vai trò quan trọng trong việc xác định thời điểm xác lập quyền, nghĩa vụ cho các chủ thể trong quan hệ. Thời hạn còn là căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm dân sự của các bên khi các bên thực hiện nghĩa vụ không đúng thời hạn đã thỏa thuận. Bên cạnh đó, thời hạn được xác định là một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong những trường hợp do pháp luật quy định hoặc các bên thỏa thuận.

2. Thời điểm bắt đầu, kết thúc thời hạn hợp đồng

Thời hạn được xác định bằng thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Do đó, xác định được hai thời điểm này thì thời hạn được tính toán chính xác. vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 147 và Điều 148 Bộ luật Dân sự năm 2015.

>> Xem thêm:  Thời hạn là gì ? Quy định pháp luật về cách tính thời hạn ? Ý nghĩa của thời hạn là gì ?

Về thời điểm bắt đầu thời hạn: Có một số điểm cần lưu ý về tính thời điểm bắt đầu thời hạn gồm:

Một là, khi thời hạn được xác định bằng phút, giờ thì thời hạn được bắt đầu từ thời điểm đã xác định. Đây là trường hợp các bên ấn định thời hạn cụ thể, chính xác theo đơn vị từ phút, giờ nên thời hạn bắt đầu tính từ đơn vị thời gian này. Thường với các giao dịch dân sự mà thời hạn đóng vai trò quan trọng, cần độ chính xác về mặt thời gian thì các bên mới xác định thời hạn từ đơn vị thời gian là “phút”.

Ví dụ như: A bị bệnh cần chế độ chăm sóc đặc biệt tại nhà, A thuê B là y tá đã về hưu của viện Bạch Mai đến chăm sóc sức khỏe. Trong hợp đồng chăm sóc sức khỏe thỏa thuận rất cụ thể và rõ về thời hạn sử dụng một số loại thuốc tính theo phút, giờ vì đây là những loại thuốc bắt buộc phải dùng đúng thời gian và cố định tại một thời điểm nhất định trong ngày;

Hai là, khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định.

Ví dụ, A thuê B đến sơn nhà cho A trong một tháng từ ngày 3/2/2020 thì ngày đầu tiên của thời hạn là 3/2/2020 không được tính mà thời hạn một tháng được bắt đầu tính từ ngày kiền kề ngày được xác định tức là ngày 4/2/2020; Ba là, khi thời hạn bắt đầu bằng một sự kiện thì ngày xảy ra sự kiện không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề của ngày xảy ra sự kiện đó. Ví dụ, các bên thỏa thuận thời hạn được tính theo sự kiện diễn ra vụ mùa, sự kiện lễ hội hay một sự kiện nào đó có thể xảy ra trong tương lai thì ngày bắt đầu tính thời hạn là ngày tiếp theo liền kề của ngày xảy ra sự kiện đó.

Về thời điểm kết thúc thời hạn: Thời điểm kết thúc thời hạn được xác định trong từng trường hợp cụ thể, gồm:

Một là, khi thời hạn tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn;

Hai là, khi thời hạn tính bằng tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tuần cuối cùng của thời hạn;

Ba là, khi thời hạn tính bằng tháng thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tháng cuối cùng của thời hạn; nếu tháng kết thúc thời hạn không có ngày tương ứng thì thời hạn kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng đó;

Bốn là, khi thời hạn tính bằng năm thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày, tháng tương ứng của năm cuối cùng của thời hạn; và

Năm là, khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.

3. Các căn cứ chấm dứt hợp đồng

Các căn cứ chấm dứt hợp đồng bao gồm:

1) Hợp đồng đã được thực hiện hoàn tất;

2) Theo thoả thuận của các bên;

3) Một trong các bên trong hợp đồng chấm dứt sự tồn tại. Ví dụ: một bên là cá nhân giao kết hợp đồng bị chết; hoặc một bên là pháp nhân giao kết hợp đồng bị giải thể;

4) Hợp đồng bị huỷ bỏ, bị đình chỉ;

5) Hợp đồng không thể thực hiện do đối tượng của hợp đồng không còn...

Thông thường, thời hạn hợp đồng là khoảng thời gian tính từ thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực cho đến thời điểm mà các bên giao kết hợp đồng thoả thuận là hợp đồng được thực hiện hoàn tất.

Trong trường hợp các bên thoả thuận hợp đồng được thực hiện từ thời điểm giao kết (mà thời điểm này không trùng với thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng) thì thời hạn của hợp đồng bắt đầu từ thời điểm giao kết.

Trên thực tế, thời hạn hợp đồng chính là thời hạn có hiệu lực của hợp đồng. Do tính chất của hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ. Bởi vậy, thời hạn hợp đồng do các bên cùng nhau thoả thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Ví dụ: thời hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ không quá 7 năm kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyển có thể cho phép kéo dài thời hạn hợp đồng nhưng không quá 10 năm.

Mặc dù tôn trọng quyền tự thoả thuận về thời hạn hợp đồng của các bên giao kết hợp đồng, song nhiều trường hợp, pháp luật có các quy định giới hạn thời hạn hợp đồng. Ví dự: trong hợp đồng uỷ quyền, nếu các bên không thoả thuận thời hạn uỷ quyền và pháp luật không có quy định khác thì thời hạn của hợp đồng uỷ quyền có hiệu lực 1 năm kể từ ngày xác lập quyển được uỷ quyền. Hoặc trong hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, thời hạn thuê quyền sử dụng đất do các bên tự thoả thuận song không được quá 3 năm.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)