Tuy nhiên trong quá trình làm thủ tục xác nhận chuyển nhượng từ chủ đầu tư thì phát hiện ra con dấu trên hợp đồng là bất hợp pháp (con dấu này do nội bộ phía chủ đầu tư có tranh chấp nên đã làm giả chữ ký để thay đổi con dấu; việc này đã có kết luận của cơ quan công an và yêu cầu huỷ bỏ con dấu này). Luật sư cho tôi hỏi là: hợp đồng mua bán và văn bản chuyển nhượng hợp đồng đó có hiệu lực pháp lý không. Nếu tôi muốn khởi kiện bên bán (vì đã bán cho tôi hợp đồng không hợp pháp) thì có được không và thời hạn để nộp đơn khởi kiện là bao lâu ?

 Tôi xin trân trọng cảm ơn !

 

Luật sư trả lời:

Theo thông tin dữ liệu bạn đưa ra thì chúng tôi có thể xác định được hợp đồng chuyển nhượng mà bạn với chủ đầu tư ký kết sẽ vi phạm quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể:

"Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng."

Cũng theo quy định của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu cơ quan nhà nước tuyên bố giao dịch vô hiệu không hạn chế, cụ thể Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 132. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

1. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:

a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.

2. Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.

3. Đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế"

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê