1. Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là bao lâu ?

Chào luật sư, bố mẹ tôi mất vào năm 2000 và 2002, khi mất bố mẹ tôi có để lại phần di sản là 1 miếng đất thuộc sở hữu của hai người mà không ai để lại di chúc gì cả, miếng đất này có nhà và trước giờ giao cho anh cả tôi ở và thờ cúng . Gia đình tôi chưa bao giờ họp để phân chia di sản này mà cứ để đó. Nay anh tôi muốn bán đất nên các anh em khác không đồng ý dẫn đến tranh chấp không thể hòa giải được. Tôi nghe nói, thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là 10 năm, hiện nay đã hết thời hiệu rồi thì không có quyền khởi kiện nữa.
Vậy chúng tôi phải làm thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Dựa trên quy định tại điều 623 của Bộ luật dân sự 2015

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế đối với bất động sản là 30 năm kể từ ngày bố bạn mất. Như vậy trong trường hợp này anh chị em nhà bạn vẫn có quyền yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tranh chấp về đất không có di chúc ? Làm thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

2. Mua lại quyền sử dụng đất trước khi xảy xa tranh chấp quyền thừa kế ?

Kính chào luật sư! Vào tháng 8 năm 2004, tôi nhận được chuyển nhượng 1 lô đất của bà H 80m2 đất ở (Bà H đã được cấp giấy chứng nhận QSDD đất năm 1993).Tôi đã giao đầy đủ tiền và đã làm đầy đủ thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Tháng 2/2004 cơ quan nhà nước đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tôi. Biết được tin cơ quan nhà nước đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tôi, giữa anh em ruột bà H xảy ra tranh chấp thừa kế liên quan đến diện tích đất trên. Anh em ruột của bà H lấy lý do: đất đấy là do bố mẹ để lại nên phải chia đều cho tất cả anh chị em. Khi tôi tiến hành xây nhà thì anh em ruột bà H gây cản trở, anh bà H đã đề nghị UBND cấp xã can thiệp.
Vậy vụ việc trên được giải quyết như thế nào?
Xin cám ơn luật sư!

Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là bao lâu? hết thời hiệu chia thừa kế làm thế nào để đòi lại phần di sản bố mẹ để lại?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 188 Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất như sau:

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

Như vậy ở thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì đất không có tranh chấp, đáp ứng quy định về điều kiện chuyển nhượng nên hợp đồng chuyển nhượng đất của bạn là hợp pháp.

Tuy nhiên, điểm 2.4 Phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP lại quy định về trường hợp không xác định thời hiệu phân chia di sản thừa kế như sau:

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản”.

Trong trường hợp này, anh em ruột của bà H chỉ có quyền khởi kiện để phân chia lại di sản chung. Trong trường hợp Tòa án không đồng ý thụ lý thì bạn vẫn có quyền được sử dụng mảnh đất đó; còn nếu Tòa án đồng ý việc phân chia di sản chung thì hợp đồng giữa bạn và bà H là vô hiệu, hoặc bạn phải thỏa thuận được với tất cả anh em của bà H cho chuyển nhượng và đứng tên mảnh đất đó.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Cách giải quyết tiền đền bù đất khi có tranh chấp ? Mức thuế khi chuyển mục đích sử dụng đất ?

3. Xử lý hành vi giả mạo chữ ký về thừa kế quyền sử dụng đất ?

Kính thưa Luật Minh Khuê. Em có câu hỏi muốn được tư vấn: Gia đình em có 5 người con. Ba mẹ mất 1989 để lại đất. Và 2 đứa em giả chữ ký của em trong "giấy chia đất cho con" năm 1987, để làm giấy đăng ký quyền sử dụng đất. Sau này năm 2016 e mới biết sự việc này và gửi đơn yêu cầu ủy ban hủy quyết định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND trả lời do đất đó đã chuyển nhượng nên nhà nước không thu hồi nữa. Chỉ thu hồi khi có quyết định, bản án của tòa án. Khi gửi đơn ra tòa thì tòa trả lời: Luật thừa kế quy định thì tòa chỉ giải quyết tranh chấp thừa kế trong vòng 30 năm, đến nay đã hết thời hiệu.

Vậy có xử lý hình sự đối với hành vi giả mạo giấy tờ hay không?. Việc cấp giấy này có đúng hay chưa, trách nhiệm thuộc về ai? Và tôi phải xử lý như thế nào để lấy lại đất?

Cảm ơn Luật Minh Khuê đã tư vấn!

Tư vấn về hành vi giả mạo chữ ký về thừa kế quyền sử dụng đất ?

Luật sư tư vấn xử lý hành vi giả mạo chữ ký, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 về thời hiệu khởi kiện về thừa kế thì:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, theo quy định của Điều luật trên thì thời hiệu khởi kiện thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với Bất động sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Theo đó, thời điểm mở thừa kế là thời điểm mà bố hoặc mẹ bạn mất (tính từ ngày người sau cùng mất). Như vậy, đối với yêu cầu này của bạn bị Tòa án bác bỏ với lý do như trên là đúng quy định của pháp luật khi

Đối với hành vi giả mạo chữ ký của các em bạn để làm sổ đỏ:

Theo quy định tại Bộ luật hình sự mới nhất năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Trong trường hợp của bạn, hai người em của bạn đã có hành vi giả mạo chữ ký của bạn để thực hiện thủ tục cấp sổ đỏ. Như vậy, đối với quyết định hành chính là việc cấp sổ đỏ của cơ quan có thẩm quyền, hai người này đã có hành vi gian dối, cụ thể là gian dối đối với bạn, và gian dối cơ quan chức năng vì mục đích chiếm đoạt tài sản. Và với khung hình phạt tối đa là phạt tù đến 3 năm thì đây thuộc tội phạm ít nghiêm trọng.

Theo như quy định trên, kể từ ngày 2 người em em thực hiện hành vi trên là vào năm 1987, đến nay đã được 33 năm, đã hết thời hạn để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tôi phạm ít nghiêm trọng này. Như vậy, vì sau khi nhận được thừa kế, nhưng bạn lại không có thỏa thuận với các em về phân chia di sản, cũng như để quá thời hiệu để xét xử vì vậy mà quyền lợi của bạn lúc này pháp luật không thể bảo vệ.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng liên hệ trực tiếp qua tổng đài tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp. Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Tính toán bồi thường thiệt hại trong tranh chấp hợp đồng ? Quyền thừa kế đất đai ?

4. Đòi lại quyền sử dụng đất được hưởng thừa kế như thế nào ?

Thưa luật Minh Khuê, cháu có thắc mắc mong được giải đáp! Mảnh đất hiện tại cháu đang ở có diện tích 1240 m2. Đất thuộc sở hữu của 2 cụ: cụ ông và cụ bà cháu. Hai cụ có 3 người con, 2 trai 1 gái. Một người con trai tức ông bác cháu đã bỏ vào miền Nam sống từ lâu, một là ông nội cháu, và người con gái tức bà bác cháu lấy chồng làng bên.
Ông nội cháu chết cùng ngày với cụ bà đã từ lâu, cháu không rõ chết năm nào. Nhiều năm sau đó thì cụ ông mất, sau đó thì bố cháu cũng mất năm 1997, hiện cháu đang ở cùng mẹ cháu trên mảnh đất này. Năm 2005 cô cháu cùng chồng con chuyển từ Thái Nguyên về ở trên mảnh đất nhà cháu, lúc đầu xin 150 m2 đất để ở, từ đó bà nội cháu chuyển sang sống cùng cô cháu (tức con gái bà). Nay cháu mới biết bà nội cháu đã âm thầm tách khẩu riêng 1 mình bà và âm thầm làm sổ đỏ tên bà vào năm 2006 đến năm 2010 bà âm thầm chia cho cô 470m2 đất.
Cháu có kể cho bà bác cháu biết chuyện, bà bác cháu muốn kiện bà nội cháu và cô cháu âm thầm chiếm tài sản mà bà bác đãng nhẽ được hưởng thì có được không? Bà nội cháu làm thế là sai hay đúng? Có thể kiện được không ạ? Nếu không kiện sau này bà cháu mất thì phần đất còn lại đang đứng tên bà cháu sẽ thuộc về ai? Liệu mẹ con cháu có được chia đất không?
Cảm ơn!

Đòi lại quyền sử dụng đất được hưởng thừa kế như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến, gọi : 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về việc bà bác bạn kiện bà nội do chiếm tài sản mà bác bác đáng nhẽ được hưởng thì chúng tôi xác định cụ thể như sau: Bà bác bạn xác định mình có quyền hưởng thừa kế một phần mảng đất đó từ cụ tuy nhiên chưa nhận và bàn giao đất được hưởng thừa kế đó và hiện nay, nếu như bà nội bạn cho con gái đất thì có thể ảnh hưởng đến mảnh đất bà bác bạn được thừa kế. Do bạn không đề cập nên chúng tôi xác định cụ bạn không để lại di chúc, như vậy khi cụ bạn mất đi mảnh đất sẽ được chia theo quy định của pháp luật, bà bác bạn, ông nội và ông bác đều là những người được hưởng thừa kế theo pháp luật và được hưởng 1/3 mảnh đất đó. Hiện nay gia đình bạn là gia đình quản lý di sản nên phải có nghĩa vụ quy định tại điều 617, Bộ luật Dân sự 2015:

Điều 617. Nghĩa vụ của người quản lý di sản

1. Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:

a) Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản;

c) Thông báo về tình trạng di sản cho những người thừa kế;

d) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

đ) Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế.

2. Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:

a) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác;

b) Thông báo về di sản cho những người thừa kế;

c) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

d) Giao lại di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.

Như vậy, bà nội bạn hiện là người quản lý di sản của bà bác bạn và ông bác bạn phải có trách nhiệm giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế. Bà bác bạn có thể kiện bà bạn về việc vi phạm nghĩa vụ của người quản lý di sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu như sau khi yêu cầu bà nội giao đất được thừa kế mà bà bạn không thực hiện.

Về quyền của gia đình bạn, ông nội đã mất đi nên gia đình có thể yêu cầu chia di sản của ông - trong đó sẽ gồm 1/2 phần mảnh đất ông nội được nhận thừa kế từ cụ ngoại. Như vậy mẹ và bạn sẽ được hưởng một phần mảnh đất đó mà không lo bị bà bạn đuổi đi, vì bà bạn chỉ có quyền với số đất thuộc vào tài sản của bà sau khi ông mất. Bạn sẽ được hưởng phần di sản theo trường hợp thừa kế thế vị theo phần thừa kế của bố bạn.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Điều 652. Thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Khi bà mất, di sản sẽ được chia theo di chúc (nếu có) hoặc chia theo pháp luật. Trường hợp chia theo pháp luật thì gia đình bạn cũng sẽ được thừa kế phần đất của bà, trường hợp chia theo di chúc thì di chúc phải đảm bảo tính hợp pháp của di chúc.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

5. Trường hợp chia thừa kế bất động sản khi không có di chúc ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Cách chia thừa kế bất động sản khi không có di chúc thực hiện thế nào ? Cảm ơn!

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật dân sự về di chúc thì lời nói cũng được coi là một dạng của di chúc, hay còn gọi là di chúc miệng, đây là loại di chúc bằng lời nói và trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ. Và di chúc chỉ được coi là hợp pháp nếu người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì vẫn chưa rõ ràng nhưng do ông bạn mất đã lâu mà không phát hiện ra di chúc nên việc lập di chúc bằng lời nói cũng có thể không có hiệu lực nữa, do vậy các di sản mà ông bạn để lại có thể chia theo pháp luật căn cứ theo Điều 651 của bộ luật dân sự về Người thừa kế theo pháp luật như sau:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Do di sản trên được chia theo pháp luật, nên những người thừa kế theo pháp luật đều có quyền được nhận di sản nói trên, tuy nhiên nếu như các bác của bố bạn muốn tạo điều kiện cho bố bạn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất là tài sản riêng của bố bạn thì các bác có thể lập văn bản từ chối nhận di sản, đối với những người không đồng ý lập văn bản nói trên thì khi phân chia di sản, di sản thừa kế vẫn phải chia đều cho họ. Cũng có thể hiểu là khi phân chia di sản, nếu bố bạn muốn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng của mảnh đất nói trên thì phải được sự đồng ý của những người thừa kế còn lại và đối với những người không đồng ý cho bố bạn sở hữu toàn bộ di sản và không thỏa thuận được thì di sản vẫn phải chia cho người đó.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Luật Minh Khuê biên tập

>> Xem thêm:  Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng là khi nào ? Di chúc miệng có hiệu lực không ?