VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------

Số: 307/TB-VPCP

Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2011

THÔNG BÁO

Ý KIẾN KẾT LUẬN CỦA PHÓ THỦ TƯỚNGHOÀNG TRUNG HẢI TẠI BUỔI LÀM VIỆC VỚI BỘ CÔNG THƯƠNG VỀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾHOẠCH NĂM 2011, NHIỆM VỤ CHỦ YẾU NĂM 2012 VÀ KẾ HOẠCH 05 NĂM 2011-2015

Ngày 07 tháng 12 năm 2011, tại Bộ Công Thương, Phó Thủ tướngHoàng Trung Hải đã làm việc với Bộ Công Thương về kết quả thực hiện kế hoạchnăm 2011, mục tiêu nhiệm vụ năm 2012 và kế hoạch 05 năm 2011-2015 của ngànhcông thương. Tham dự buổi làm việc có lãnh đạo và đại diện các Bộ: Tài chính,Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn, Khoa học và Công nghệ, Quốc phòng, Xây dựng, Văn phòng Chính phủ, các Tậpđoàn: Dầu khí Việt Nam, Điện lực Việt Nam, Công nghiệp Than - Khoáng sản ViệtNam, Hóa chất Việt Nam, Dệt may Việt Nam. Sau khi nghe báo cáo của lãnh đạo BộCông Thương và ý kiến của các đại biểu dự họp, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đãkết luận như sau:

1. Đánh giá chung

Nhìn tổng thể, ngành Công Thương đã có nhiều cố gắng thựchiện các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn2006-2010 và kế hoạch năm 2011. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng củakhủng hoảng kinh tế toàn cầu, những hạn chế của nội tại nền kinh tế trong nước,nhưng đánh giá chung, ngành Công Thương đã đạt được nhiều thành tích trên nhiềulĩnh vực. Về công nghiệp, đã bước đầu thực hiện tốt việc chuyển dịch cơ cấu:khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm dần trong khi khu vực doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài và khu vực ngoài quốc doanh có xu hướng tăng; tỷ trọng côngnghiệp khai khoáng giảm trong khi tỷ trọng công nghiệp chế biến tăng và đạt mứccao trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Các ngành sản xuất công nghiệp đãđạt được nhiều kết quả khá. Công nghiệp năng lượng có sự phát triển nhanh chóngvới nhiều dự án nguồn và lưới điện được khởi công xây dựng và đưa vào khaithác, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu điện cho phát triển kinh tế-xã hội; tỷ lệ cấpđiện ở khu vực nông thôn đạt hơn 95,86% và vượt chỉ tiêu Đại hội Đảng lần thứ Xđã đề ra. Ngành thăm dò, khai thác dầu khí đã có những bước đi đúng hướng, phùhợp với Chiến lược an ninh năng lượng quốc gia và đã đạt được nhiều thành tựunổi bật rất đáng khích lệ, trong đó đã phát triển được nhiều mỏ dầu khí mới ởcả trong và ngoài nước, góp phần bổ sung nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu chosản xuất trong nước; công nghiệp lọc hóa dầu đã hình thành. Công nghiệp cơ khíđã được quan tâm đầu tư phát triển và đã sản xuất được nhiều sản phẩm đạt tiêuchuẩn quốc tế và đáp ứng được một phần nhu cầu trong nước. Công nghiệp chế biếnnông, lâm, thủy sản cũng có những tăng trưởng rõ rệt, tạo động lực thúc đẩycông nghiệp hóa ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Hoạt động xuất khẩu đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệvà đã có những chuyển dịch đúng hướng theo mục tiêu đã đề ra. Kim ngạch xuấtkhẩu năm 2011 và tốc độ tăng bình quân hàng năm trong giai đoạn 2006-2010 đạtmức cao hơn chỉ tiêu kế hoạch. Cơ cấu hàng xuất khẩu đã có sự chuyển dịch theohướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến, cơ khí chế tạo, điện tử và giảm tỷtrọng các mặt hàng khoáng sản, nhóm hàng chế biến thô. Cơ cấu thị trường xuấtkhẩu cũng đã từng bước có sự dịch chuyển từ khu vực châu Á sang khu vực châu Âuvà Hoa Kỳ...

Hoạt động nhập khẩu đã góp phần quan trọng trong việc đảmbảo cung cấp máy móc, thiết bị, vật tư nguyên liệu cho đầu tư phát triển, sảnxuất kinh doanh và hàng hóa sinh hoạt thiết yếu cho nhân dân; đặc biệt trongmấy năm gần đây đã thực hiện tương đối tốt việc kiểm soát, hạn chế nhập khẩunhững mặt hàng hóa trong nước đã sản xuất được, hàng hóa chưa thực sự cầnthiết. Do tăng trưởng xuất khẩu mạnh và kết quả kiểm soát nhập khẩu, nhập siêugiảm dần (từ 28,8% kim ngạch xuất khẩu và 18 tỷ USD năm 2008 xuống còn 10,4% và10 tỷ USD năm 2011).

Trên lĩnh vực thương mại và dịch vụ: Đã quan tâm phát triểnthị trường trong nước; sản phẩm hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng về chủngloại, chất lượng được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sống.Nhiều loại hình thương mại văn minh, hiện đại được triển khai đã góp phần nângcao chất lượng phục vụ, gắn kết chặt chẽ hơn giữa khâu sản xuất với lưu thôngphân phối; các phong trào vận động thực hiện văn hóa tiêu dùng, sử dụng hàngtrong nước sản xuất... đã góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất của doanhnghiệp trong nước.

Về hội nhập kinh tế quốc tế: sau khi gia nhập WTO, chúng tađã tiếp tục nỗ lực đàm phán, ký kết được nhiều hiệp định mậu dịch tự do (FTA),hiệp định thương mại song phương và đa phương với các nước. Việt Nam ngày càngtham gia sâu rộng vào các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế, ngày càng cótiếng nói quan trọng với ý thức trách nhiệm cao trong các diễn đàn khu vực vàthế giới như ASEAN, APEC, ASEM..., do đó đã góp phần mở rộng thị trường và tạora cơ hội lớn cho hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Bộ Công Thương đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ ngành tậptrung đầu tư nghiên cứu xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch,chiến lược, qua đó tạo khung pháp lý thuận lợi để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quảnlý nhà nước các lĩnh vực của ngành. Cải cách hành chính mà trước hết là cảicách thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ đã được tích cựcthực hiện, tạo sự thông thoáng cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất kinhdoanh và đầu tư phát triển.

Công tác đổi mới khu vực doanh nghiệp nhà nước đã được quantâm và đạt được nhiều kết quả. Hoạt động khoa học kỹ thuật được chú trọng, gópphần đưa công nghệ và khoa học quản lý mới, hiện đại vào thực tiễn. Việc đàotạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được đẩy mạnh.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt độngcủa ngành còn một số tồn tại, bất cập cần phải khắc phục trong thời gian tới.Tốc độ tăng giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp vẫn còn ở mức thấp;tăng trưởng công nghiệp có dấu hiệu giảm; chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngànhchưa đáp ứng được yêu cầu đề ra; công nghiệp chế biến phát triển còn chậm. Cácdoanh nghiệp sản xuất trong nước chưa tận dụng hết các cơ hội mở cửa thị trườngkhi tham gia vào WTO và các hiệp định thương mại FTA; tốc độ đổi mới công nghệ,thiết bị còn chậm. Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng nhái, hànggiả vẫn còn phổ biến. Xuất khẩu tăng trưởng chưa ổn định, nhập siêu còn cao.Thị trường nội địa chưa được quan tâm đúng mức...

Trong giai đoạn tới đây, ngành Công Thương sẽ phải đối mặtvới nhiều thách thức lớn. Nhu cầu đầu tư tăng trong khi nguồn vốn cả trong vàngoài nước hạn chế; chi phí đầu vào cho sản xuất biến động bất lợi cho doanhnghiệp; sự canh tranh trong tiêu thụ sản phẩm ngày càng gay gắt. Xu thế bảo hộthị trường của các nước ngày càng tăng; sức mua của các thị trường xuất khẩulớn của nước ta như khu vực châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản tăng không cao, thậm chícó thể suy giảm. Mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, việc thựchiện các đề án tái cơ cấu nền kinh tế và đặc biệt là vấn đề cân bằng năng lượngcũng sẽ là thách thức lớn đối với ngành công thương không những trong kế hoạchnăm 2012, kế hoạch 5 năm 2011-2015 mà còn cả trong dài hạn. Điều đó đòi hỏingành phải nỗ lực cố gắng hơn nữa để vượt qua khó khăn, phấn đấu hoàn thànhnhiệm vụ.

2. Nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới

Trên cơ sở phát huy những kết quả đạt được trong thời gianqua, để vượt qua được những khó khăn, thách thức và đạt được mục tiêu đến năm2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, tronggiai đoạn tới, ngành Công Thương cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ chủyếu sau đây:

a) Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch,chiến lược: Cần tập trung triển khai thực hiện đúng tiến độ và bảo đảm chấtlượng để đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước các lĩnh vực củangành; tăng cường đầu tư nghiên cứu xây dựng và thực hiện các đề án trongchương trình công tác.

b) Về quản lý các doanh nghiệp nhà nước: Bộ Công Thương cầntiếp tục làm tốt công tác đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước theo kếhoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tăng cường nhân lực, năng lực quảnlý để thực hiện tốt chức năng đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại cácdoanh nghiệp.

c) Về phát triển một số ngành sản xuất công nghiệp:

- Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản: Đây là ngànhcông nghiệp có tiềm năng lớn, vì vậy Bộ cần phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tập trung nghiên cứucơ chế chính sách để khuyến khích phát triển cơ khí hóa trong sản xuất nôngnghiệp.

- Công nghiệp khoáng sản: Trong thời gian tới, thực hiệnnghiêm túc chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý hoạt động tìmkiếm, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản; chỉ cho phép thực hiện nhữngdự án khai thác khoáng sản gắn với chế biến sâu, đảm bảo hiệu quả đầu tư và bảovệ môi trường.

- Công nghiệp cơ khí: Bộ Công Thương đã ban hành danh mụccác sản phẩm thiết bị chế tạo trong nước. Để khuyến khích phát triển mạnh côngnghiệp cơ khí chế tạo, Bộ cần đẩy mạnh kiểm tra, giám sát, yêu cầu các tậpđoàn, các tổng công ty thực hiện cơ chế chủ động tự quyết định và tự chịu tráchnhiệm về giao cho các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện các gói thầu chế tạo máymóc, thiết bị mà trong nước có thể sản xuất.

- Công nghiệp dệt may, da giày: Thời gian qua đã đạt đượcnhiều kết quả cao và đã có chiến lược phát triển phù hợp theo hướng liên kếtdọc, phát triển các thương hiệu, hệ thống phân phối trong và ngoài nước. Trongthời gian tới, ngành công nghiệp dệt may, da giày cần chú trọng hơn trongchuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành và phát triển hệ thống phân phối; chú trọng đầutư nhiều hơn vào khâu hạ nguồn.

d) Về xuất nhập khẩu: cần tập trung tăng cường nguồn lực,đẩy mạnh xúc tiến thương mại có hiệu quả, tiếp tục đàm phán ký kết các hiệpđịnh FTA để tạo điều kiện mở rộng thị trường và khai thác tối đa cơ hội thươngmại với các quốc gia và vùng lãnh thổ. Bộ Công Thương cần tiếp tục tăng cườngphối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệvà các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, ban hành các quy định kỹ thuật để kiểmsoát, hạn chế nhập khẩu.

đ) Về phát triển thị trường trong nước: Bộ cần tiếp tụcnghiên cứu, xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp trongnước phát triển hệ thống phân phối. Tập trung nghiên cứu, ban hành cơ chế quảnlý thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giá và có chế tài xử lý nghiêmcác doanh nghiệp vi phạm nhằm đảm bảo ổn định thị trường, bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng.

e) Về triển khai các dự án điện hạt nhân: Bộ Công Thươngphối hợp chặt chẽ với các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trườngvà các cơ quan, địa phương liên quan tập trung nâng cao năng lực quản lý, đàotạo nguồn nhân lực và xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có liênquan để đảm bảo các điều kiện cho khởi công các dự án điện hạt nhân.

Văn phòng Chính phủ thông báo để các cơ quan, đơn vị biết,thực hiện./

Nơi nhận:
- Thủ tướng, các PTTg;
- Các Bộ: CT, TC, KH&ĐT, XD, QP, TN&MT, NN&PTNT, KH&CN, TT&TT;
- Các Tập đoàn: Dầu khí, Điện lực, Than-Khoáng sản, Hóa chất, Dệt may;
- VPCP: BTCN, các PCN,
các Vụ: KTTH, KGVX, TH, TKBT,
Cổng TTĐT;
- Lưu: VT, KTN (3) Dũng 36

KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM




Văn Trọng Lý