BỘ LAO ĐỘNG
*****

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
*******

Số: 03-LĐ/TT

Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 1977

THÔNG TƯ

HƯỚNGDẪN THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH 133-CP NGÀY 03/8/1976 CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ VỀ CÔNGTÁC ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG

Ngày 03 tháng 8 năm 1976, Hộiđồng Chính phủ đã ban hành quyết định số 133-CP về tăng cường chỉ đạo xây dựngvà quản lý chặt chẽ việc thực hiện các định mức lao động.
Nay Bộ Lao động hướng dẫn và quy định như sau:

I. VỊ TRÍ VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỊNHMỨC LAO ĐỘNG

1. Mức lao động là căn cứ để xácđịnh nhu cầu số lượng và chất lượng lao động cho từng dây chuyền sản xuất, phânxưởng, nhằm cân đối sức lao động với năng lực sản xuất; xác định các hình thứctổ chức lao động, tổ chức sản xuất hợp lý và tiến bộ; xác định nhiệm vụ chotừng người lao động, tổ sản xuất, phân xưởng và cho toàn xí nghiệp trong kỳ kếhoạch. Trên cơ sở đó, lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch lao động tiền lương từngthời kỳ; lập kế hoạch tác nghiệp và điều độ sản xuất hàng ngày tại xí nghiệp.

2. Những tiêu chuẩn và mức laođộng do từng cấp có thẩm quyền ban hành là pháp quy. Thực hiện đúng mức laođộng là một trong năm điều kỷ luật lao động. Mọi công nhân phải thực hiện mức.Cán bộ quản lý, nhân viên kỹ thuật, kinh tế, nghiệp vụ có liên quan đều phảiphục vụ chu đáo cho công nhân thực hiện được mức.

Những người cố tình không chấphành hoặc vận động người khác không chấp hành những mức lao động đã ban hành,thì thủ trưởng đơn vị tùy theo lỗi nặng nhẹ mà thi hành kỷ luật cho đến buộcthôi việc, theo điều lệ hiện hành về kỷ luật lao động.

3. Khi đã giao việc có mức laođộng, phải trả lương cho người lao động theo mức độ hoàn thành mức lao động.Khuyến khích nhiều hơn bằng tiền thưởng đối với những người thực hiện tốt cácmức đã được cấp có thẩm quyền ban hành. Những người lao động được khen thưởng,trước hết phải là những người hoàn thành mức lao động. Những đơn vị kinh tếđược khen thưởng, được công nhận hoàn thành tốt kế hoạch, cũng phải hoàn thànhđịnh mức bình quân cao hơn những đơn vị cùng loại và cùng điều kiện sản xuấtkhông được khen thưởng.

4. Tiêu chuẩn và mức lao độngphải có căn cứ khoa học kỹ thuật. Phải căn cứ vào những quy trình, quy phạm vàtiêu chuẩn về kỹ thuật, tình trạng nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, dụng cụvà những cơ sở tâm sinh lý lao động…Phải xác định những hao phí thời gian khácnhau khi cùng một công việc, nhưng làm trong những điều kiện kỹ thuật và tổchức khác nhau; bảo đảm tiết kiệm cả sức lao động và vật tư thiết bị, bảo đảmdễ hiểu, dễ sử dụng trong các mặt quản lý và khi giao việc cho người lao động.

5. Mức lao động hợp lý và tiêntiến phải thể hiện được yêu cầu tăng năng suất lao động, bảo đảm tiêu chuẩnchất lượng sản phẩm, phản ảnh những tiến bộ khoa học, kỹ thuật và kinh nghiệmlao động tiên tiến đã được tổng kết và phổ biến. Khi nghiên cứu xây dựng mức vàtrong quá trình tổ chức thực hiện mức, phải chấn chỉnh và cải tiến tổ chức sảnxuất, tổ chức lao động để thường xuyên có mức tiên tiến và chỉ tổ chức sản xuấtvà tổ chức lao động tốt mới bảo đảm thực hiện mức lao động được tốt.

6. Mức lao động không phải chỉphản ánh tính pháp lệnh trong sản xuất và tính khoa học kỹ thuật, mà còn phảnánh tính quần chúng. Vì vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thủ trưởng cơ sở phảicùng công đoàn giáo dục ý thức làm chủ tập thể của mọi người lao động. Phảithường xuyên giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữathủ trưởng và quần chúng. Khi tiến hành công tác định mức lao động, thủ trưởngcơ sở phải dựa chắc vào những công nhân, viên chức tích cực, gương mẫu trongsản xuất và công tác; phải khéo kết hợp với các cuộc vận động chính trị, các sựkiện chính trị quan trọng (như các dịp đại hội Đảng, hội nghị công nhân viênchức, các ngày kỷ niệm, ngày lễ lớn…) để nâng cao giác ngộ chính trị; trên cơsở đó, thúc đẩy chấn chỉnh và cải tiến công tác định mức lao động, làm cho mọingười thấy rõ nghĩa vụ và quyền lợi thiết thân trong khi thực hiện những mứclao động hợp lý và tiên tiến, thường xuyên coi mức lao động là thước đo lòngyêu nước, sự cống hiến của mình cho chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, mức lao động khôngphải chỉ thực hiện bằng động viên tinh thần mà còn phải được thực hiện bằngkhuyến khích vật chất, áp dụng đúng đắn chế độ tiền lương và tiền thưởng, tăngcường cơ sở phúc lợi công cộng. Phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức laođộng còn là nguồn tăng thu nhập chính đáng của người lao động.

Trong quá trình xây dựng và ápdụng mức, thủ trưởng đơn vị phải hết sức chăm lo cải tiến tổ chức và quản lýsản xuất, ổn định sản xuất, ổn định lực lượng công nhân kỹ thuật, xác địnhnhiệm vụ sản xuất rõ ràng, bảo đảm các điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiếtnhư nguyên vật liệu, công cụ, phụ tùng thay thế… Vì vậy, phải xác định rõ tráchnhiệm cho các bộ môn quản lý ra sức chuẩn bị và phục vụ tốt sản xuất và đờisống, bảo đảm các điều kiện tổ chức, kỹ thuật như mức đã quy định, tạo điềukiện thuận lợi cho công nhân đạt mức. Mỗi khi điều kiện tổ chức, kỹ thuật cóthay đổi lớn, phải kịp thời thay đổi mức và đơn giá.

II. XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN VÀMỨC LAO ĐỘNG

1. Việc xây dựng tiêu chuẩn vàmức lao động phải có kế hoạch, phương án cụ thể, và phải phân công rõ ràng giữanhững bộ phận và cán bộ có trách nhiệm trực tiếp tham gia. Kế hoạch và phươngán này cần được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt mức (hoặc cơ quan có tráchnhiệm thỏa thuận ban hành mức) thông qua để góp ý kiến hoặc điều hòa hợp lýkhối lượng xây dựng tiêu chuẩn và mức giữa các đơn vị có liên quan. Việc lập kếhoạch, dự trù kinh phí xây dựng tiêu chuẩn và mức lao động phải theo đúng thôngtư số 33-TC/UBKHKTNN ngày 21-10-1975 của liên bộ Tài chính - Ủy ban Khoa họckỹ thuật Nhà nước hướng dẫn việc quản lý chi tiêu về nghiên cứu khoa học kỹthuật.

2. Khi xây dựng hoặc sửa đổitiêu chuẩn và mức lao động, phải căn cứ vào những tài liệu sau đây:

- Các tiêu chuẩn, quy trình, quyphạm về kỹ thuật và các nguyên tắc, chế độ, thể lệ có liên quan khác hiện hànhcủa Nhà nước;

- Những kinh nghiệm tiên tiến vàtiến bộ khoa học kỹ thuật, những phương án cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sảnxuất và những trang bị kỹ thuật mới sẽ áp dụng trong kỳ kế hoạch;

- Những tài liệu tổng kết vềquản lý xí nghiệp, nhất là quản lý kỹ thuật và quản lý lao động;

- Những tài liệu tổng hợp vàphân tích tình hình thức hiện mức lao động của đơn vị;

- Những tài liệu khảo sát thựctế ở hiện trường về tổ chức sản xuất, tổ chức lao động.

3. Tiêu chuẩn để định mức laođộng phải xây dựng theo phương pháp khảo sát phân tích và phải có thí nghiệm.

Mức lao động được xây dựng theophương pháp tính toán phân tích hoặc phương pháp khảo sát phân tích.

4. Khi khai thác những tài liệuthống kê, phải phân rõ giờ công thực làm (tách riêng giờ làm theo chế độ và giờlàm thêm), giờ công ngừng việc có lý do, giờ công làm các việc khác (không phảiđể hoàn thành sản phẩm), giờ công phải sử dụng thêm do không theo đúng quyđịnh. Đồng thời tùy loại sản phẩm, phải thống kê đúng đắn sản lượng làm ratrong một khoảng thời gian nhất định (ca làm việc, tuần, tháng, quý…), đốichiếu sản lượng làm ra với số giờ công thực sự cần thiết, phân tích để tính ramức lao động.

5. Các mức (Hoặc bảng mức) laođộng phải trình bày rõ hai phần chủ yếu:

- Mức lao động (sản lượng/giờ;sản lượng/ca; giờ/đơn vị sản lượng,v.v…) và đơn giá;

- Những nhân tố có ảnh hưởng chủyếu đến mức lao động: nội dung và thành phần công việc; đặc tính kỹ thuật vàtiêu chuẩn chất lượng; máy móc, thiết bị và các chế độ làm việc của máy móc,thiết bị đó; đặc tính đối tượng lao động và dụng cụ; điều kiện làm việc và tìnhtrạng nơi làm việc; quy định về bảo hộ lao động và kỹ thuật an toàn; cấp bậccông việc, cấp bậc công nhân; các hệ số điều chỉnh cần thiết nếu có.

6. Sau khi đã có đủ những mứcchi tiết cần thiết, phải dựa vào quá trình công nghệ sản xuất, tính ra mức laođộng tổng hợp của đơn vị sản phẩm xí nghiệp.

Mức lao động tổng hợp này tínhbằng tổng cộng lượng lao động công nghệ, lượng lao động phụ và phục vụ, lượnglao động quản lý.

Lượng lao động công nghệ (còngọi là lượng lao động chính) là tổng cộng lượng lao động định mức của tất cảcác nguyên công theo quy trình và hành trình công nghệ của sản phẩm đó. Lượnglao động phụ và phục vụ dựa vào các mức phục vụ hợp lý của tất cả các công nhânphụ và phục vụ trong các phân xưởng chính và các bộ phận phụ của xí nghiệp;cũng có thể tính theo tỷ lệ phần trăm (%) so với lượng lao động công nghệ.Lượng lao động quản lý dựa vào số lượng quy định của Nhà nước về cán bộ quảnlý, nhân viên kỹ thuật, kinh tế, nghiệp vụ của xí nghiệp.

Cấp bậc công việc kèm theo mứclao động tổng hợp của đơn vị sản phẩm xí nghiệp là cấp bậc công việc bình quâncủa các loại lao động nói trên.

7. Các tiêu chuẩn và mức laođộng trước khi trình duyệt và ban hành, phải được áp dụng thử để kiểm tra lạimức độ chính xác và tính hiện thực, bổ sung kinh nghiệp tiên tiến mới, xem xéthiệu quả kinh tế và điều chỉnh cho thật hợp lý.

III. XÉT DUYỆT, BAN HÀNH TIÊUCHUẨN VÀ MỨC LAO ĐỘNG

1. Trách nhiệm và quyền hạn xétduyệt, ban hành mức các cấp như sau:

a) Tiêu chuẩn và mức lao độngcủa Nhà nước do Bộ Lao động ban hành sau khi trao đổi ý kiến với Tổng công đoànViệt Namvà các Bộ, Tổng cục có liên quan.

b) Tiêu chuẩn và mức lao độngngành do các Bộ, Tổng cục hoặc ngành xây dựng theo sự phân công của Nhà nước,phải được công đoàn ngành (nếu có) góp ý kiến và do thủ trưởng Bộ, Tổng cụchoặc ngành ban hành sau khi được sự thỏa thuận bằng văn bản của Bộ Lao động (hoặc Sở, Ty lao động nếu dùng trong phạm vi địa phương). Chỉ khi có văn bảnthỏa thuận của Bộ Lao động, các tập định mức ngành mới có hiệu lực.

c) Tiêu chuẩn và mức lao độngcủa tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do sở, Ty lao động cùng các Sở, Tychủ quản xây dựng cho những công việc đặc biệt chỉ có ở một địa phương mà Nhànước không quản lý mức thống nhất, phải được liên hiệp công đoàn góp ý kiến vàdo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành.Trước khi ban hành, phải báo cáo với Bộ Lao động và phải tuân thủ những quy địnhcủa Nhà nước về công tác định mức lao động.

d) Mức lao động của cơ sở: Nhữngcông việc mà ngành và Nhà nước không quản lý mức hoặc chưa có mức thì cơ sở tựxây dựng mức. Mức lao động của cơ sở tự xây dựng phải được công đoàn cơ sở gópý kiến, cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp xét duyệt và do thủ trưởng cơ sở banhành. Chỉ khi thủ trưởng cơ quan quản lý cấp trên xét duyệt, mức cơ sở mới đượcban hành và mới có hiệu lực và chỉ có giá trị khi chưa có mức của ngành và mứccủa Nhà nước.

2. Những cơ quan, đơn vị đượcphân công xây dựng tiêu chuẩn và mức lao động phải trình lên cơ quan xét duyệtnhững tài liệu sau đây:

- Những bản dự thảo tiêu chuẩnvà mức, trình bày theo quy định tại điểm 5 mục II trên đây;

- Những tài liệu làm căn cứ đểdự thảo ra những tiêu chuẩn và mức đó;

- Những tài liệu theo dõi vàtổng hợp kết quả áp dụng thử các tiêu chuẩn và mức dự báo;

- Những tài liệu khác do cơ quanxét duyệt yêu cầu và đã báo trước.

3. Để giúp cho việc xét duyệt mứcđược tốt, thủ trưởng cơ quan xét duyệt mức lập ra một hội đồng tư vấn để chuẩnbị bao gồm những thành viên có liên quan đến tiêu chuẩn và mức đưa ra xét duyệt:

- Thủ trưởng cơ quan xét duyệt(hoặc người được chính thức ủy quyền) làm chủ tịch;

- Đại diện của công đoàn cùngcấp;

- Những cán bộ nghiên cứu vàquản lý định mức lao động;

- Những cán bộ kỹ thuật côngnghệ;

- Những cán bộ quản lý kế hoạchsản xuất và lao động, tiền lương, tài vụ, vật tư, vệ sinh lao động.

Đối với những công việc áp dụngrộng rãi trong nhiều Bộ, Tổng cục hoặc Sở, Ty chủ quản, cần có thêm đại diệncủa những cơ quan đó.

Số lượng người trong hội đồng docơ quan xét duyệt quy định. Có thể mời một số cán bộ khoa học kỹ thuật và kinhtế ở các viện và các trường đại học có liên quan tham dự và góp ý kiến trướckhi duyệt mức.

4. Việc xét duyệt mức phải dothủ trưởng cơ quan (hoặc người được chính thức ủy quyền) trực tiếp và chịutrách nhiệm. Hội đồng tư vấn chỉ lập ra trong thời gian xét mức và giải thểngay sau khi công việc xét duyệt mức kết thúc.

Hội đồng tư vấn xét phải có biênbản lưu ở cơ quan xét duyệt.

5. Người bảo vệ tiêu chuẩn vàmức lao động trước hội đồng tư vấn là thủ trưởng đơn vị hoặc ngành (hoặc ngườiđược ủy quyền, người chủ nhiệm đề tài nghiên cứu) đã trực tiếp dự thảo ra cáctiêu chuẩn và mức đó.

Người bảo vệ phải báo cáo trướchội đồng tư vấn:

- Nhiệm vụ được giao;

- Tổ chức thực hiện;

- Những tài liệu làm căn cứ;phương pháp thu nhập, xử lý và phân tích tài liệu đó;

- Phương pháp xây dựng ra cácbản dự thảo tiêu chuẩn hoặc mức và cấp bậc công việc. Sai số của các trị số vàcăn cứ để định ra sai số đó;

- Các hệ số điều chỉnh và phươngpháp xác định hệ số;

- Kết quả áp dụng thử và ý kiếnđánh giá của cán bộ chuyên môn và công đoàn ở những cơ sở tham gia áp dụng thử;

- Nhận xét ưu, nhược điểm củacác tiêu chuẩn và mức đã dự thảo; và giải đáp những ý kiến chất vấn của hộiđồng.

6. Sau khi các thành viên hộiđồng hỏi và góp ý kiến, chủ tịch hội đồng kết luận, đánh giá chất lượng cáctiêu chuẩn và mức lao động.

Nếu có những ý kiến chưa nhấttrí giữa hội đồng và người bảo vệ, phải ghi rõ vào biên bản. Chủ tịch hội đồngphải quyết định những biện pháp tiếp tục giải quyết sự bất đồng đó (như kiểmtra lại trong thực tế…) trong thời gian không quá 1 tháng.

Nếu bảo vệ chưa đạt yêu cầu,người bảo vệ phải thực hiện các kiến nghị và kết luận của chủ tịch hội đồng vềbổ sung, điều chỉnh, sửa đổi hoặc làm lại… và trình duyệt lần sau. Thời hạn dochủ tịch hội đồng quy định.

7. Các ngành đề nghị thỏa thuậnviệc ban hành tiêu chuẩn và mức lao động, phải gửi đến cơ quan lao động nhữngtài liệu nói ở điểm 2, mục III của thông tư này, kèm theo biên bản của hội đồngxét tiêu chuẩn và mức.

Cần báo trước để cơ quan laođộng cử cán bộ có thẩm quyền tham dự hội đồng xét tiêu chuẩn và mức, nhằm thỏathuận được nhanh chóng.

8. Tiêu chuẩn và mức đã được xétduyệt hoặc thỏa thuận đúng thể thức thì thủ trưởng các cấp, căn cứ phạm vitrách nhiệm và quyền hạn đã quy định để ban hành. Tất cả những tiêu chuẩn vàmức lao động đã ban hành của các cơ sở và của các ngành đều phải gửi Bộ Laođộng (hoặc sở, Ty lao động nếu là cơ sở địa phương) để kiểm tra việc tính toánmức lao động tổng hợp của các sản phẩm, xét quan hệ mức giữa các ngành và cácxí nghiệp.

9. Đối với những mức lao độngthống nhất, từ ngày ký ban hành đến ngày chính thức có hiệu lực, phải có khoảngthời gian ít nhất 15 ngày và nhiều nhất không quá 6 tháng đối với những côngviệc phức tạp để công nhân làm quen với mức mới, cán bộ hoàn thiện công tácchuẩn bị sản xuất và hướng dẫn sản xuất theo những quy định và chỉ dẫn trongmức.

Trong thời gian này, thủ trưởngcơ sở phải huy động cán bộ định mức và cán bộ các bộ môn có liên quan thườngxuyên theo dõi, giúp đỡ tạo điều kiện cho công nhân làm quen với mức; chú trọngphổ biến kinh nghiệm tiên tiến trong sản xuất và phân tích những nguyên nhânkhông hoàn thành mức, để kịp thời giúp đỡ công nhân rút kinh nghiệm.

Quyết định ban hành tiêu chuẩnvà mức phải ghi rõ ngày chính thức có hiệu lực.

10. Những công việc mới làm lầnđầu mà lẻ tẻ, có khối lượng ít và sản xuất đơn chiếc, thì định mức không đợi ápdụng thử, cơ sở chưa phải trình cấp trên duyệt ngay. Thủ trưởng cơ sở hội ý vớicông đoàn để cho áp dụng kịp thời, những cán bộ định mức phải ghi vào hồ sơđịnh mức, theo dõi kết quả thực hiện, sau khi báo cáo lên cấp trên trực tiếpduyệt để sử dụng khi sản xuất lặp lại.

IV. QUẢN LÝ, ÁP DỤNG VÀ SỬAĐỔI CÁC MỨC LAO ĐỘNG

1. Tất cả các tiêu chuẩn và mứclao động được xét duyệt và ban hành theo đúng các quy định trên đây mới có giátrị pháp lý trong công tác quản lý và hạch toán.

2. Tất cả các cơ sở phải thựchiện tốt chế độ quản lý định mức lao động.

Cán bộ, công nhân từng bộ phậncần thường xuyên kiểm tra lại những điều kiện tổ chức, kỹ thuật quy định trong mứcso với thực tế hiện trường, phát hiện những điều không khớp để có kiến nghị bổkhuyết kịp thời. Cán bộ định mức có nhiệm vụ kiểm tra lại chứng từ ghi chépban đầu trước khi cơ quan kế toán thanh toán lương cho người lao động, báo ngaycho cơ quan kế toán biết những hiện tượng ghi chép không đúng, đồng thời báocáo với thủ trưởng cơ sở và những cán bộ hữu quan biết để xử lý các hiện tượngđó.

3. Các cơ quan cấp trên trựctiếp của cơ sở có trách nhiệm giúp đỡ, thường xuyên theo dõi và kiểm tra tìnhhình công tác định mức lao động ở cơ sở.

Định kỳ 3 tháng hoặc 6 tháng,căn cứ vào kết quả kiểm tra và các tài liệu báo cáo của cơ sở, phải tổ chứcphân tích tình hình công tác định mức lao động của từng đơn vị và của toànngành, rút ra những kinh nghiệm để phổ biến chung; đống thời thực hiện nghiêmchỉnh chế độ báo cáo theo quy định tại điểm g, điều 1, mục III của quyết địnhsố 133-CP của Hội đồng Chính phủ. Báo cáo phải gửi Thủ tướng Chính phủ và BộLao động (hoặc gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và Sở, Ty lao độngnếu là cơ sở thuộc địa phương).

4. Cơ quan lao động và bộ phậnđịnh mức các cấp phải yêu cầu thủ trưởng ngành và cơ sở chỉ đạo sửa chữa trongmột thời gian nhất định khi phân tích, kiểm tra, phát hiện thấy những hiệntượng sau đây:

- Khi đã có tiêu chuẩn hoặc mứclao động của các cấp trên nhưng ngành hoặc cơ sở không áp dụng, vẫn duy trì mứclạc hậu trong sản xuất;

- Khi điều kiện tổ chức, kỹthuật của cơ sở đã tiên tiến hơn các điều kiện quy định trong các tiêu chuẩn vàmức lao động hiện hành, nhưng cơ sở vẫn áp dụng các mức cũ hoặc có sửa đổinhưng vẫn còn thấp;

- Khi mức lao động của cơ sở quábất hợp lý, không kể nguyên nhân nào, người lao động hoàn thành mức quá dễ dàng(hoặc rất khó khăn) dẫn đến vược quá xa (hoặc hụt quá nhiều) thu nhập so vớitiền lương cơ bản và gây ra lãng phí thời gian lao động quá lớn;

- Khi phát hiện các chứng từ gốcvề quản lý mức lao động ghi chép không rõ ràng, không chính xác, ghi thiếu, tẩyxoá, mâu thuẫn với các chứng từ khác, v.v…đã kiến nghị chấn chỉnh nhưng quaphúc tra nhưng vẫn không được sửa chữa, thì cơ quan lao động cùng với các cơquan hữu quan (kế hoạch, tài chính, thống kê, ngân hàng, vật giá…) kịp thờikiến nghị những biện pháp xử lý thích đáng.

Trường hợp phát hiện định mứcquá thấp không có căn cứ kỹ thuật, gây thiệt hại cho sản xuất và ảnh hưởng xấuđến tư tương công nhân, viên chức, Bộ Lao động ra văn bản yêu cầu thủ trưởngngành chủ quản hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc Trungương đình chỉ áp dụng và tiến hành xây dựng lại mức lao động.

5. Những trường hợp sau đây phảithay đổi ngay mức lao động:

- Khi áp dụng kỹ thuật mới vàosản xuất, có thay đổi quy cách vật tư kỹ thuật, chất lượng sản phẩm và điềukiện làm việc, đã làm cho những điều kiện kỹ thuật và tổ chức cũ quy định trongcác mức lao động không còn phù hợp;

- Khi phát hiện định mức có sailầm do xây dựng theo một phương pháp sai, tính toán trị số mức, cấp bậc côngviệc, đơn giá sai; hoặc do quy định những điều kiện tổ chức, kỹ thuật trong mứclạc hậu so với thực tế; hoặc do xác định mức có trị số thấp hay quá cao so vớikhả năng hoàn thành của người lao động, mặc dù phương pháp định mức đúng, điềukiện tổ chức kỹ thuật không đổi;

- Khi có sáng kiến cải tiến kỹthuật và hợp lý hóa sản xuất đã được khen thưởng và đã phổ biến áp dụng vào sảnxuất.

Đối với những người có sáng kiếncải tiến có tác dụng năng cao mức sản lượng (hoặc hạ thấp mức thời gian) đượccông nhận, thì thủ trưởng cơ sở tính toán hiệu quả, kịp thời thưởng xứng đángtheo chế độ thưởng sáng kiến phát minh hiện hành, cộng thêm khoản bảo lưu đơngiá cũ cho riêng người đó, tối đa 6 tháng sau khi sửa mức.

Nếu chỉ có một công nhân hoặcmột số ít công nhân vượt những mức lao động đã ban hành do họ có trình độ taynghề cao, hoặc sử dụng thành thạo máy móc, thiết bị, dụng cụ thì không sửa ngaymức mà phải có thời gian để hướng dẫn và phổ biến cho nhiều người cùng áp dụngvà sau khi số đông đã làm được như thế một thời gian từ 3 tháng đến 6 tháng mớitiến hành sửa mức.

6. Từng kỳ kế hoạch, đi đôi vớikế hoạch sản xuất và kế hoạch tiến bộ kỹ thuật, phải đồng thời lập và thực hiệnkế hoạch sửa đổi mức để khi áp dụng kỹ thuật mới thì đã có mức mới. Nếu nhữngbiện pháp kỹ thuật mới do Bộ chủ quản đưa xuống thì kế hoạch sửa đổi mức phảido Bộ chủ quản lập hoặc chỉ đạo cơ sở lập.

Trường hợp cơ sở có điều kiệnsửa mức tiên tiến hơn mức mà ngành và Nhà nước (hoặc địa phương) đã ban hànhthì thủ trưởng cơ sở báo cáo cho cơ quan có thầm quyền xét duyệt hoặc ban hànhmức đó biết. Cơ quan này phải nghiên cứu và chậm nhất là sau 1 tháng, phải raquyết định mới về xét duyệt mức đã sửa. Khi mức đã sửa tiên tiến hơn mức cũ,trong 6 tháng đầu, cơ sở này được hưởng tiền thưởng tiết kiệm tương đối quỹtiền lương đã được duyệt theo chế độ tiền thường hiện hành.

V. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

1. Thông tư này áp dụng cho khuvực sản xuất quốc doanh và công ty hợp doanh trong cả nước. Các ngành và các cơsở ở các tỉnh, thành phố trong Namcũng phải tiến hành công tác định mức lao động và bảo đảm mức năng suất bằnghoặc cao hơn mức năng suất đã đạt được trước khi tiếp quản.

Trong khu vực kinh tế tập thể,các ngành, các địa phương cần vận dụng cho thích hợp; nếu có điều kiện, có thểban hành những quy định riêng, sau khi có sự thoả thuận của Bộ Lao động.

2. Các ngành, các địa phương khitriển khai thực hiện quyết định số 133-CP của Hội đồng Chính phủ và thông tưnày, có thể cụ thể hóa những điều cần thiết cho phù hợp với đặc điểm sản xuấtcủa Bộ, ngành và địa phương mình, sau khi trao đổi ý kiến với Bộ Lao động.

3. Định mức cho viên chức sẽhướng dẫn sau.

4. Những quy định trước đây vềcông tác định mức lao động trái với quyết định số 133-CP và thông tư này đềubãi bỏ.

VI. CÁC PHỤ BẢN KÈM THEO

Kèm theo thông tư này, có 2 phụbản để các ngành, các địa phương và các cơ sở vận dụng cho thích hợp:

1. Một số quy định cơ bản vềtiêu chuẩn và mức lao động;

2. Bản hướng dẫn mẫu về tổ chứcvà biên chế làm công tác nghiên cứu và quản lý mức lao động (1)

BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG




Nguyễn Thọ Chân

MỘTSỐ QUY ĐỊNH CƠ BẢN VỀ TIÊU CHUẨN VÀ ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG

1. Công tác định mức lao độnglà một tập hợp những công việc: xây dựng, xét duyệt, ban hành, áp dụng,quản lý thực hiện, sửa đổi các mức lao động.

2. Định mức lao động (gọilà mức lao động) là lượng lao động hao phí được quy định để hoàn thành một đơnvị sản phẩm (hoặc một khối lượng công việc) đúng tiêu chuẩn chất lượng, trongnhững điều kiện tổ chức, kỹ thuật nhất định.

Định mức lao động được biểu hiệndưới hình thức:

a) Mức thời gian là lượngthời gian hao phí quy định cho một hay một nhóm người lao động có trình độnghiệp vụ thích hợp để hoàn thành một đơn vị sản phẩm (hoặc một khối lượng côngviệc) đúng tiêu chuẩn chất lượng, trong những điều kiện tổ chức, kỹ thuật nhấtđịnh.

Mức thời gian tính bằng giây/đơnvị sản phẩm, phút /đơn vị sản phẩm, giờ/đơn vị sản phẩm… Người lao động làmvượt quá thời gian này là không hoàn thành mức lao động;

Hoặc:

b) Mức sản lượng là sốlượng đơn vị sản phẩm ( hoặc khối lượng công việc) quy định cho một hay một nhómngười lao động có trình độ vụ thích hợp phải hoàn thành trong một đơn vị thờigian (phút, giờ, ca,…), đúng tiêu chuẩn chất lượng, trong những điều kiện tổchức kỹ thuật nhất định. Người lao động làm được ít hơn số lượng đơn vị sảnphẩm quy định là không hoàn thành mức lao động.

3. Tiêu chuẩn để định mức laođộng là những tài liệu làm căn cứ để xây dựng các mức lao động được nhanhchóng, chính xác. Những tiêu chuẩn này gồm có: tiêu chuẩn chế độ làm việc củamáy móc, thiết bị; tiêu chuẩn thời gian; tiêu chuẩn phục vụ; tiêu chuẩn biênchế.

Tiêu chuẩn chế độ làm việc củamáy móc, thiết bị là những quy định về các thông số vận hành của máy móc,thiết bị, nhằm bảo đảm sử dụng máy móc, thiết bị hợp lý nhất.

Những tiêu chuần này do bộ mônkỹ thuật xây dựng và cung cấp, dùng để tính toán thời gian máy khi định mức laođộng và đề tính ra năng suất thực tế của máy móc, thiết bị trong những điềukiện sản xuất cụ thể.

Tiểu chuẩn thời gian làlượng thời gian hao phí quy định đề hoàn thành một động tác, một thao tác hoặctổ hợp thao tác của một nguyên công (bước công việc).

Những tiêu chuẩn này dùng đểtính ra mức thời gian làm công việc bằng tay hoặc vừa máy vừa tay; gồm có: Tiêuchuẩn thời gian tác nghiệp ( chia ra chính phụ); tiêu chuẩn thời gian phục vụ;tiêu chuẩn thời gian nghỉ cần thiết cá nhân và giải lao; tiêu chuẩn thời gianchuẩn bị và kết thúc.

Tiểu chuẩn (mức) phục vụ làsố lượng địa điềm làm việc trong nhà máy hay khu vực sản xuất, đơn vị thiết bị,diện tích sản xuất quy định cho một hay một nhóm người lao động có trình độnghiệp vụ thích hợp trong những điều kiện tổ chức, kỹ thuật nhất định, côngviệc ổn định, lặp lại có chu kỳ.

Tiêu chuẩn này áp dụng khi khôngthể định mức thời gian và định mức sản lượng được.

Tiêu chuẩn (mức) biên chế (còngọi là định biên hoặc định mức quản lý) là số lượng người lao động có trình độnghiệp vụ thích hợp, quy định chặt chẽ để thực hiện một khối lượng công việc cụthể nhất định trong bộ máy quản lý xí nghiệp hay cơ quan.

Tiêu chuẩn này được áp dụng khikhông thể định mức thời gian, định mức sản lượng và định mức phục vụ được.

4. Về mặt quản lý, định mứclao động chia ra: Tiêu chuẩn và mức của Nhà nước của ngành, của tỉnh hoặc thànhphố trực thuộc trung ương của cơ sở.

- Tiêu chuẩn và mức của Nhànước dùng cho những công việc áp dụng trong nhiều cơ sở thuộc nhiều ngànhquản lý, do Bộ Lao động phối hợp với các Bộ, các ngành xây dựng, theo kế hoạchchung và do Bộ Lao động ban hành.

- Tiêu chuẩn và mức của ngànhdùng cho những công việc áp dụng trong nhiều cơ sở thuộc một ngành quản lý,do Bộ, ngành đó tổ chức xây dựng khi những công việc này không có tiêu chuẩn vàmức thống nhất của Nhà nước. Tiêu chuẩn và mức của ngành do thủ trưởng ngànhban hành sau khi được Bộ Lao động thỏa thuận.

- Tiêu chuẩn và mức của tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương dùng cho những công việc đặc biệt chỉ có ởmột địa phương mà Nhà nước không quản lý mức thống nhất, do Sở, Ty lao độngcùng các Sở, Ty chủ quản xây dựng và do chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương ban hành. Trước khi ban hành, phải báo cáo với Bộ Laođộng và phải tuân thủ những quy định của Nhà nước về công tác định mức lao động.

- Tiêu chuẩn và mức của cơ sởdùng cho những công việc chỉ áp dụng trong một cơ sở, do cơ sở tự xây dựng khinhững công việc đó không có tiêu chuẩn và mức thống nhất của cấp trên (Nhànước, ngành); hoặc đã có tiêu chuẩn mà cấp trên chưa kịp ban hành mức. Nhưngkhi cấp trên đã ban hành mức thống nhất thì mức cơ sở không còn giá trị. Mức docơ sở xây dựng phải đuợc cấp trên xét duyệt trước khi thủ trưởng cơ sở ký banhành.

Khi những công việc này đã ápdụng phổ biến trong nhiều cơ sở thì ngành chủ quản cấp trên của cơ sở phải tổchức xây dựng và ban hành tiêu chuẩn hoặc mức của ngành.

5. Tiêu chuẩn và mức của Nhànước, của ngành của tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương có thể ban hànhdưới hình thức thống nhất hoặc mẫu.

- Tiêu chuẩn và mức thốngnhất quy định và bắt buộc phải áp dụng cho những chi tiết, sản phẩm, côngviệc thực hiện theo quá trình công nghệ thống nhất, trong những điều kiện tổchức, kỹ thuật giống nhau ở các cơ sở.

- Tiêu chuẩn và mức mẫu quyđịnh có tính chất hướng dẫn để áp dụng cho những chi tiết, sản phẩm, côngviệc thực hiện theo quá trình công nghệ mẫu, khi trình độ tổ chức, kỹ thuật quyđịnh chỉ mới đạt được ở một số cơ sở.

- Tiêu chuẩn và mức mẫu cũng cóthể trở thành bắt buộc áp dụng với một tỷ lệ cho phép xê dịch nhất định, nhưngphải được quy định rõ khi ban hành.

6. Mức lao động tổng hợp củađơn vị sản phẩm xí nghiệp. (hoặc gọi là lượng lao động định mức của đơn vịsản phẩm xí nghiệp) là tổng lượng lao động (sống) định mức cho toàn bộ các chitiết của một đơn vị sản phẩm hàng hóa của xí nghiệp.

Mức lao động tổng hợp là mộttrong những căn cứ vững chắc để tính toán kế hoạch; giao nhiệm vụ sản xuất vàchi tiêu tăng năng suất lao động.