BỘ LAO ĐỘNG
********

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 04-LĐ/TT

Hà Nội, ngày 15 tháng 2 năm 1975

THÔNG TƯ

CỦABỘ LAO ĐỘNG SỐ 04-LĐ/TT NGÀY 15 THÁNG 2 NĂM 1975 HƯỚNG DẪN VIỆC ĐĂNG KÝ LAO ĐỘNGCHO CÔNG DÂN TRONG TUỔI LAO ĐỘNG, CẤP THẺ LAO ĐỘNG CHO CÔNG DÂN ĐANG CÓ VIỆCLÀM

Thi hành Nghị định số 97-CP ngày2 tháng 5 năm 1974 của Hội đồng Chính phủ và nghị quyết của Thường vụ Hội đồngChính phủ họp ngày 5 tháng 12 năm 1974 (thông báo số 86-TB ngày 20 tháng 12 năm1974) về việc đăng ký lao động, cấp sổ lao động và cấp thẻ lao động cho côngdân trong tuổi lao động có sức lao động, Bộ Lao động hướng dẫn và quy định chitiết thi hành đăng ký lao động, cấp thẻ lao động.

I. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU

Đăng ký lao động đối với côngdân trong tuổi lao động, có sức lao động nhằm tăng cường quản lý lao động xãhội, bảo đảm cho chính quyền từ cơ sở (xã, khu phố) nắm chắc được lực lượng laođộng xã hội; từng bước sắp xếp việc làm cho những người trong tuổi lao động cósức lao động nhằm thực hiện nghĩa vụ lao động và quyền làm việc của công dân;quản lý lao động đến từng người, hiểu rõ về nghề nghiệp, sức khoẻ, trình độ vănhoá và tình hình làm việc của công dân có sức lao động, làm cơ sở cho việcnghiên cứu phân tích đặc điểm lao động từng vùng kinh tế, từng địa phương để cókế hoạch phân bổ, điều phối, động viên, sử dụng hợp lý sức lao động xã hội, làmcho mọi người đều có thể tham gia xây dựng, phát triển kinh tế, củng cố quốcphòng và xây dựng hạnh phúc riêng.

Cấp thẻ lao động cho tất cả côngdân trong tuổi lao động đang làm việc, kết hợp với quản lý lương thực, quản lýthị trường và trật tự trị an, chống làm ăn phi pháp, để đưa tất cả mọi ngườivào làm ăn chính đáng, bài trừ tận gốc mọi tệ nạn xã hội.

Vì vậy đăng ký và cấp thẻ laođộng có ý nghĩa lớn về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đáp ứng yêu cầutrước mắt, đồng thời là cơ sở lâu dài để từng bước phân bổ và tổ chức lại laođộng toàn xã hội.

Sau đây là những quy định cụ thể.

II. ĐĂNG KÝ LAO ĐỘNG

Đăng ký lao động là chế độ đểquản lý người lao động tại xã, khu phố nơi mà người lao động đang cư trú chínhthức.

1- Nội dung đăng ký lao động:

Nội dung đăng ký lao động theomẫu tờ khai thống nhất do Bộ Lao động ban hành, bao gồm:

- Họ và tên...

- Ngày tháng, năm sinh... Nam, nữ....

- Quê quán, dân tộc...

- Nơi đăng ký nhân khẩu thườngtrú... - Nghề nghiệp và chức vụ đang làm....

- Nơi làm việc (tổ chức nào haycá thể, ở đâu)...

- Nghề nghiệp chính...

- Trình độ văn hoá...

- Sức khoẻ...

- Khi cần báo tin cho ai, ởđâu...

- Số giấy chứng minh hay căncước...

- Lời cam đoan và ký tên hoặcđiểm chi...

2- Đối tượng đăng ký lao động:

Tất cả công dân Việt Nam trongtuổi lao động: Nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi và những người trênđộ tuổi lao động vẫn còn là lao động chính đều phải đăng ký lao động, bao gồm:

a) Công nhân, viên chức Nhànước, kể cả công nhân viên quốc phòng và công an, cán bộ, nhân viên chuyêntrách công tác Đảng, đoàn thể, thanh niên xung phong tại ngũ;

b) Xã viên các loại hợp tác xã,tổ viên các tổ hợp tác, tổ phục vụ; những người làm ăn riêng lẻ, kể cả côngnhân viên chức về nghỉ mất sức đã phục hồi sức khoẻ, bộ đội phục viên (gọi tắtlà những người thuộc khu vực tập thể và cá thể);

c) Học sinh các trường phổthông, các trường đại học, trung học, sơ cấp chuyên nghiệp, trường dạy nghề,trưởng Đảng, đoàn thể theo hệ chính quy, dài hạn;

d) Thương, bệnh binh đã chuyểnra khỏi Quân đội và những cán bộ đi công tác xa về hiện còn chờ sắp xếp hoặcđang ở các trạm, trại do các Bộ, các ngành hay Uỷ ban hành chính tỉnh, thànhphố quản lý...

Không đăng ký lao động đối vớinhững người tàn phế, mất trí, già yếu mất sức, không còn khả năng lao động;những người đang ở tù ngồi, người đang tập trung cải tạo.

3- Cách tiến hành đăng ký vànhững thủ tục đăng ký lao động:

a) Tháng 1 hàng năm tiến hànhđăng ký lao động đối với người đến tuổi lao động nói tại điểm 2 trên đây.

b) Công nhân, viên chức Nhànước; học sinh các trường đại học, trung học, sơ cấp chuyên nghiệp, trường dạynghề, trường Đảng, đoàn thể; và những cán bộ còn chờ sắp xếp công việc thì đăngký tại đơn vị mình đang công tác, hoặc chờ công tác, hay ở trường học, v.v...

Mỗi người phải làm một tờ khainộp cho đơn vị quản lý. Căn cứ vào tờ khai, đơn vị tiến hành đăng ký vào sổnhân sự (không phải lập sổ đăng ký lao động) và viết vào thẻ lao động, sổ laođộng (nếu có). Sau đó cơ quan, xí nghiệp, trường học... kể cả đơn vị trực thuộcTrung ương tổng hợp báo cáo số lượng lao động của đơn vị mình với Uỷ ban hànhchính (Sở, Ty Lao động) nơi đơn vị đóng.

Đối với công nhân, viên chứcquốc phòng và công an do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an hướng dẫn thực hiện.

c) Những người lao động thuộckhu vực tập thể, cá thể, học sinh phổ thông đăng ký lao động tại Uỷ ban hànhchính xã, khu phố, thị xã, thị trấn nơi cư trú chính thức và tiến hành như sau:

- Tháng12 hàng năm, Uỷ ban hànhchính cơ sở căn cứ vào sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu để lập danh sách công dânđến tuổi lao động của năm sau và thông báo cho đương sự biết để thực hiện chếđộ đăng ký lao động.

- Nam nữ công dân đến tuổi đăngký lao động phải làm tờ khai đăng ký lao động nộp cho Uỷ ban hành chính nơi cưtrú chính thức theo đúng thời hạn quy định, có chứng nhận của công an hộ tịch.ở nông thôn, việc làm tờ khai đăng ký lao động chỉ áp dụng đối với nam nữ thanhniên 16, 17, 18 tuổi; thợ thủ công chuyên nghiệp (ngoài hợp tác xã nôngnghiệp), còn những người lao động khác thì do Uỷ ban hành chính dựa vào sổ đăngký hộ tịch, hộ khẩu và các tài liệu khác (bản khai điều tra dân số 1 tháng 4năm 1974; kê khai cấp phát tem phiếu...) để ghi vào sổ đăng ký lao động. Nếu cóđiểm nào chưa đầy đủ thì Uỷ ban hành chính yêu cầu người có tên trong sổ đăngký lao động phải khai bổ sung.

d) Người đã đăng ký lao độngnhững năm trước thì không phải đăng ký lại năm sau, nhưng có thay đổi gì vềnghề nghiệp, nơi làm việc, sức khoẻ, hoặc trình độ văn hoá... cũng phải đến Uỷban hành chính cơ sở để đăng ký bổ sung theo sự hướng dẫn của cơ quan lao độngđịa phương.

e) Khi công dân đổi nơi cư trú,phải đến uỷ ban hành chính báo xin di chuyển đăng ký lao động và Uỷ ban hànhchính nơi cư trú cũ trả lại tờ khai (yêu cầu người nhận ký tên vào sổ chuyểnđi, xoá tên ở sổ đăng ký lao động) để người đó đến nộp xin đăng ký lao động ởUỷ ban hành chính cơ sở nơi mới đến.

g) Công dân được tuyển vào cơquan, xí nghiệp Nhà nước thì Uỷ ban hành chính cơ sở nhất thiết phải chuyển tờkhai đăng ký lao động của người lao động cho cơ quan tuyển, coi đó là một chứngchỉ về lao động; không tuyển dụng người không có tờ khai đăng ký lao động.

4- Các viết tờ khai đăng ký laođộng:

Công dân đăng ký lao động phảitừ viết tờ khai đúng sự thật, cụ thể:

- Họ và tên; ngày tháng, nămsinh; nam nữ; quê quán; dân tộc: Khai đúng với giấy chứng minh hay căn cước vàsổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu.

- Nơi đăng ký nhân khẩu thườngtrú: Khai đúng số nhà, tên phố hoặc tên thôn, bản, hợp tác xã; tên huyện haykhu phố; tên tỉnh, thành phố. Những người được điều động công tác mà chưa đượcđăng ký hộ khẩu thường trú, nhưng được cơ quan công an cấp giấy tạm trú từ 3tháng trở lên thì phải ghi rõ cả số giấy phép và lý do tạm trú.

- Nghề nghiệp chức vụ đang làm:Phải khai rõ cấp bậc kỹ thuật của nghề và chức vụ công tác đang làm (nếu có)theo đúng giấy chứng nhận và văn bằng. Những công việc mà trong danh mục nghềnghiệp chưa có thì khai đúng tên việc làm đó. Nếu đang học phổ thông thì khai<học sinh phổ thông>. - Nơi làm việc: Tên cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã;nếu làm ăn riêng lẻ thì khai địa điểm làm việc; đang đi học thì khai tên trường.

- Nghề nghiệp chính: Khai cấpbậc kỹ thuật của nghề hoặc trình độ nghiệp vụ đã làm thành thạo nhất (nếu có)theo văn bằng hay giấy chứng nhận của nhà trường, hoặc căn cứ vào chứng nhậntrong điều tra dân số 1 tháng 4 năm 1974.

- Trình độ văn hoá: Khai theotrình độ đã học có văn bằng, giấy chứng nhận tốt nghiệp, chứng nhận học bạ hoặcchứng nhận của hiệu trưởng..., những lớp đang học dở dang thì ghi thêm (theocách <ghi chú> lớp đang học.

- Sức khoẻ: Chỉ riêng đối vớinam từ 18 đến 45 tuổi trong diện khám tuyển quân, tuyển lao động thì phải khai theokết luận của y, bác sĩ có trách nhiệm khám sức khoẻ.

- Khi cần báo tin cho ai? ở đâu?khai rõ tên, địa chỉ của người thân thuộc nhất với người làm tờ khai.

- Số giấy chứng minh hay căncước: Viết rõ cả chữ cái, ký hiệu sau hàng chữ số.

Tờ khai đăng ký lao động phảiviết sạch sẽ, rõ ràng, không được tẩy xoá, người khai phải ký tên hoặc điểm chỉdưới lời cam đoan chịu trách nhiệm về lời khai.

5- Lập sổ đăng ký lao động:

Sổ đăng ký lao động được lập tạixã, khu phố, thị trấn và do Uỷ ban hành chính quản lý. Nhưng để thuận tiện choviệc ghi chép, mỗi tiểu khu, phố, thôn, bản hoặc hợp tác xã (nông nghiệp...)được viết vào một quyền riêng.

- Cứ 6 tháng, Uỷ ban hành chínhcơ sở (cơ quan lao động, công an, thống kê) phải kiểm tra đối chiếu sổ đăng kýlao động với sổ đăng ký hộ tịch hộ khẩu để thống nhất năm lao động biến động vàtổng hợp báo cáo lên Uỷ ban hành chính cấp trên (cơ quan lao động).

Sổ đăng ký lao động thuộc tàiliệu mật, phải được bảo quản tốt. Người phụ trách quản lý sổ không được chomượn; người không có trách nhiệm không được tự ý xem. Uỷ ban hành chính phảigiao cho cán bộ có đủ tín nhiệm về chính trị, có trình độ văn hoá phụ trách ghichép và bảo quản sổ.

Cách ghi chép sổ đăng ký laođộng:

a) Bìa sổ: Tên địa phương phảighi đậm nét, rõ ràng. Mỗi quyển phải đánh số và ghi năm bắt đầu ghi sổ và nămhết sổ.

b) Danh sách đăng ký lao động:Ghi lần lượt theo từng người của từng hộ, từng khu nhà ở, đường phố, thôn, bản,hợp tác xã... mỗi người viết nhiều nhất là 3 dòng kẻ; hộ sau viết cách hộ trước6 dòng kẻ đề phòng đăng ký thêm sau này.

Cần ghi vào các cột trong sổđúng với tờ khai hướng dẫn ở điểm 4.

Riêng cột cuối cùng: Cán bộ phụtrách ghi sổ phải căn cứ vào tờ khai bổ sung của người lao động (nếu có) và cácgiấy tờ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận mà ghi những thay đổi vềnghề nghiệp, trình độ văn hoá, sức khoẻ, nơi cư trú, nơi làm việc... Người dichuyển đi nơi khác, người chết, sau khi ghi rõ lý do, phải kẻ một gạch chéo lêntên trong sổ bằng bút mực.

c) Tổng hợp số người đăng ký laođộng:

Sau khi đăng ký lao động (tháng1) và kiểm tra vào tháng 6, Uỷ ban hành chính cơ sở phải lên biểu tổng hợp sốngười đăng ký lao động (để báo cáo lên cấp trên theo đúng mẫu và sự hướng dẫncủa liên Bộ Lao động - Tổng cục Thống kê). Riêng phần tổng hợp về nghề nghiệp,tuỳ tình hình thực tế của địa phương để ghi theo từng nhóm nghề nghiệp và cáccột thống kê, nhóm xây dựng cơ bản, nhóm cơ khí...

d) Xác nhận đăng ký:

Hàng năm, sau mỗi kỳ kết thúcviệc đăng ký lao động, cán bộ phụ trách ghi sổ đăng ký lao động phải ký tên xácnhận danh sách, số liệu đã ghi trong sổ và chủ tịch Uỷ ban hành chính cơ sởduyệt, ký tên và đóng dấu.

e) Danh sách cán bộ ghi chép vàquản lý sổ đăng ký lao động:

Cán bộ được giao trách nhiệm ghichép, quản lý sổ đăng ký lao động phải ghi rõ thời gian phụ trách, họ tên, chứcvụ.

Khi có sự thay đổi cán bộ thìngười cũ phải bàn giao tình hình cụ thể trong sổ và các tài liệu liên quan (tờkhai sự tăng, giảm trong năm...) và những tồn tại cần theo dõi, bổ sung, sửađổi... cán bộ mới phải xem xét cẩn thận và tiếp nhận cụ thể. Phải có biên bảnvà hai bên cùng ký, được Uỷ ban hành chính cơ sở xác nhận.

Mỗi quyển sổ đăng ký lao độngchỉ được viết một trong các thứ mực (tím, xanh) đậm, lâu phai; chữ và số phảiviết rõ ràng. Cấm tẩy xoá. Nếu viết sai hoặc thiếu, chỉ người được chính quyềnphân công quản lý và viết sổ mới được sửa bằng mực và ký tên xác nhận bên cạnhchỗ sửa.

III. CẤP THẺ LAO ĐỘNG

Thẻ lao động là một giấy chứngnhận đối với người lao động đang có công việc làm ăn hợp pháp.

Thẻ lao động còn là một căn cứcho việc xét cấp tem phiếu để thực hiện đúng đắn việc cung cấp phân phối vậtchất cho những người thật sự ao động. Ngoài ra, thẻ cũng còn là giấy kiểm soátcùng với chứng minh thư (hay căn cước) khi người công dân ra vào cơ quan, xí nghiệp,trường học, v. v...

1- Nội dung thẻ lao động.

- Họ và tên...

- Nghề nghiệp đang làm...

- Nơi làm việc...

- Số sổ lao động (nếu có)...

- Số giấy chứng minh hay căncước...

- Thời hạn có giá trị của thẻ...

- Thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp,trường học trực tiếp quản lý, sử dụng lao động ký tên và đóng dấu (không uỷquyền để ký thừa lệnh thủ trưởng).

2- Thẻ lao động do Bộ Lao độngthống nhất phát hành hàng năm.

Ký hiệu thẻ lao động cấp chongười lao động:

- Khu vực Nhà nước là công nhânviên chức;

- Khu vực tập thể là hợp tác xã;

- Người làm ăn cá thể, người làmtheo hợp đồng, người làm nội trợ gia đình và học sinh là nhân dân.

3- Đối tượng được cấp thẻ laođộng.

Thẻ lao động cấp cho mọi ngườilao động, có sức lao động đã thực hiện đăng ký lao động, đang làm việc do chínhquyền tổ chức và hướng dẫn, bao gồm:

a) Công nhân, viên chức đang làmviệc tại các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước, kể cả những người làm theo hợp đồngcó thời hạn từ 3 tháng trở lên;

b) Cán bộ, xã viên chính thứccủa các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp; tổ viên các tổ hợp tác, tổ phục vụ,người làm thủ công gia đình và những người sản xuất kinh doanh, phục vụ khác đãđược cấp giấy phép đăng ký sản xuất, kinh doanh... Trước mắt, mới cấp thẻ laođộng cho các đối tượng kể trên ở các thành phố, thị xã, thị trấn (trừ khu vựcsản xuất nông nghiệp);

c) Học sinh các trường đại học,trung học, sơ cấp, học nghề, trường Đảng, đoàn thể theo hệ thóng tập trung dàihạn;

d) Những người là lao động nộitrợ (phục vụ gia đình) ở thành phố, thị xã, thị trấn được chính quyền cơ sở vànhân dân địa phương xác nhận;

e) Đối với các xã viên hợp tácxã nông nghiệp, nghề cá, nghề muối, nghề rừng, trồng rau, trồng cây côngnghiệp, thủ công nghiệp chuyên nghiệp và những người làm ăn riêng lẻ ở nôngthôn sẽ có hướng dẫn riêng.

Không cấp thẻ lao động cho nhữngngười còn là xã viên dự bị của các loại hợp tác xã và những người không thuộccác đối tượng được quy định trên đây.

4- Các ghi vào thẻ lao động.

Chỉ cơ quan có trách nhiệm trựctiếp quản lý lao động mới được cấp thẻ, ghi thẻ và người thủ trưởng phải chịuhoàn toàn trách nhiệm về việc cấp phát của mình.

Thẻ lao động phải ghi đúng vớitờ khai đăng ký lao động hoặc tờ khai đăng ký cấp sổ lao động, hay giấy chứngminh hoặc căn cước.

Riêng đối với công nhân viênquốc phòng, công an thì do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quy định.

Thời hạn có giá trị của thẻ: Ghicho từng người phải rõ ràng và căn cứ vào công việc làm ổn định hay có thờihạn, do thủ trưởng đơn vị cấp thẻ quyết định từ 3 tháng đến 12 tháng. Ví dụ:Công nhân viên chức Nhà nước ở những đơn vị ổn định cấp 12 tháng; xã viên hợptác xã, tổ viên tổ hợp tác, tổ phục vụ; người được phép đăng ký kinh doanh, sảnxuất; người lao động theo hợp đồng thì căn cứ vào thời hạn cấp đăng ký kinh doanh,sản xuất hay hợp đồng để ghi thời hạn giá trị cấp thẻ.

Thẻ lao động mỗi năm đổi mộtlần, nên trong năm chỉ được gia hạn một lần và không có giá trị cho năm sau;thẻ hải được viết bằng loại mực đậm, lâu phai; thẻ bị tẩy, xoá, sửa chữa, ráchnát, quá hạn đều không có giá trị.

5- Việc cấp phát thẻ lao động.

a) Việc lập kế hoạch dự trù sốlượng thẻ lao động hàng năm, phải có căn cứ chặt chẽ:

- Đối với khu vực Nhà nước: Căncứ vào số cán bộ, công nhân, viên chức trong biên chế hoặc lao động được duyệtchính thức (kể cả cơ quan Trung ương đóng tại địa phương).

- Đối với khu vực tập thể và làmăn cá thể thì căn cứ vào danh sách đã được duyệt theo đăng ký kinh doanh, sảnxuất.

- Người làm hợp đồng tại cơquan, xí nghiệp Nhà nước thì phải có danh sách cụ thể theo bản hợp đồng đã đượcký kết.

Cơ quan quản lý phải tổng hợptừng loại để báo cáo với Uỷ ban hành chính địa phương (Sở, Ty lao động) xin cấpsố thẻ lao động trước 3 tháng của năm kế hoạch.

- Đối với lao động nội trợ giađình, do Uỷ ban hành chính khu phố, xã xác định danh sách, làm dự trù lên Uỷban hành chính cấp trên về số lượng thẻ.

b) Cơ quan trực tiếp cấp thẻ laođộng:

- Đối với khu vực Nhà nước: Cáccơ quan, (xí nghiệp, trường học...) Đảng, đoàn thể (theo đơn vị quỹ tiền lương)do thủ trưởng chịu trách nhiệm cấp thẻ cho cán bộ, công nhân, viên chức, ngườilàm hợp đồng của đơn vị mình.

- Đối với khu vực tập thể và cáthể do thủ trưởng các ngành quản lý sản xuất, kinh doanh, phục vụ ở cấp huyện,khu phố và cấp tương đương chịu trách nhiệm cấp thẻ lao động cho xã viên cáchợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, tổ viên các tổ hợp tác, tổ phục vụ; người làmăn cá thể được phép sản xuất kinh doanh, phục vụ, thuộc phạm vi phụ trách củangành.

- Đối với những người làm nộitrợ gia đình do Uỷ ban hành chính cơ sở trực tiếp cấp thẻ lao động.

- cơ quan cấp thẻ lao động phảichọn người tin cẩn về chính trị, có trình độ văn hoá viết chữ rõ ràng để viếtthẻ lao động.

- Cơ quan cấp thẻ lao động phảilập sổ danh sách cấp phát thẻ lao động để theo dõi, quản lý số thẻ lao động, đãđược cấp phát cho từng người, thủ trưởng đơn vị phải tổ chức kiểm soát chặtchẽ, bảo đảm việc cấp phát thẻ được đúng chế độ và tránh gian lận.

- Sau mỗi đợt cấp thẻ lao động15 ngày, các đơn vị cấp thẻ lao động phải báo cáo danh sách số người được cấp thểđã ký nhận và kết quả cấp phát thẻ lên Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương (Sở, Ty lao động) và nộp lại số thẻ bị hư hỏng hay còn lại (nếu có).Số thẻ đã cấp và số thẻ nộp lại phải khớp với số thẻ phát ra.

c) Những quy định đối với ngườicó thẻ lao động:

- Người có thẻ lao động phảimang thường xuyên kèm theo giấy chứng minh hay căn cước và phải xuất trình thẻlao động cùng với giấy chứng minh hay căn cước khi có yêu cầu kiểm soát củangười có chức trách của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

- Nghiêm cấm sửa chữa, tẩy xoá,cho thuê, cho mượn thẻ lao động; phải giữ gìn và không để rách nát hoặc đánhmất thẻ.

- Nếu còn tiếp tục làm việc tạicơ quan, xí nghiệp; hoặc được phép sản xuất, kinh doanh, phục vụ... mà thẻ quáhạn thì phải xin gia hạn hoặc xin đổi thẻ mới.

- Người được chuyển công tác đếnđơn vị khác, người thôi việc, hết hạn hoặc bị thu hồi giấy phép đăng ký kinhdoanh, sản xuất, phục vụ phải trả thẻ lao động cho cơ quan cấp thẻ.

- Người bị mất thẻ phải báo cáongay với cơ quan công an và thủ trưởng đơn vị cấp thẻ để giải quyết.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Việc đăng ký lao động, cấp thẻlao động phải tiến hành từng bước, có trọng tâm, trọng điểm.

Sáu tháng đầu năm 1975 làm xongở các thành phố, thị xã, thị trấn. Sáu tháng cuối năm 1975 sẽ triển khai đăngký lao động ở vùng nông thôn.

Trong quá trình thực hiện, yêucầu:

1- Uỷ ban hành chính mỗi cấpphải có kế hoạch cụ thể và chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽtrong việc đăng ký lao động, sắp xếp việc làm cho người chưa có việc, với quảnlý lương thực, quản lý thị trường, quản lý trật tự trị an...; đăng ký lao độngvới đăng ký nghĩa vụ quân sự ở từng địa phương. Những nơi đang tiến hành đăngký kinh doanh cần kết hợp với việc cấp thẻ lao động.

2- Sau khi đăng ký và cấp thẻlao động, phải khai thác và phát huy tác dụng. Các Uỷ ban hành chính tổng hợpvà phân tích các nguồn lao động để có biện pháp quản lý, lập kế hoạch phân bổ,động viên, sử dụng sức lao động cho hợp lý; thực hiện đầy đủ trách nhiệm quảnlý lao động xã hội.

3- Phải có kế hoạch tuyên truyềngiáo dục mọi người từ các cơ quan, xí nghiệp đến ngoài nhân dân. Uỷ ban hànhchính các cấp kết hợp chặt chẽ với tổ chức công đoàn, Đoàn thanh niên lao độngHồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ và các cơ quan tuyên truyền, dùng mọi hìnhthức như hội nghị do chính quyền triệu tập và sinh hoạt đoàn thể để phổ biến;đài truyền thanh, báo chí, tranh ảnh, áp phích, khẩu hiệu, v.v... làm cho mỗingành, mỗi đơn vị, mỗi người thấy rõ ý nghĩa, mục đích, tác dụng của đăng ký vàcấp thẻ lao động; đề cao trách nhiệm tự giác, phấn khởi, chấp hành đúng chế độ,thủ tục đăng ký và cấp thẻ lao động.

4- Mỗi địa phương phải làm điểmđể rút kinh nghiệm.

5- Tăng cường cán bộ quản lý laođộng các cấp. ở xã, Uỷ ban hành chính phân công một cán bộ có năng lực kiêmnhiệm công tác quản lý lao động. Cán bộ này sẽ được cơ quan lao động bồi dưỡngvề nghiệp vụ.

6- Bộ Lao động đề nghị các Bộ,ngành liên quan (công an, quốc phòng, lương thực và thực phẩm, tài chính, thốngkê, liên hiệp hợp tác xã,...) hướng dẫn các địa phương theo chức năng của mìnhđể phối hợp chặt chẽ giữa công tác đăng ký, cấp thẻ lao động với công tác quảnlý của ngành mình.

7- Về kinh phí, với sự thoảthuận của Bộ Tài chính, các chi phí về in (kể cả tiền giấy), vận chuyển, bảoquản thì tính vào nghiệp vụ phí của Bộ Lao động, do ngân sách Trung ương đàithọ và sẽ quyết toán với Ngân hàng Trung ương. Các chi phí về hội nghị phổbiến, tuyên truyền cấp sổ và cấp thẻ lao động của địa phương thì tính vàonghiệp vụ phí của Sở, Ty lao động, do ngân sách địa phương đài thọ và sẽ quyếttoán với ngân sách địa phương.

Cán bộ, công nhân, viên chức Nhànước; học sinh, sinh viên các trường dạy nghề, các trường sơ cấp, trung họcchuyên nghiệp, các trường đại học của Nhà nước được cấp sổ, cấp thẻ lao độngkhông phải trả tiền.

Những người không thuộc các đốitượng nói trên, nếu được cấp sổ hoặc cấp thẻ lao động thì phải trả tiền (tiềngiấy + công in) do Bộ Lao động quy định. Khoản thu nói trên coi là khoản "thukhác" của ngân sách Trung ương; các Sở, Ty lao động có trách nhiệm thu đầyđủ theo số lượng sổ và thẻ lao động phát ra cho các đối tượng phải thu, và nộpkịp thời vào Ngân hàng Nhà nước - Loại V, khoản 116, hạng 4, đồng thời báo cáoBộ Lao động và Bộ Tài chính biết.

V- XỬ LÝ NHỮNG TRƯỜNG HỢP VIPHẠM CHẾ ĐỘ ĐĂNG KÝ VÀ CẤP THẺ LAO ĐỘNG

Theo Điều 8 của Nghị định số97-CP: "Những người không thực hiện đăng ký lao động, hoặc cản trở ngườikhác thực hiện đăng ký lao động thì Uỷ ban hành chính xã, thị trấn, thị xã, khuphố tuỳ theo lỗi nặng nhẹ mà có thái độ xử lý cho đến đề nghị truy tố trướcpháp luật". Cụ thể:

A- Bị coi là vi phi phạmviệc đăng ký lao động và cấp thẻ lao động: 1- Nếu nhận được giấy báo đăng kýlao động nhưng không chịu làm tờ khai, hoặc cố tình khai không đúng sự thật,không đến chính quyền cơ sở để đăng ký lao động;

2- Tuyên truyền xuyên tạc mụcđích ý nghĩa việc đăng ký lao động và cấp thẻ lao động, gây hoang mang trongnhân dân;

3- Xúi giục người khác không thihành đăng ký lao động, gây cản trở khó khăn cho người đi đăng ký lao động hoặcnhận thẻ lao động;

4- Cho thuê, cho mượn thẻ laođộng; tự ý xoá bỏ những điều đã ghi trong thẻ lao động, sổ đăng ký lao động;lợi dụng thẻ lao động làm những việc phi pháp;

5- Lấy cắp thẻ lao động của ngườikhác, làm thẻ giả, có hành động huỷ hoại thẻ lao động, sổ đăng ký lao động và cácgiấy tờ khác có liên quan.

6- Cán bộ, nhân viên chính quyềncác cấp trong khi làm nhiệm vụ tổ chức đăng ký lao động và cấp thẻ lao động cónhững hành động sách nhiễu nhân dân, ăn hối lộ để bao che cho người dân khôngđăng ký lao động, cấp thẻ lao động gian, v.v...

B- Tuỳ theo lỗi nặng nhẹmà áp dụng một trong các hình thức xử lý:

1- Kiểm thảo, phê bình trong nộibộ;

2- Khiển trách;

3- Cảnh cáo;

4- Bị truy tố trước pháp luậttheo Điều 7 của Sắc lệnh số 267-SL ngày 15 tháng 6 năm 1956 trừng trị nhữngngười gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân, làmcản trở việc thực hiện chính sách và kế hoạch của Nhà nước.

Những người nhận của hối lộ vàngười đưa của hối lộ sẽ bị xử lý theo tinh thần Nghị quyết 228 của Bộ Chính trịTrung ương Đảng và Điều 1 của Sắc lệnh số 223-SL ngày 17 tháng 11 năm 1946 vềtội hối lộ.

Trên đây là những quy định cụthể và một số hướng dẫn của Bộ Lao động, yêu cầu các Uỷ ban hành chính tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trựcthuộc Hội đồng Chính phủ, các đoàn thể quán triệt và tổ chức thi hành có kếtquả việc đăng ký lao động và cấp thẻ lao động.

Nguyễn Thọ Chân

(Đã ký)