BỘ TÀI CHÍNH******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 05-TCT/QD

Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 1978

THÔNG TƯ

VỀVIỆC MỞ RỘNG VÀ THỐNG NHẤT ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ THU QUỐC DOANH

Chấp hành chỉ thị số 382-TTgngày 29-9-1961 của Thủ tướng Chính phủ về việc thi hành thí điểm chế độ thuquốc doanh; thông báo số 21-TB ngày 13-6-1964 của hội nghị Thường vụ Hội đồngChính phủ họp ngày 03-06-1964 cho phép mở rộng thu quốc doanh; thông tư số140-CP ngày 13-9-1968 của Hội đồng Chính phủ về việc thí điểm cải tiến chế độthu tài chính và chế độ phân phối lợi nhuận xí nghiệp quốc doanh.

Chế độ thu quốc doanh đã đượcthí điểm từ năm 1961 và đã dần dần mở rộng áp dụng ra các xí nghiệp khác, nhưngdo hoàn cảnh chiến tranh nên diện mở rộng còn ít và chậm.

Hiện nay còn có những xí nghiệpquốc doanh trung ương và hầu hết các xí nghiệp quốc doanh địa phương đang cònáp dụng hình thức thuế (thuế doanh nghiệp, thuế hàng hóa…) thuộc chế độ thuếcông thương nghiệp đối với kinh tế tập thể và tư doanh.

Đối với các tỉnh phía Nam, đượcphép của Thường vụ Hội đồng Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư số06-TC/TQD ngày 14-5-1977 quy định chế độ thu tài chính tạm thời, áp dụng đốivới các xí nghiệp quốc doanh với các hình thức phù hợp với tình hình thực hiệnbước đầu ở miền Nam các chế độ kế hoạch hoá, giá thành, giá cả, chiết khấuthương nghiệp.

Cùng với các đòn bẩy kinh tếkhác, chế độ thu quốc doanh có tác dụng thúc đẩy xí nghiệp thực hiện tốt Điềulệ xí nghiệp; quan tâm hơn nữa đến chế độ hạch toán kinh tế nhất là quản lý giáthành, giá cả, tiêu thụ, thanh toán và đảm bảo tập trung nhanh chóng vào ngânsách Nhà nước một phần thu nhập thuần tuý được sáng tạo ra trong các xí nghiệpsản xuất, phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị của các ngành trung ương vàcủa các địa phương.

Để góp phần tăng cường quản lýkinh tế tài chính, thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủvề kế hoạch Nhà nước và ngân sách năm 1978 và 5 năm (1976-1980), Bộ Tài chínhhướng dẫn việc mở rộng, nâng cao và thống nhất áp dụng chế độ thu quốc doanhđối với tất cả các xí nghiệp sản xuất quốc doanh trung ương và địa phươngtrong phạm vi cả nước như sau.

1. Đối tượng áp dụng chế độthu quốc doanh

Chế độ thu quốc doanh tập trungvào ngân sách Nhà nước (trung ương và địa phương) phần thu nhập thuần tuý củaxã hội thể hiện trong chênh lệch giữa giá bán buôn công nghiệp và giá bán buônxí nghiệp các sản phẩm hàng hóa do xí nghiệp quốc doanh sáng tạo ra.

a) Đối tượng áp dụng chế độ thuquốc doanh là tất cả các sản phẩm công nghiệp do các xí nghiệp quốc doanh sảnxuất và bán ra có thu nhập thuần tuý, (kể cả xí nghiệp quốc doanh trung ương vàxí nghiệp quốc doanh địa phương) thuộc tất cả các ngành kinh tế quốc dân.

b) Chế độ thu quốc doanh chưa ápdụng đối với các hoạt động lưu thông, phân phối, kinh doanh phục vụ, kinh doanhăn uống, vận tải, cảng vụ, đại lý,… Đối với các loại xí nghiệp này, nơi nào từtrước tới nay nộp các loại thuế (thuế hàng hóa, thuế doanh nghiệp…) thì từ naythay vì nộp thuế, các xí nghiệp được tính gộp số tiền phải nộp thuế hiện hànhcộng với phần lợi nhuận mà xí nghiệp phải nộp vào ngân sách Nhà nước để thựchiện nghĩa vụ nộp vào ngân sách Nhà nước dưới hình thức trích nộp lợi nhuận.

Các ngành chủ quản thoả thuậnvới cơ quan tài chính đồng cấp để quy định cụ thể số lần trích nộp lợi nhuậnhàng tháng (2, 3, 4, 5 lần) để những xí nghiệp loại này thực hiện trích nộp lợinhuận kịp thời vào ngân sách Nhà nước.

2. Cơ sở để tính mức thu quốcdoanh

Mức thu quốc doanh được ấn địnhcăn cứ vào mức chênh lệch giữa giá bán buôn công nghiệp trừ (-) giá bán buôn xínghiệp của từng sản phẩm.

Tuỳ theo tính chất và đặc điểmcủa từng xí nghiệp và từng sản phẩm mà mức thu quốc doanh được ấn định theo mộttrong ba hình thức sau đây:

a) Số chênh lệch tuyệt đối giữagiá bán buôn công nghiệp trừ (-) giá bán buôn xí nghiệp. Hình thức này áp dụngđối với các xí nghiệp có cơ cấu mặt hàng khác nhau tương đối đơn giản và đã xácđịnh được hai giá (giá bán buôn công nghiệp và giá bán buôn xí nghiệp).

b) Định mức thu cố định trên mộtđơn vị sản phẩm. Hình thức này áp dụng đối với các xí nghiệp sản xuất hàngloạt hay sản xuất đơn chiếc ra những sản phẩm giống nhau.

c) Định một tỷ lệ phần trăm (%)trên giá bán buôn công nghiệp hay giá bán lẻ của từng loại sản phẩm hay từngnhóm sản phẩm. Hình thức này áp dụng đối với các xí nghiệp có cơ cấu mặt hàngphức tạp, nhiều kích cỡ, nhiều mặt hàng phẩm cấp khác nhau.

Đối với các tỉnh phía Nam, xínghiệp nào đã có điều kiện tính toán được giá thành, đã có giá bán buôn côngnghiệp, hoặc giá bán lẻ và có định mức lợi nhuận thì áp dụng một trong ba hìnhthức nói ở điểm a, b, c trên đây; xí nghiệp nào chưa có các điều kiện nói trênthì áp dụng mức thu quốc doanh là tỷ lệ phần trăm trên tổng số doanh thu sảnphẩm hàng hóa bán ra thay cho cách tính gộp các thứ thuế trước đây.

Ngoài quy định thay thế về mứcthu quốc doanh trên đây, thông tư số 6-TC/TQD ngày 14-5-1977 vẫn được tiếp tụcthực hiện.

3. Thực hiện đầy đủ các chếđộ về giá bán, giá thành, định mức lợi nhuận trong khi tiến hành tính mức thuquốc doanh.

a) Về giá bán buôn công nghiệpcủa các sản phẩm:

Giá bán buôn công nghiệp đượcquy định theo nghị định số 235-CP ngày 04-02-1969 của Hội đồng Chính phủ (giábán lẻ trừ (-) chiết khấu thương nghiệp). Đối với chiết khấu thương nghiệp thìáp dụng theo tỷ lệ chiết khấu đã được Ủy ban Vật giá Nhà nước và Bộ Tài chínhcùng Bộ Nội thương thống nhất quy định.

Nếu mặt hàng nào chưa có giá bánbuôn công nghiệp thì cơ quan chủ quản xí nghiệp (Bộ, Tổng cục đối với các xínghiệp trung ương; Sở, Ty đối với các xí nghiệp địa phương) phải lập đề nghịgiá cho cơ quan có thẩm quyền quyết định. Trong khi chờ đợi, cơ quan chủ quảncùng với xí nghiệp và cơ quan tiêu thụ hàng hóa của xí nghiệp tạm quy định một giágiao dịch, trên cơ sở đó các cơ quan tài chính cùng cấp tạm tính mức thu quốcdoanh để áp dụng cho đến khi có giá chính thức.

b) Về giá bán buôn xí nghiệp:

Việc xác định giá bán buôn xínghiệp cho các xí nghiệp trung ương cũng như xí nghiệp quốc doanh địa phươngthực hiện theo chỉ thị số 206-TTg ngày 13-8-1974 của Thủ tướng Chính phủ.

Mức thu quốc doanh được tính căncứ vào giá bán buôn xí nghiệp của sản phẩm do Ủy ban Vật giá Nhà nước quyếtđịnh.

Đối với những sản phẩm chưa cógiá bán buôn xí nghiệp do Ủy ban Vật giá Nhà nước quyết định thì cơ quan chủquản xí nghiệp cùng cơ quan tài chính đồng cấp tạm thời xác định giá bán buônxí nghiệp để tính mức thu quốc doanh và áp dụng cho đến khi Ủy ban Vật giá Nhànước ban hành giá bán buôn xí nghiệp chính thức.

c) Về giá thành sản phẩm:

- Giá thành sản phẩm được dùngđể làm giá bán buôn xí nghiệp là giá thành hợp lý bao gồm tương đối đầy đủ haophí lao động xã hội đối với từng loại sản phẩm như quy định trong nghị định số43-CP ngày 16-9-1960 của Hội đồng Chính phủ, đối với các xí nghiệp ở các tỉnhphía Nam như quy định trong quyết định số 443-TTg ngày 06-12-1977 của Thủ tướngChính phủ và thông tư số 17-TC/CNXD ngày 15-12-1977 của Bộ Tài chính.

- Đối với sản phẩm đã có giá bánbuôn xí nghiệp do các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt, thì giá thành được dùngđể tính mức thu quốc doanh cũng là giá thành được duyệt để xây dựng giá bánbuôn xí nghiệp.

- Đối với các sản phẩm chưa cógiá thành hợp lý, tạm thời được dùng giá thành kế hoạch năm 1978 đã được Bộ chủquản hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành duyệt để làm căn cứ tính lợi nhuận cho xínghiệp và tạm xác định giá bán buôn xí nghiệp để tính mức thu quốc doanh đốivới sản phẩm đó; nếu chưa có giá thành kế hoạch năm 1978 thì dùng giá thành sảnphẩm thực tế năm 1977; (nếu giá thành thực tế năm 1977 cũng chưa có thì đượcdùng giá thành kế hoạch năm 1977) có loại trừ các yếu tố phi kinh tế đã thấy rõđể làm căn cứ tính mức thu quốc doanh, khi nào có giá thành hợp lý và giá bánbuôn xí nghiệp chính thức sẽ điều chỉnh lại mức thu quốc doanh.

d) Về lợi nhuận định mức:

Đối với các xí nghiệp trungương, vẫn áp dụng định mức lợi nhuận theo thông tư số 377-TC/CNKT ngày16-11-1971 của Bộ Tài chính, cụ thể là:

- Các xí nghiệp khai thác than 8%

- Các xí nghiệp khai thác thiếccờ rôm, apatít 7%

- Các xí nghiệp cơ khí, gạch,gỗ, diêm 5%

- Các xí nghiệp ximăng, thủytinh, hoá chất, phân bón 4,5%

- Các xí nghiệp giấy, sắt trángmen, đường 4%

- Các xí nghiệp dệt, chè 3,5%

- Các xí nghiệp xà phòng, mìchính, rượu, bia, thuốc lá, dược phẩm 3%

Đối với các xí nghiệp trung ươngkhác tạm thời định mức lợi nhuận như sau:

- Các xí nghiệp khai thác gỗ 8%

- Các xí nghiệp khai thác đá 7%

- Các xí nghiệp sản xuất cao sumủ khô 6%

- Các xí nghiệp chế biến hảisản, thức ăn gia súc 5%

- Các xí nghiệp bánh kẹo, chếbiến hoa quả, mì sợi 3%

Đối với các xí nghiệp quốc doanhđịa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố căn cứ vào các định mức lợi nhuậntrên đây ra quyết định vận dụng thích hợp nhưng không được vượt mức quy địnhtrên (từ 3 đến 8%), bảo đảm cho xí nghiệp có đủ nguồn tài chính để trích lập baquỹ (khuyến khích phát triển sản xuất, khen thưởng, phúc lợi) và phần lợi nhuậntối thiểu quy định trích nộp ngân sách.

4. Tổ chức thực hiện và thờihạn hoàn thành việc mở rộng áp dụng chế độ thu quốc doanh.

Việc mở rộng áp dụng chế độ thuquốc doanh cần được tiến hành nhanh gọn trong những tháng đầu năm 1978.

Yêu cầu các Bộ, Tổng cục chủquản cùng với ngành tài chính xây dựng và xét duyệt các phương án áp dụng chếđộ thu quốc doanh đối với từng xí nghiệp sau khi đã thoả thuận, Bộ Tài chính sẽcông bố mức thu quốc doanh cho các xí nghiệp trung ương.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủyban nhân dân các tỉnh, thành phố, các Sở, Ty tài chính cùng với các Sở, Ty chủquản, hướng dẫn các xí nghiệp quốc doanh địa phương lập các phương án áp dụngchế độ thu quốc doanh để Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố xét duyệt và công bốcho thi hành mức thu quốc doanh cho các xí nghiệp quốc doanh địa phương đồnggửi cho Bộ Tài chính biết.

Các Sở, Ty tài chính có tráchnhiệm giúp ngành chủ quản và Bộ Tài chính trong việc tính toán mức thu quốcdoanh đối với các sản phẩm do các xí nghiệp quốc doanh trung ương sản xuất tạiđịa phương và kiểm tra việc thực hiện thu nộp.

Thời gian hoàn thành mở rộng ápdụng chế độ thu quốc doanh quy định là ngày 30 tháng 6 năm 1978.

Bộ Tài chính đề nghị các Bộ, cáccơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cácSở, Ty chủ quản cùng với Bộ Tài chính và các Sở, Ty tài chính hoàn thành thựchiện mở rộng và thống nhất áp dụng chế độ thu quốc doanh đúng thời gian quyđịnh nói trên để thiết thực và kịp thời góp phần tăng cường quản lý kinh tế tàichính, thúc đẩy hoàn thành kế hoạch Nhà nước và ngân sách Nhà nước năm 1978.

KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
THỨ TRƯỞNG




Võ Trí Cao