PHỦ THỦ TƯỚNG******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 109-BT

Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 1978

THÔNG TƯ

HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN BẢNQUY ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN

Hội đồng Chính phủ đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộmáy, quan hệ công tác và lề lối làm việc của Ủy ban Nhân dân huyện; Phủ thủtướng hướng dẫn các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực thuộc Hội đồngChính phủ, các Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Ủyban Nhân dân huyện thực hiện bản quy định đó như sau.

I. ỦY BAN NHÂN DÂNHUYỆN

1. Bản quy định của Hội đồng chính phủ lần này chỉ nêu lênnhững điểm bổ sung về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban Nhân dânhuyện, để làm cơ sở cho việc xác định cơ cấu tổ chức và nguyên tắc phân côngtrong Ủy ban Nhân dân huyện.

Vì vậy, trong khi thực hiện bản quy định của Hội đồng Chínhphủ, các ngành ở Trung ương và Ủy ban Nhân dân tỉnh, huyện vẫn phải quán triệtchỉ thị số 33/CT /TU ngày 24/01/1978 của Bộ Chính trị và nghị quyết số 33-CPngày 04/02/1978 của Hội đồng Chính phủ.

2. Căn cứ vào quyết định số 247-NQ/QHK6 ngày 26/5/1978 của Ủyban thường vụ Quốc hội về bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dânhuyện và số lượng thành viên Ủy ban Nhân dân huyện, Hội đồng Chính phủ quy địnhcụ thể như sau:

- Các huyện vùng đồng bằng, trung du trước đây có từ 7 đến 9người, nay có từ 11 đến 13 người;

- Các huyện miền núi có nhiều dân tộc ở xen kẽ trước đây có từ7 đến 11 người, nay có từ 11 đến 15 người.

Các Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố hướng dẫn cho các Ủy banNhân dân huyện thực hiện đúng quy định của Chính phủ, chú trọng làm trước tạicác huyện điểm.

3. Nguyên tắc phân công trong Ủy ban Nhân dân huyện đã nói rõở điều 53 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân các cấp:

- Ủy ban Nhân dân các cấp làm việc theo nguyên tắc tập thểlãnh đạo, phân công phụ trách.

Mỗi thành viên của Ủy ban Nhân dân chịu trách nhiệm chung vềcông tác của Ủy ban Nhân dân và chịu trách nhiệm riêng về phần công tác củamình.

Phủ thủ tướng hướng dẫn thêm việc phân công cụ thể của cácthành viên Ủy ban Nhân dân huyện như sau:

- Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện lãnh đạo toàn bộ công tác củaỦy ban, bảo đảm chấp hành đầy đủ các nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện,các nghị quyết, nghị định, quyết định, thông tư và chỉ thị của Ủy ban Nhân dântỉnh hoặc thành phố và của các cơ quan Nhà nước cấp trên.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện còn trực tiếp phụ trách hoặclàm trưởng ban kế hoạch của huyện.

Các phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện giúp chủ tịch lãnh đạocông tác của Ủy ban và được phân công chỉ đạo từng khối công tác:

- Nông nghiệp hoặc nông lâm nghiệp hay hải sản;

- Công nghiệp – xây dựng cơ bản – giao thông vận tải;

- Vật tư – thương nghiệp – đời sống.

Một ủy viên thư ký phụ trách Văn phòng Ủy ban và giúp chủ tịchđiều hành công việc hàng ngày.

Bộ phận thường trực của Ủy ban gồm chủ tịch, các phó chủ tịchvà ủy viên thư ký để giải quyết công việc, bảo đảm sự làm việc tập thể giữa haikỳ họp của toàn thể Ủy ban.

Các ủy viên khác của Ủy ban Nhân dân huyện, ngoài việc tíchcực tham gia vào sự lãnh đạo chung, còn được phân công phụ trách hoặc trực tiếplàm trưởng các ban chuyên môn:

- Một ủy viên làm trưởng ban thủy lợi,

- Một ủy viên làm trưởng ban tài chính – giá cả.

- Một ủy viên làm trưởng ban văn hóa – thông tin,

- Một ủy viên làm trưởng ban giáo dục – mẫu giáo – nhà trẻ,

- Một ủy viên làm trưởng ban y tế – thể dục thể thao,

- Một ủy viên làm trưởng ban thanh tra,

- Một ủy viên làm trưởng ban chỉ huy quân sự huyện,

- Một ủy viên làm trưởng ban công an huyện.

Tùy theo vị trí công tác của các ngành trong huyện và số lượngủy viên trong Ủy ban mà phân công một ủy viên phụ trách một hoặc hai ban.

II. CÁC BAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN

1. Các ban chuyên môn giúp việc Ủy ban Nhân dân huyện gồm 14ban và một văn phòng Ủy ban.

Riêng đối với các huyện miền núi, rẻo cao thì lập thêm banđịnh canh, định cư; các huyện có nhiệm vụ đưa nhân dân đi hoặc tiếp nhận nhândân đến vùng kinh tế mới thì lập thêm ban kinh tế mới.

Ngoài các ban kể trên, các ngành, các cấp muốn lập thêm banchuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân huyện phải báo cáo và xin ý kiến của Hội đồngChính phủ.

2. Tổ chức và cách làm việc của ban chuyên môn: mỗi ban có mộttrưởng ban và từ một đến hai phó trưởng ban. Trưởng phó ban các ban chuyên môndo Ủy ban Nhân dân huyện đề nghị (có tham khảo ý kiến của các Sở, Ty) Ủy banNhân dân tỉnh, thành phố bổ nhiệm.

- Các ban làm việc theo chế độ thủ trưởng, Trưởng ban chịutrách nhiệm trước Ủy ban Nhân dân huyện và trước thủ trưởng cơ quan chuyên môncấp trên thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố về toàn bộ công tác của ban.Những ban có nội dung công tác liên quan đến nhiều Sở, Ty thì trưởng ban phảibáo cáo công tác và chịu sự chỉ đạo về phần chuyên môn, nghiệp vụ của các Sở,Ty đó phụ trách.

Đối với những ngành, những mặt công tác đã tổ chức và quản lýtheo hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến huyện (thống kê, ngân hàng, lươngthực, bưu điện v.v…) thì vẫn giữ nguyên việc quản lý theo ngành. Nhưng trongphạm vi huyện, về mặt quản lý Nhà nước những ngành, những mặt công tác đó vẫnphải chịu sự chỉ đạo toàn diện của Ủy ban Nhân dân huyện.

- Trong các ban chuyên môn không thành lập các phòng mà thànhlập các tổ chuyên môn; mỗi tổ chuyên môn phải có một tổ trưởng, do Ủy ban Nhândân huyện chỉ định, nói chung các phó trưởng ban nên trực tiếp làm tổ trưởng,

- Căn cứ vào quy định của Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính, Ủy banNhân dân tỉnh, thành phố hướng dẫn Ủy ban Nhân dân huyện việc dùng con dấuriêng và việc sử dụng tài khoản riêng đối với một số ban chuyên môn của huyện.

III. QUAN HỆ CÔNG TÁC

Căn cứ vào quy định của Hội đồng Chính phủ, Phủ thủ tướnghướng dẫn thực hiện các mối quan hệ công tác của Ủy ban Nhân dân huyện với cácngành, các cấp như sau:

1. Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố có trách nhiệm đề ra kếhoạch và biện pháp cụ thể để lãnh đạo và giúp đỡ Ủy ban Nhân dân huyện thựchiện bản quy định của Hội dồng Chính phủ; trước hết, ở các huyện điểm, qua đó,rút kinh nghiệm để chỉ đạo các huyện khác thực hiện.

2. Các Sở, Ty chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phốcó trách nhiệm giúp chỉ đạo nghiệp vụ đối với các ban chuyên môn của huyện, vàgiúp Ủy ban Nhân dân huyện quản lý và tổ chức thực hiện tốt các mặt công tác.

- Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tỉnh, thành phố có kế hoạch, biệnpháp cụ thể giúp Ủy ban Nhân dân huyện xây dựng kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàngnăm về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện, theo đúng nội dung,phương pháp, trình tự, tiến độ kế hoạch hóa của nhà nước đã quy định.

- Sở, Ty nông nghiệp tỉnh, thành phố có kế hoạch, biện pháp cụthể giúp Ủy ban Nhân dân huyện xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệp; xâydựng cơ sở vật chất - kỹ thuật như trạm máy nông nghiệp, cơ sở sửa chữa cơ khí,trại giống lúa, trại giống lợn, trạm thú y, trạm bảo vệ thực vật, các xí nghiệpnhỏ về chế biến thức ăn cho gia súc, chế biến nông sản, thực phẩm, lâm sản.

- Sở, Ty thủy lợi tỉnh, thành phố có kế hoạch, biện pháp cụthể giúp Ủy ban Nhân dân huyện xây dựng các công trình thủy lợi vừa và nhỏ; xâydựng mạng lưới thủy nông; tổ chức việc bảo vệ, bồi bổ hệ thống đê, đập, cáccông trình ngầm dưới đê thuộc phạm vi huyện.

- Sở, Ty thủy sản tỉnh, thành phố có kế hoạch, biện pháp cụthể giúp Ủy ban Nhân dân huyện xây dựng quy hoạch phát triển nuôi cá nước ngọttrong hồ, ao, ruộng, mương, máng, sông, ngòi, cá nước mặn, nước lợ trên các mặtnước của biển, ven biển.

- Sở, Ty công nghiệp và liên hiệp hợp tác thủ công nghiệptỉnh, thành phố có kế hoạch, biện pháp cụ thể giúp Ủy ban Nhân dân huyện xâydựng kế hoạch phát triển tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp; xây dựng cơ sở vậtchất – kỹ thuật và quản lý một số cơ sở quốc doanh, nhất là cơ sở sửa chữa cơkhí, sản xuất công cụ lao động, sản xuất vật liệu xây dựng v.v...

- Sở, Ty xây dựng tỉnh, thành phố có kế hoạch, biện pháp cụthể giúp Ủy ban Nhân dân huyện xây dựng thị trấn huyện, xây dựng các khu nhà ở,các công trình phúc lợi công cộng; lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã hộichủ nghĩa.

- Sở, Ty tài chính tỉnh, thành phố có kế hoạch, biện pháp cụthể giúp Ủy ban Nhân dân huyện xây dựng và thực hiện ngân sách, tăng cường quảnlý tài chính, quản lý tiền mặt.

- Sở, Ty thương nghiệp tỉnh, thành phố có kế hoạch, biện phápcụ thể giúp Ủy ban Nhân dân huyện tổ chức cơ quan đại lý thu mua nông sản, lâmsản, thủy sản, thực phẩm; xây dựng kế hoạch lưu thông phân phối trong phạm vihuyện.

- Các Sở, Ty văn hóa – thông tin, giáo dục, y tế, thương binhxã hội, thể dục thể thao v.v... tỉnh, thành phố có kế hoạch, biện pháp cụ thểgiúp Ủy ban Nhân dân huyện chăm lo đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân; tổchức và quản lý các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, thể dục thểthao; xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.

- Sở, Ty công an và ban chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố có kếhoạch, biện pháp cụ thể giúp Ủy ban Nhân dân huyện quản lý về mặt an ninh chínhtrị, trật tự xã hội, xây dựng huyện thành đơn vị quốc phòng vững mạnh.

- Ban tổ chức chính quyền tỉnh, thành phố có kế hoạch, biệnpháp cụ thể giúp Ủy ban Nhân dân huyện chấn chỉnh bộ máy, sắp xếp cán bộ, thựchiện việc phân cấp quản lý của tỉnh, thành phố cho huyện; cùng với các Sở, Tynghiên cứu hướng dẫn các ban chuyên môn xây dựng nội quy và chế độ công tác.

IV. BIÊN CHẾ VÀ CÁN BỘ

Hội đồng chính phủ đã quy định biên chế quản lý Nhà nước choba loại huyện:

- Huyện loại I: từ 140 đến 160 người;

- Huyện loại II: từ 120 đến 130 người;

- Huyện loại III: từ 100 đến 110 người.

Biên chế quản lý Nhà nước quy định cho ba loại huyện kể trênkhông bao gồm biên chế của các cơ quan như tòa án nhân dân huyện, viện kiểm sátnhân dân huyện, ban chỉ huy quân sự huyện, ban công an huyện, ngân hàng Nhànước huyện, ngành thống kê huyện, bưu điện huyện; cán bộ, nhân viên làm côngtác bán hàng của ngành lương thực, thương nghiệp; làm công tác thu thuế côngthương nghiệp; cán bộ kỹ thuật tăng cường về các hợp tác xã sản xuất nôngnghiệp; cán bộ làm công tác tổ chức đưa dân đi hoặc tiếp nhận nhân dân đến vùngkinh tế mới.

Phủ thủ tướng hướng dẫn cụ thể như sau:

1. Về biên chế:

- Căn cứ vào tiêu chuẩn phân loại huyện của Hội đồng Chínhphủ, Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố tiến hành phân loại cụ thể, dự kiến phânbổ biên chế cho từng loại huyện, rồi lập danh sách gửi về Ban tổ chức của Chínhphủ, vào đầu quý III năm 1978.

- Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố hướng dẫn Ủy ban Nhân dânhuyện phân bổ biên chế cho các ban chuyên môn và văn phòng Ủy ban Nhân dânhuyện; đồng thời có kế hoạch điều chỉnh, sắp xếp cán bộ cho hợp lý.

2. Về cán bộ

- Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố có kế hoạch điều động một sốcán bộ của các ngành ở tỉnh, thành phố chọn những người có năng lực, có chuyênmôn, nghiệp vụ, có sức khỏe về tăng cường cho huyện.

Trước hết, chú ý tăng cường cho các ban nông nghiệp, hoặc nông– lâm nghiệp, thủy lợi, công nghiệp – xây dựng cơ bản – giao thông vận tải, kếhoạch, tài chính – giá cả, vật tư – thương nghiệp.

- Biên chế thuộc khu vực sự nghiệp, sản xuất, kinh doanh vàcán bộ kỹ thuật đưa về các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp sẽ căn cứ tình hìnhcụ thể và khả năng cán bộ mà tăng dần cho thích hợp.

Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố cần hướng dẫn và giúp đỡ Ủyban Nhân dân huyện trong việc xây dựng tổ chức và sử dụng cán bộ phù hợp vớiyêu cầu phát triển của sản xuất.

- Số cán bộ kỹ thuật đã tăng cường về các hợp tác xã sản xuấtnông nghiệp, cần tạo điều kiện anh chị em yên tâm công tác lâu dài ở cơ sở,không nên điều về các ban chuyên môn của huyện, nếu chưa cần thiết.

Thông tư này áp dụng chung cho tất cả các huyện trong cả nước.

- Các bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồngchính phủ, Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố, căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn củamình, có kế hoạch, biện pháp cụ thể hướng dẫn, giúp đỡ Ủy ban Nhân dân huyệnthực hiện có kết quả.

- Trưởng hành chính Trung ương (phân hiệu Hà Nội và phân hiệuthành phố Hồ Chí MInh) cần có chương trình, thường xuyên mở lớp huấn luyện vềquản lý nhà nước và quản lý kinh tế cho các thành viên Ủy ban Nhân dân huyện.

- Ban tổ chức của chính phủ có nhiệm vụ theo dõi việc thựchiện thông tư này và thường xuyên báo cáo kết quả về Phủ thủ tướng.

BỘ TRƯỞNG PHỦ THỦ TƯỚNG

Vũ Tuân