BỘ LAO ĐỘNG******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 13-LĐ/TT

Hà Nội, ngày 13 tháng 08 năm 1976

THÔNG TƯ

QUY ĐỊNH TẠM THỜI CHẾ ĐỘTHƯỞNG THƯỜNG XUYÊN TỪ QUỸ LƯƠNG TRONG CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ QUỐC DOANH

Thực hiện nghị quyết số 19-CP ngày 29-1-1976, các ngành, cáccơ sở đang tiến hành chấn chỉnh và cải tiến quản lý xí nghiệp, điều chỉnh địnhmức lao động, củng cố và mở rộng diện trả lương theo sản phẩm đi đôi với việcthực hiện các chế độ tiền thưởng từ nhiều nguồn khác nhau cho công nhân, viênchức như thưởng sáng kiến phát minh, thưởng tiết kiệm nguyên vật liệu, thưởnghoàn thành kế hoạch lợi nhuận cuối năm, thưởng thi đua, thưởng khác từ quỹlương, v.v...

Riêng các chế độ tiền thưởng thường xuyên từ quỹ lương banhành từ năm 1957 đến nay tuy có đem lại một số kết quả từng mặt nhất định, songnhìn chung có một số điểm không còn thích hợp với tình hình phát triển sản xuấthiện nay, việc tổ chức thực hiện có nhiều thiếu sót: diện thưởng tràn lan, mứcthưởng bình quân, việc sử dụng quỹ tiền thưởng, quỹ tiền lương còn thừa khôngđúng nguyên tắc, chế độ, lấy quỹ nọ chi thay quỹ kia vi phạm chế độ của Nhànước; vì vậy chưa phát huy được mạnh mẽ tác dụng đòn bẩy kinh tế của chế độtiền thưởng.

Quyết định số 08-CP ngày 1-7-1976 Hội đồng Chính phủ đã chotăn thêm phần tiền thưởng trong quỹ lương của khu vực sản xuất; Bộ Lao động rathông tư quy định tạm thời và hướng dẫn chế độ thưởng thường xuyên từ quỹ lươngtrong các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh nhằm mục đích: khuyến khích côngnhân viên chức đề cao tinh thần trách nhiệm, ý thức làm chủ tập thể, nâng caonăng suất lao động, hiệu suất công tác, chất lượng sản phẩm, hoàn thành tốt vàhoàn thành vượt mức kế hoạch, đạt hiệu quả kinh tế cao, bảo đảm tốc độ tăngnăng suất lao động cao hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân, làm cho chế độtiền lương quán triệt hơn nữa nguyên tắc phân phối theo lao động.

I. PHẠM VI NGUỒN TIỀN THƯỞNG

1. Phạm vi áp dụng thưởng thường xuyên từ quỹ lương

a. Tất cả những đơn vị kinh tế cơ sở đã thực hiện chế độ hạchtoán kinh tế độc lập, có kế hoạch sản xuất, kỹ thuật, tài chính và kế hoạch laođộng tiền lương, được Bộ chủ quản hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố xétduyệt, có đăng ký thực hiện việc quản lý và kiểm soát chỉ tiêu tiền lương theoquy định của Nhà nước.

b) Các cơ quan cấp trên của đơn vị kinh tế cơ sở nói chungkhông thuộc phạm vi thi hành; trường hợp cần thiết sẽ do từng ngành đề nghị vớiBộ Lao động giải quyết cụ thể.

2. Nguồn tiền thưởng trong quỹ lương bao gồm:

a) Quỹ tiền thưởng được cơ quan quản lý cấp trên phân bổ trongquỹ lương kế hoạch hàng năm cho xí nghiệp trên cơ sở cân đối nhiệm vụ sản xuấtkinh doanh và tốc độ tăng năng suất lao động đã được Nhà nước phê chuẩn.

b) Quỹ lương tiết kiệm tương đối do hoàn thành hoặc hoàn thànhvượt mức kế hoạch sản xuất kinh doanh.

Tạm thời cho sử dụng nguồn tiền thưởng nói trên cho tất cả cánbộ, nhân viên trong đơn vị kể cả cán bộ chuyên trách Đảng, đoàn thể và côngnhân, viên chức thuộc nguồn kinh phí khác trả lương, nếu có đủ điều kiện đượcxét thưởng cho đến khi có quyết định mới.

Các đơn vị phải sử dụng đúng đắn quỹ tiền lương, tiền thưởngđể thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách tiền lương, tiền thưởng hiện hành,không có tiền thưởng từng quỹ lương và quỹ tiền lương còn thừa để hưởng hoànthành kế hoạch lợi nhuận, thưởng thi đua (thuộc chế độ ba quỹ) theo tinh thầnchỉ thị số 33-TTg ngày 5-2-1972 của Thủ tướng Chính phủ.

II. ĐỐI TƯỢNG, ĐIỀU KIỆN VÀ CHỈ TIÊU XÉT THƯỞNG CHO CÁ NHÂNCÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC.

1. Đối tượng

Đối tượng được xét thưởng là tất cả công nhân, viên chức thuộclực lượng lao động thường xuyên của đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh, kể cả côngnhân, viên chức là bộ độ chuyển ngành trong thời gian chưa xếp lương, nhữngngười đang trong thời kỳ tập sự, những người làm theo hợp đồng có thời hạn từmột tháng trở lên, cán bộ chuyên trách công tác Đảng, đoàn thể và công nhân,viên chức nhà ăn, nhà trẻ, bệnh xá.

2. Điều kiện để xét thưởng là công nhân, viên chức phảithực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Cụ thể là:

a) Đối với công nhân sản xuất và nhân viên trực tiếp kinhdoanh phải hoàn thành định mức lao động hoặc nội dung nhiệm vụ được giao. Bảođảm tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm hoặc công tác theo đúng quy trình, quy phạmkỹ thuật, đồng thời bảo đảm kỷ luật lao động.

b) Đối với công nhân, nhân viên phụ và phục vụ phải hoàn thànhtốt nhiệm vụ được giao không để xảy ra sự cố ảnh hưởng đến sản xuất, kinhdoanh, tạo điều kiện cho đối tượng mình phục vụ hoàn thành được nhiệm vụ sảnxuất, kinh doanh, đồng thời bảo quản tốt thiết bị dụng cụ, bảo đảm kỷ luật laođộng.

c) Đối với cán bộ quản lý, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ, hànhchính quản trị chỉ được xét thưởng nếu xí nghiệp hoặc phân xưởng mình hoànthành kế hoạch giá trị tổng sản lượng và giá trị sản lượng thương phẩm với chấtlượng bảo đảm theo quy định:

- Đối với cán bộ quản lý: trưởng ngành, phân xưởng trưởng,phân xưởng phó, trưởng phó phòng, ban kỹ thuật, nghiệp vụ; chánh, phó giám đốc;cán bộ chuyên trách Đảng, đoàn thể phải hoàn thành nhiệm vụ được giao, đồngthời thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách chế độ, thể lệ về kinh tế, tài chínhvà lao động.

- Đối với nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ và hành chính, quảntrị phải hoàn thành nội dung nhiệm vụ được giao, đúng thời hạn, đạt yêu cầutheo quy định, phát hiện và giải quyết nhanh chóng các yêu cầu của sản xuấtkinh doanh trong phạm vi trách nhiệm của mình, bảo đảm kỷ luật lao động.

d) Đối với công nhân, nhân viên phục vụ sinh hoạt phải hoànthành tốt nhiệm vụ phục vụ ăn, ở, đi lại, chăm lo sức khỏe cho công nhân, tổchức giữ trẻ v.v… có tác dụng góp phần làm cho công nhân, viên chức yên tâm,phấn khởi, hoàn thành tốt kế hoạch, đồng thời phải bảo đảm kỷ luật lao động.

3. Các tiêu chuẩn và chỉ tiêu dùng để xét thưởng cho côngnhân, viên chức là những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quy định cho đơn vị.

Các Bộ, các ngành, các địa phương hướng dẫn các cơ sở căn cứvào yêu cầu sản xuất và đặc điểm, tính chất công tác của đơn vị và từng bộ phận(chú ý những khâu yếu trong sản xuất và kinh doanh) mà xây dựng nội quy tiềnthưởng, quy định cụ thể những điều kiện và chỉ tiêu (về số lượng và chất lượngsản phẩm) để làm cơ sở xét thưởng cho từng người được chặt chẽ và thuận lợi.

Để việc thưởng được chính xác, người chỉ huy ở mỗi cấp trongxí nghiệp (tổ trưởng sản xuất, phân xưởng trưởng, trưởng phòng, trưởng ban,giám đốc xí nghiệp) làm ngay sổ theo dõi công nhân viên trực tiếp dưới quyềnmình nhất là những bộ phận gián tiếp, ghi những điều mà công nhân viên vi phạmkỷ luật lao động như không thực hiện đúng mệnh lệnh cấp trên, không làm đúngquy trình quy tắc, báo cáo kết quả sai sự thật, vi phạm chế độ kinh tế Nhà nướcv.v... mỗi lần ghi sổ vế ai, cần nói trực tiếp cho người ấy rõ. Làm như vậy sẽtăng cường nhanh chóng kỷ luật lao động trong các xí nghiệp. Trường hợp vi phạmnhững khuyết điểm trên đây và những trường hợp bị ghi vào sổ theo dõi của ngườilãnh đạo xét ra không đáng thưởng thì không được thưởng. Nếu là giám đốc, phógiám đốc kỹ thuật, quản đốc phân xưởng để xảy ra tai nạn chết người hoặc gâythương tật nhiều công nhân thì không được lĩnh tiền thưởng.

III. MỨC THƯỞNG

1. Mức thưởng

a) Công nhân sản xuất được xét thưởng bằng tháng:

- Nếu trong tháng hoàn thành tốt nhiệm vụ, tỷ lệ thưởng tối đakhông quá 10% lương cấp bậc tháng;

- Nếu hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thì được thưởng thêm; nhưngtối đa không quá 20% lương cấp bậc tháng, kể cả mức thưởng hoàn thành nhiệm vụnói trên. Đối với công nhân hưởng mức lương theo sản phẩm cũng được thưởng nhưmức thưởng của công nhân hưởng lương theo thời gian, nhưng định mức lao độngphải được cơ quan quản lý cấp trên xét duyệt chặt chẽ và ban hành mới đượcthanh toán lương theo sản phẩm và áp dụng tiền thưởng này. Từ nay không đượccoi là hợp pháp những định mức giám đốc xí nghiệp tự ý ban hành thấp hơn địnhmức của Nhà nước hoặc không được Bộ chủ quản xét duyệt hoặc ban hành chínhthức.

b) Cán bộ quản lý, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ và hànhchính, quản trị, cán bộ chuyên trách Đảng, đoản thể được xét thưởng 3 tháng mộtlần:

- Nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ; tỷ lệ thưởng hàng quý không quá20% lương chức vụ của một tháng;

- Nếu đơn vị hoàn thành vượt mức kế hoạch giá trị tổng sảnlượng và giá trị sản lượng thương phẩm thì cán bộ quản lý từ trưởng ngành sảnxuất, phân xưởng trưởng, trưởng phòng kỹ thuật, nghiệp vụ kinh tế, giám đốc vàphó giám đốc kỹ thuật của xí nghiệp được thưởng thêm, nhưng tối đa không quá30% lương chức vụ của một tháng trong quý đó (kể cả mức thưởng hoàn thành nhiệmvụ nói trên) và đối với giám đối xí nghiệp không quá 40% lương chức vụ của mộttháng trong quý đó.

2. Nguyên tắc quy định tỷ lệ mức thưởng cụ thể cho cá nhân:

Trên cơ sở quỹ tiền lương và tiền thưởng trên lương được phânbổ cho đơn vị và các mức thưởng quy định nói trên cho từng loại công nhân, viênchức, thủ trưởng đơn vị, sau khi thống nhất ý kiến với công đoàn cùng cấp, quyđịnh tỷ lệ tiền thưởng cao hay thấp cụ thể cho công nhân, viên chức:

a) Căn cứ vào vị trí quan trọng, tính chất phức tạp về kỹthuật và điều kiện lao động nặng nhọc khó khăn khác nhau của từng ngành, nghề,từng công việc trong việc hoàn thành nhiệm vụ.

b) Mức thưởng phải bảo đảm quan hệ thu nhập hợp lý giữa côngnhân hưởng lương theo sản phẩm và công nhân hưởng lương theo thời gian; giữacông nhân sản xuất chính và công nhân sản xuất phụ và phục vụ; giữa công nhânsản xuất và cán bộ, nhân viên quản lý. Mức thưởng cao nhất cho cán bộ, nhânviên không được cao hơn công nhân sản xuất có mức thưởng cao nhất.

c) Trong thời gian xét thưởng từ quỹ lương, không được thưởngtrùng lắp, một người chỉ được thưởng một lần (không kể các chế độ thưởng từnguồn khác như thưởng sáng kiến phát minh, thưởng tiết kiệm nguyên vật liệu,thưởng thi đua).

IV. TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN

1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các Ủy ban nhân dân tỉnhvà thành phố trực thuộc trung ương nghiên cứu đặc điểm ngành mình, địa phươngmình hướng dẫn các cơ sở thực hiện theo đúng quy định trong thông tư này; đồngthời chỉ đạo các cơ sở chấn chỉnh cải tiến các mặt quản lý và xây dựng nội quytiền thưởng, tạo điều kiện cho đơn vị phát huy quyền tự chịu trách nhiệm vềviệc chấp hành đúng đắn các chế độ chính sách về tiền lương, tiền thưởng củaNhà nước. Văn bản hướng dẫn của các ngành, các địa phương cần gửi cho Bộ Laođộng để theo dõi, văn bản của ngành thương nghiệp và vật tư phải được sự thỏathuận của Bộ lao động. Các ngành, các địa phương cần chỉ đạo chặt chẽ việc thựchiện ở cơ sở, kịp thời uốn nắn những thiếu sót, lệch lạc để rút kinh nghiệm phổbiến chung. Trong quá trình thực hiện nếu gặp khó khăn mắc mứu, đề nghị cácngành các cấp báo cáo với Bộ Lao động để kịp thời nghiên cứu giải quyết.

2. Thông tư này có hiệu lực thi hành cho miền Bắc kể từngày 1 tháng 7 năm 1976 và thay thế các văn bản trước đây quy định vềtiền thưởng trong quỹ lương.

BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG

Nguyễn Thọ Chân