NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 15/TT-NH2

Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 1992

THÔNG TƯ

HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN QUYẾTĐỊNH SỐ 239/QĐ-NH1 NGÀY 02-11-1992 CỦA THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VỀ VIỆCBAN HÀNH THỂ LỆ PHÁT HÀNH VÀ SỬ DỤNG NGÂN PHIẾU THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG

Ngày01-11-1992 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký quyết định số 239/QĐ-NH1 banhành thể lệ phát hành và sử dụng Ngân phiếu thanh toán của Ngân hàng, Ngân hàngNhà nước trung ương hướng dẫn thủ tục giao nhận, bảo quản, sử dụng, thanh toánvà hạch toán Ngân phiếu thanh toán như sau :

I.Mục đích

1. Đáp ứng nhu cầuthanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát triển của nền kinh tế, tạo điềukiện thuận lợi và dễ dàng cho khách hàng trong thanh toán tiền hàng hoá và dịchvụ.

2. Tiết kiệm nhu cầutiền mặt trong lĩnh vực thanh toán, chung tiền, nâng cao tỷ trọng thanh toánkhông dùng tiền mặt, góp phần ổn định thị trường, giá cả, củng cố sức mua củađồng tiền góp phần kìm chế lạm phát.

3. Tiết kiệm chi phívà thời gian trong khâu lưu thông và thanh toán.

II.Đối tượng và phạm vi sử dụng

1. Tất cả các kháchhàng có tài khoản tiền gửi kinh doanh, kinh phí (tiền gửi không kỳ hạn hay cókỳ hạn) ở Ngân hàng. Tổ chức Tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước được rút vốn từ tàikhoản tiền gửi bằng Ngân phiếu thanh toán để chi trả tiền hàng hoá, dịch vụ,nộp Ngân sách Nhà nước, trả nợ vay ngân hàng và Tổ chức Tín dụng.

Các khách hàng cũng cóthể nộp tiền mặt vào Ngân hàng, Tổ chức Tín dụng, Kho bạc Nhà nước để nhận Ngânphiếu thanh toán sử dụng vào mục đích thanh toán, chi trả tiền hàng hoá, dịchvụ...

Trường hợp các đơn vịkhông còn tiền, nhưng có nhu cầu chi trả bằng Ngân phiếu thanh toán , kháchhàng có thể xin vay vốn của Ngân hàng, Tổ chức tín dụng và nhận vốn vay bằngNgân phiếu thanh toán để sử dụng trong thanh toán và chi trả tiền hàng hoá,dịch vụ.

Ngân hàng, các Tổ chứctín dụng, Kho bạc Nhà nước khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho các doanhnghiệp tư nhân và cá nhân sử dụng Ngân phiếu thanh toán để giao dịch thanh toánchi trả phục vụ nhu cầu hoạt động của mình.

2. Khi sử dụng Ngânphiếu thanh toán để thanh toán tiền vật tư, hàng hoá, dịch vụ hoặc để chuyểnđổi lấy tiền mặt, thì phải thực hiện ngang giá. Khi thanh toán bằng Ngân phiếuthanh toán, nếu có chênh lệch giữa số tiền phải trả và số tiền đã trả bằng Ngânphiếu thanh toán người bán hàng có thể trả lại Ngân phiếu thanh toán có mệnhgiá nhỏ hơn và tiền mặt , nhưng tiền mặt tối đa không quá 100.000 đồng.

3. Để có Ngân phiếuthanh toán phục vụ khách hàng, các tổ chức tín dụng và Kho bạc nhà nước làm thủtục lĩnh Ngân phiếu thanh toán từ tài khoản tiền gửi ở Ngân hàng nơi mình mởtài khoản (ở Sở Giao dịch của Ngân hàng Nhà nước Trung ương, hay tại chi nhánhNgân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố hoặc ở các Ngân hàng Thương mại mà đơn vịmình mở tài khoản tiền gửi). Khi khách hàng sử dụng Ngân phiếu thanh toán đểtrả nợ vay Ngân hàng, tổ chức Tín dụng hoặc để nộp thuế nộp các khoản khác choNgân sách vào Kho bạc Nhà nước thì Ngân hàng, tổ chức Tín dụng và Kho bạc Nhànước có trách nhiệm thu nhận số Ngân phiếu thanh toán một cách kịp thời chokhách hàng. Khi có số lượng Ngân phiếu thanh toán tại quỹ lớn, xét không sửdụng hết, các tổ chức Tín dụng, Kho bạc Nhà nước được nộp Ngân phiếu thanh toánvào Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Thương mại (nơi đơn vị mở tài khoản tiềngửi) để được ghi Có vào tài khoản tiền gửi của mình.

4. Thời hạn hiệu lựcthanh toán (lưu hành, của Ngân phiếu thanh toán được in sẵn ở trên tờ Ngânphiếu thanh toán. Trong thời hạn hiệu lực của Ngân hàng, tổ chức Tín dụng, Khobạc Nhà nước được tiếp tục sử dụng Ngân phiếu thanh toán tại quỹ để trả tiềnhoặc cho khách hàng vay dùng làm phương tiện thanh toán.

Đến hạn thanh toán,khách hàng có các Ngân phiếu thanh toán phải làm thủ tục nộp vào Ngân hàng, Tổchức Tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước, nơi khách hàng đến hạn đã in trên tờ Ngânphiếu thanh toán để được ghi Có ngay vào tài khoản tiền gửi của khách hàng.

Đối với những ngườichưa có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, tổ chức tín dụng thì tiến hành mở tàikhoản tiền gửi Ngân phiếu thanh toán tại Ngân hàng, tổ chức Tín dụng để khi nộpNgân phiếu thanh toán vào Ngân hàng, Tổ chức tín dụng sẽ ghi Có vào tài khoảntiền gửi này.

Ngân hàng, tổ chức Tíndụng mở một tài khoản phân tích tiền gửi Ngân phiếu thanh toán trong tài khoảntiền gửi tư nhân cá thể số 303. Tiểu khoản mở cho từng người gửi Ngân phiếuthanh toán.

Tài khoản tiền gửiNgân phiếu thanh toán này, khi thanh toán bằng chuyển khoản thì không hạn chế,nhưng nếu rút bằng tiền mặt thì mỗi ngày chỉ được rút tiền mặt một lần và mứctối đa không quá 200.000 đồng. Trong phạm vi tối đa 15 ngày, kể từ ngày Ngânphiếu thanh toán hết hạn lưu hành, các Ngân hàng, tổ chức Tín dụng và Kho bạcNhà nước phải nộp hết số Ngân phiếu thanh toán vào Ngân hàng Nhà nước nơi mìnhmở tài khoản để thanh toán với Ngân hàng Nhà nước. Đối với các đơn vị Kho bạcNhà nước, Tổ chức Tín dụng không mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước thì phảinộp Ngân phiếu thanh toán vào Ngân hàng Thương mại nơi đơn vị mở tài khoản trướcthời hạn trên tối thiểu 5 ngày.

Trong phạm vi tối đa01 tháng, kể từ ngày Ngân phiếu thanh toán hết hạn lưu hành các chi nhánh Ngân hàngNhà nước (kể cả Sở giao dịch NHNN) phải nộp hết số Ngân phiếu thanh toán về cáckho tiền của Ngân hàng Nhà nước Trung ương.

5. Các Ngân hàng, tổchức Tín dụng và Kho bạc Nhà nước phải tổ chức nhận và thanh toán các Ngânphiếu thanh toán do khách hàng nộp vào khi đến hạn cho khách hàng.

Nếu nhận và thanh toánchậm, Ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước sẽ bị phạt theo mứcchậm trả trong thanh toán (theo quyết định số 101/NH-QĐ ngày 30-7-1991 và thôngtư số 110/NH-Trung tâm ngày 20-8-1991 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước).

III.Thủ tục giao nhận, bảo quản ngân phiếu thanh toán

Việc giao nhận, vậnchuyển và bảo quản Ngân phiếu thanh toán thực hiện chặt chẽ đầy đủ và đúng thủtục như giao, nhận, vận chuyển và bảo quản tiền mặt.

1. Tổ chức giao, nhận.

Việc giao, nhận Ngânphiếu thanh toán phải căn cứ vào các giấy tờ, biên bản hay chứng từ hợp phápnhư giao, nhận tiền mặt.

- Nhà in và Vụ Pháthành và Kho quỹ khi giao, nhận Ngân phiếu thanh toán mới in, phải thực hiệngiao nhận nguyên bó do Nhà in đã niêm phong, biên bản phải kèm theo bảng kê sốlượng, xêri và số của từng loại.

- Khi giao, nhận Ngânphiếu thanh toán giữa Kho tiền của Ngân hàng Nhà nước Trung ương với các chinhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố (kể cả với Sở giao dịch Ngân hàng Nhànước) :

+ Đối với các bó đủ 10thiếp còn nguyên niêm phong thì giao, nhận kiểm đếm theo bó và thếp, biên bảncó ghi số lượng, thếp, xêri và số của từng loại Ngân phiếu thanh toán giao nhận.

+ Đối với các bó khôngđủ 10 thếp, hoặc đủ 10 thếp nhưng bị rách niêm phong và các tờ lẻ (nếu có thìkiểm đếm tờ, biên bản giao, nhận có kèm theo bảng kê ghi số lượng, xêri và sốcủa từng tờ Ngân phiếu thanh toán.

- Khi giao, nhận Ngânphiếu thanh toán giữa Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước (kể cả Sở giao dịch Ngânhàng Nhà nước) với các Ngân hàng, tổ chức Tín dụng, Kho bạc Nhà nước với kháchhàng ; hoặc giữa các khách hàng với nhau, phải kiểm tra thật, giả, phải kiểmđếm từng tờ theo từng loại Ngân phiếu thanh toán (theo từng loại mệnh giá) đểxác định số lượng tờ, giá trị tiền theo từng loại mệnh giá và tổng giá trị Ngânphiếu thanh toán đã giao, nhận.

Sau khi kiểm đếm phảiđối chiếu giá trị Ngân phiếu thanh toán thực nhận với số liệu trên chứng từ kếtoán. Người giao và người nhận phải ký vào vị trí quy định trên chứng từ.

Để xác định tráchnhiệm, khi phát hiện có Ngân phiếu thanh toán giả, nghi giả hay bị phá hoại...trong quỹ hay đang cầm giữ, trên chứng tử giao, nhận phải ghi xêri và số củatừng tờ Ngân phiếu thanh toán.

2. Tổ chức bảo quản :

Tất cả Ngân phiếuthanh toán còn hoặc hết giá trị lưu hành phải được quản lý và bảo quản chu đáochặt chẽ như tiền mặt.

Định kỳ (tháng, ngày,cuối tháng) phải tổ chức kiểm kê, đối chiếu với sổ sách kế toán, bảo đảm sựkhớp đúng giữa số liệu kế toán với số liệu của thủ quỹ (hay thủ kho) và giá trịcủa Ngân phiếu thanh toán thực tế còn tại đơn vị. Ngoài sổ kho sổ quỹ để ghichép theo dõi về Ngân phiếu thanh toán (dùng sổ kho, sổ quỹ tiền mặt) thủ khothủ quỹ phải mở sổ theo dõi chi tiết theo từng loại Ngân phiếu thanh toán vàtheo thời hạn thanh toán.

3. Tổ chức vận chuyển :

Việc vận chuyển cácNgân phiếu thanh toán phải tổ chức thực hiện như vận chuyển tiền mặt. Phải bảođảm an toàn tài sản.

4. Tổ chức tiêu huỷ :Các Ngân phiếu thanh toán đã hết thời hạn lưu hành (thanh toán) phải tổ chứctiêu huỷ theo chế độ tiêu huỷ giấy bạc rách nát, hư hỏng được đã hết giá trịlưu hành.

5. Báo cáo, điện báođịnh kỳ về Ngân phiếu thanh toán thực hiện như báo cáo thu, chi, tồn quỹ tiềnmặt quy định hiện hành.

IV.thủ tục hạch toán tại khách hàng

1. Để thuận tiện trongviệc chuyển tiền và chi trả, thanh toán, khách hàng có thể nhận tiền từ tàikhoản tiền gửi ở tổ chức Tín dụng, Kho bạc Nhà nước bằng Ngân phiếu thanh toán.

Muốn rút tiền bằngNgân phiếu thanh toán khách hàng lập séc lĩnh Ngân phiếu thanh toán (sử dụng sẽlĩnh tiền mặt hiện hành) đưa đến Ngân hàng, tổ chức Tín dụng, Kho bạc Nhà nướcnơi mở tài khoản, trong đó ghi rõ tổng số tiền cần rút bằng Ngân phiếu thanhtoán.

Căn cứ vào số tiền ghitrên séc này, tổ chức Tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước giao Ngân phiếu thanh toáncho khách hàng (thủ tục trả Ngân phiếu thanh toán cho khách hàng thực hiện nhưthủ tục trả tiền mặt).

Khi nhận Ngân phiếuthanh toán về nhập quỹ, khách hàng hạch toán :

Nợ : TK 50 Tiền mặt(TK 502)

Có : TK 51 Tiền gửiNgân hàng, Kho bạc Nhà nước (TK 511)

2. Khi nhận các Ngânphiếu thanh toán, khách hàng cần kiểm tra kỹ để phát hiện và không chấp nhậnthanh toán đối với các tờ Ngân phiếu thanh toán giả, Ngân phiếu thanh toán bịphá huỷ (bị cắt, xén, sửa chữa, tẩy xoá, viết vẽ), rách nát hoặc đã hết hạn.

Để phát hiện Ngânphiếu thanh toán giả khách hàng có thể sử dụng các biện pháp sau đây :

- Thứ nhất : nắm vữngtên và địa chỉ của người trả Ngân phiếu thanh toán. Khi bán hàng hoặc cung ứngcác dịch vụ có giá trị lớn, cần ký kết hợp đồng kinh tế. Khi nhận Ngân phiếuthanh toán phải lập bảng kê ghi xêri, số của từng tờ theo từng loại Ngân phiếuthanh toán, họ tên, địa chỉ của người nộp, để phát hiện có Ngân phiếu thanhtoán giả, còn có cơ sở để truy cứu.

- Thứ hai : nên sửdụng đèn cực tím (do ngân hàng nhượng bán và hướng dẫn cách dùng) để kiểm tracác đặc điểm cơ bản của Ngân phiếu thanh toán, đã được Ngân hàng thông báo.

- Thứ ba : Đưa Ngânphiếu thanh toán đến ngân hàng để kiểm tra.

3. Khi nộp Ngân phiếuthanh toán vào tổ chức Tín dụng, hoặc Kho bạc Nhà nước khách hàng lập Giấy nộpNgân phiếu thanh toán (dùng giấy nộp tiền mặt) kèm bảng kê xêri, số của từng tờcủa từng loại Ngân phiếu thanh toán. Căn cứ vào giấy báo Có của Tổ chức Tíndụng, Kho bạc Nhà nước để hạch toán :

Nợ TK 51 hoặc Tàikhoản thích hợp

Có TK 50 (TK 502)

V.Xử lý Ngân phiếu thanh toán giả, bị phá huỷ

Theo điều 8 của thể lệphát hành và sử dụng Ngân phiếu thanh toán quy định : nghiêm cấm việc làm giả,tẩy xoá, sửa chữa, phá hoại (cắt xén, bôi nhoè, viết vẽ...) Ngân phiếu thanhtoán cũng như lưu hành các tờ Ngân phiếu thanh toán đó. Ai vi phạm sẽ bị xử lýnhư làm, lưu hành tiền giả hoặc phá hoại tiền. Vì vậy :

Ngân hàng, các tổ chứcTín dụng, Kho bạc Nhà nước và khách hàng không thanh toán các tờ Ngân phiếuthanh toán giả, bị tầy xoá, sửa chữa, cắt xén, bôi nhoè, viết vẽ...

Khi phát hiện (hoặcnghi vấn) Ngân phiếu thanh toán giả, bị phá hoại... thì phải lập biên bản, giữtang vật, đồng thời báo cho cơ quan Công an gần nhất đến xác minh xử lý ngườivi phạm. Ngân phiếu thanh toán thu giữ kèm theo biên bản phải nộp vào Ngânhàng.

Trong quá trình thựchiện thông tư này có gì khó khăn, vướng mắc yêu cầu phản ánh kịp thời cho Ngânhàng Nhà nước Trung ương để có biện pháp giải quyết.

KT. THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
PHÓ THỐNG ĐỐC




Đỗ Quế Lượng