BỘ THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 18-TBXH

Hà Nội, ngày 15 tháng 09 năm 1978

 

THÔNG TƯ

HƯỚNG DẪN THI HÀNH QUYẾTĐỊNH SỐ 198-CP NGÀY 08/8/1978 CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI BỔ SUNG MỘT SỐĐIỂM VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ VÀ NGHỈ VIỆC VÌ MẤT SỨC LAO ĐỘNG

Ngày 08 tháng 8 năm 1978, Hội đồng Chính phủ đã ban hành quyếtđịnh số 198-CP sửa đổi một số điểm về chế độ hưu trí và chế độ nghỉ việc vì mấtsức lao động đối với công nhân, viên chức Nhà nước và quân nhân.

Sau khi đã trao đổi ý kiến với Bộ Quốc phòng, Bộ Thương binhvà xã hội hướng dẫn cụ thể một số điểm để thi hành như sau:

1. Điều kiện để được hưởng chế độ hưu trí

Điều 1 và điều 2 trong quyết định số 198-CP ngày 08/8/1978 củaHội đồng Chính phủ chỉ sửa đổi điều 4 trong nghị định số 163-CP ngày04/07/1974, điều 32 trong Điều lệ tạm thời về các chế độ đãi ngộ quân nhân vàđiểm c (mục 1), điểm b (mục 2) trong điều 1 của nghị định số 10-NĐ/76 ngày18/6/1976. Do đó các điều khác quy định về tuổi, thời gian công tác để hưởngchế độ hưu trí nói trong 2 bản Điều lệ tạm thời (ban hành theo nghị định số218-CP ngày 27/12/1961, nghị định số 161-CP ngày 30-10-1964) và các điểm khác ởtrong nghị định số 10-NĐ/76 ngày 18/6/1976 vẫn thi hành (nếu người được giảiquyết có đủ điều kiện phù hợp với 01 điều trong các nghị định đó)

Dưới đây nói rõ thêm quy định của điều 1 và điều 2 về việc thihành chế độ hưu trí đối với công nhân, viên chức Nhà nước đã hoạt động trongthời kỳ kháng chiến và đối với quân nhân (kể cả công an nhân dân):

a) Những công nhân, viên chức đã hoạt động trong thời kỳ khángchiến chống Pháp nói ở điều 1 của quyết định số 198-CP là những người đã thamgia công tác trước ngày 20 tháng 7 năm 1954 (bao gồm cả những người lúc đó làmcông tác ở cơ sở). Những người này, nếu đã có đủ 25 năm công tác liên tục (kểcả đối với nữ) và ốm đau mất sức lao động phải nghỉ việc thì dù chưa đủ tuổi vềhưu cũng được hưởng chế độ hưu trí.

Đối với công nhân, viên chức đã tham gia kháng chiến ở miền Nam thì quyết định số 198-CP (điều 5) đã ghi là thay đoạnđầu điểm c (mục 1) điều 1 của nghị định số 10-NĐ/76 ngày 18/6/1976. Do vậy, khianh chị em đã có đủ 25 năm công tác liên tục mà ốm đau, mất sức lao động phảinghỉ việc thì cũng được hưởng chế độ hưu trí. Còn những người chưa đủ 25 nămcông tác liên tục, nhưng đã có từ 15 năm công tác liên tục trở lên (trong đó có10 năm tham gia kháng chiến ở miền Nam) thì vẫn phải đủ 50 tuổi (nam) hay 45tuổi (nữ) như quy định cũ (nghị định số 10-NĐ/76 ngày 18/6/1976) mới được hưởngchế độ hưu trí.

b) Những quân nhân được hưởng điều kiện quy định nói ở điều 2của quyết định là những quân nhân còn đang tại ngũ (kể cả công an nhân dân) nếucó đủ 15 năm công tác liên tục (trong đó có 10 năm công tác trong các lực lượngvũ trang nhân dân) nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và ốm đau mất sức phải xuấtngũ về gia đình thì cũng được hưởng chế độ hưu trí. Còn những quân nhân đã cóđủ 25 năm công tác liên tục (kể cả thời gian trước đó công tác trong cơ quan,xí nghiệp Nhà nước nếu có) mà vì ốm đau không công tác được nữa thì dù chưa đủtuổi nói trên vẫn được hưởng chế độ hưu trí.

c) Để phù hợp với đặc điểm cụ thể của đội ngũ cán bộ, từ nayđối với công nhân, viên chức nói trên nếu đã có đủ 55 tuổi (nam) hay 50 tuổi(nữ), hoặc đối với quân nhân (kể cả quân nhân có 5 tuổi quân đã chuyển ngành)đã có đủ 50 tuổi (nam) hay 45 tuổi (nữ) và có thời gian công tác liên tục đủ 25năm mà do ốm đau thực sự không làm việc được nữa thì không phải ra hội đồnggiám định y khoa để giám định sức khỏe.

2. Đối tượng được hưởng trợ cấp mất sức lao động dài hạn

Điều 4 của quyết định số 198-CP đã bổ sung đoạn cuối của điểm2 (điều 1) của nghị định số 163-CP ngày 04/7/1974 và điểm b (mục 4) phần IIđiều 1 của nghị định số 10-NĐ/76 ngày 18/6/1976 và đối tượng được hưởng trợ cấpmất sức lao động dài hạn.

Như vậy, kể từ ngày 08 tháng 8 năm 1978 (ngày ban hành quyếtđịnh số 198-CP), những công nhân, viên chức Nhà nước về nghỉ việc vì mất sứclao động (bao gồm cả những công nhân, viên chức Nhà nước đã về nghỉ việc vì mấtsức lao động từ trước đây mà hiện còn hưởng trợ cấp hàng tháng) thuộc diệnhưởng trợ cấp dài hạn, ngoài những đối tượng trước đây đã quy định nay có thêmnhững người sau đây:

- Những công nhân, viên chức được nghỉ việc hưởng trợ cấp mấtsức lao động hàng tháng đã có 3 năm hoạt động trong thời kỳ kháng chiến chốngPháp được tính là thời gian công tác (kể cả tính thời gian công tác nói chung)

- Những công nhân, viên chức đã có 15 năm công tác liên tục vàkhi về nghỉ việc nam đã 50 tuổi, nữ đã 45 tuổi.

Ngoài ra, cũng theo quy định tại điều 4, đối với tất cả nhữngngười đang hưởng trợ cấp mất sức hàng tháng, nếu thuộc diện hưởng trợ cấp dàihạn thì khi chết, thân nhân của người đó cũng được xét để cho hưởng tiền tuấtnhư chế độ tiền tuất hiện hành đối với người về hưu chết.

3. Thủ tục điều chỉnh cho những người có đủ điều kiện đượcchuyển sang hưởng chế độ hưu trí.

Quyết định số 198-CP của Hội đồng Chính phủ được thi hành kểtừ ngày ký; do đó, nếu có trường hợp công nhân viên chức và quân nhân đã cóquyết định cho về nghỉ việc theo chế độ mất sức lao động và ghi ngày hưởng trợcấp sau ngày 8 tháng 8 năm 1978 (đã được cấp sổ trợ cấp hoặc đang làm thủ tụcđể cấp sổ), nhưng nay xét theo quyết định số 198-CP, người đó lại có đủ điềukiện hưởng chế độ hưu trí, thì đều được điều chỉnh lại và được hưởng trợ cấphưu trí kể từ ngày nghỉ việc.

Các Sở, Ty thương binh và xã hội căn cứ vào hồ sơ của nhữngngười nói trên, lập phiếu điều chỉnh và cấp sổ trợ cấp hưu trí cho đương sự nhưđã quy định tại thông tư số 03-TBXH ngày 22/01/1977 của Bộ thương binh và xãhội.

Trên đây, Bộ Thương binh và xã hội hướng dẫn một số điểm cầnthiết. Trong khi thực hiện phải căn cứ vào yêu cầu của tình hình và nhiệm vụmới mà làm cho mọi người quán triệt và chấp hành nghiêm chỉnh quyết định củaHội đồng Chính phủ.

Những nội dung hướng dẫn ở các văn bản trước đây trái vớihướng dẫn của thông tư này đều bãi bỏ.

KT. BỘ TRƯỞNG

BỘ THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

THỨ TRƯỞNG

Nguyễn Kiện