BỘ TÀI CHÍNH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 22 tháng 3 năm 1996

THÔNG TƯ CỦA BỘ TÀI CHÍNH

Hướng dẫn quy trình và thủ tục thẩm tra

phê duyệt quyết toàn tài chính năm 1995 đối với các doanh nghiệp Nhà nước

 ______________________________

Căn cứ Nghị định số 178/CP ngày 28/10/1994 của Chính phủ qui định nhiệm vụ quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Tài chính;

Căn cứ Nghị định số 34/CP ngày 27/5/1995 của Chính phủ qui định nhiệm vụ quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp;

Căn cứ Quyết định số 1215/TC-QĐ-TCCB ngày 4/12/1995 của Bộ Tài chính về việc uỷ quyền cho Tổng cục quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp thực hiện một số nhiệm vụ về quản lý tài chính doanh nghiệp;

Bộ Tài chính hướng dẫn qui trình và thủ tục thẩm tra, phê duyệt quyết toán tài chính năm 1995 đối với các doanh nghiệp nhà nước như sau:

I. ĐỐI TƯỢNG THẨM TRA, PHÊ DUYỆT QUYẾT TOÁN

Đối tượng được cơ quan có thẩm quyền thẩm tra phê duyệt quyết toán năm 1995 là các doanh nghiệp nhà nước (bao gồm các doanh nghiệp hạch toán độc lập, các Tổng Công ty, Liên hiệp xí nghiệp thực hiện hạch toán tổng hợp hoặc tập trung, kể cả các doanh nghiệp hạch toán độc lập thuộc các Liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty); các Công ty cổ phần, Công ty liên doanh mà các bên góp vốn là doanh nghiệp nhà nước.

II. NỘI DUNG THẨM TRA PHÊ DUYỆT QUYẾT TOÁN NĂM 1995

Nội dung thẩm tra phê duyệt quyết toán năm 1995 đối với các doanh nghiệp nhà nước được áp dụng như qui định tại Thông tư số 10TC/CN ngày 22/2/1994 của Bộ Tài chính.

Đối với năm 1995 cần lưu ý một số điểm sau:

1. Rà soát chặt chẽ các khoản chi lương, thưởng theo đúng chế độ qui định hiện hành; các khoản thu nhập từ hoạt động liên doanh, liên kết.

2. Xem xét kỹ tình hình sử dụng TSCĐ, tăng giảm TSCĐ, phân loại TSCĐ không cần dùng, chờ thanh lý, xem xét hàng hoá tồn kho chậm luân chuyển để có biện pháp xử lý; xác định rõ các loại vốn góp và nhận liên doanh liên kết. Việc bảo toàn vốn theo quy định hiện hành.

3. Xem xét tình hình công nợ của doanh nghiệp bao gồm nợ phải thu, nợ phải trả, trong đó nợ khó đòi, nợ không xác định được chủ.

4. Kiểm tra việc sử dụng chứng từ hoá đơn theo qui định của Bộ Tài chính. Loại khỏi chi phí sản xuất kinh doanh các khoản chi sai chế độ qui định.

5. Rà soát việc trích lập, quản lý và sử dụng các quỹ xí nghiệp và các khoản còn tồn đọng phải nộp vào Ngân sách Nhà nước.

6. Các doanh nghiệp áp dụng thử nghiệm chế độ kế toán mới theo Quyết định số 1205 TC/CĐKT và số 1206 TC/CĐKT ngày 14/12/1994 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì việc quyết toán được thực hiện theo các Quyết định nêu trên.

III. THẨM QUYỀN PHÊ DUYỆT QUYẾT TOÁN

Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc phê duyệt và tổng hợp quyết toán tài chính hàng năm của các doanh nghiệp nhà nước.

Riêng đối với năm 1995, Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt quyết toán cho các Tổng Công ty thành lập theo Quyết định 91 TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ và uỷ quyền cho Tổng cục quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp tổ chức phê duyệt quyết toán cho các doanh nghiệp còn lại.

IV. QUI TRÌNH THẨM TRA PHÊ DUYỆT QUYẾT TOÁN

1. Các doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập (bao gồm cả Tổng Công ty, Liên hiệp xí nghiệp và doanh nghiệp thành viên) phải hoàn thành đúng hạn theo chế độ qui định về việc lập báo cáo quyết toán định kỳ, quyết toán năm gửi cho cơ quan quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cơ quan Thuế trên địa bàn. Các Tổng Công ty, Liên hiệp xí nghiệp (kể cả các doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập), các doanh nghiệp nhà nước độc lập trực thuộc các Bộ, ngành trung ương phải đồng thời gửi báo cáo quyết toán năm 1995 cho Tổng cục quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.

2. Sau khi nhận được báo cáo quyết toán năm 1995 của các doanh nghiệp nhà nước, căn cứ vào sự phân cấp phê duyệt quyết toán, cơ quan quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp các cấp lập kế hoạch tổ chức thẩm tra quyết toán và thông báo cho các doanh nghiệp biết để chuẩn bị, đồng thời thông báo cho Cục thuế địa phương biết để cử cán bộ phối hợp kiểm tra quyết toán.

3. Thành lập tổ chuyên viên tiến hành thẩm tra quyết toán trước khi phê duyệt. Cụ thể như sau:

- Chuyên viên của cơ quan quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp - Tổ trưởng.

- Chuyên viên cơ quan Thuế - thành viên.

Trường hợp doanh nghiệp nhà nước là các đơn vị thành viên của các Liên hiệp xí nghiệp, các Tổng Công ty thực hiện hạch toán độc lập thì thành phần tổ chuyên viên còn có cán bộ tài chính kế toán của các Liên hiệp xí nghiệp, Tổng Công ty cùng tham gia.

4. Các chuyên viên làm nhiệm vụ thẩm tra quyết toán cần nghiên cứu kỹ số liệu trong báo cáo quyết toán hoặc biên bản kiểm toán tại doanh nghiệp (nếu có) khi tiến hành thẩm tra số liệu quyết toán.

- Tổ chuyên viên thẩm tra quyết toán có trách nhiệm thực hiện đúng các qui định hiện hành về kiểm tra tài chính - kế toán và đảm bảo tính chính xác, trung thực trong quá trình kiểm tra.

5. Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc và kế toán trưởng các doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm cung cấp các tài liệu kế toán cần thiết có liên quan phục vụ cho việc thẩm tra số liệu quyết toán và chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự trung thực, chính xác của các số liệu đã báo cáo trong quyết toán.

6. Kết thúc kiểm tra, tổ chuyên viên lập biên bản thông qua số liệu đã thẩm tra quyết toán theo qui định (mẫu số 1 kèm theo).

Trường hợp có ý kiến khác nhau hoặc các vướng mắc trong quá trình thẩm tra phải ghi đầy đủ vào biên bản để báo cáo cấp có thểm quyền xử lý.

7. Căn cứ vào báo cáo quyết toán của doanh nghiệp Nhà nước, biên bản kiểm tra số liệu của tổ chuyên viên, cấp có thẩm quyền xem xét phê duyệt quyết toán năm 1995 cho các doanh nghiệp (theo mẫu số 2 kèm theo).

Việc tổ chức thẩm tra, phê duyệt quyết toán cho các DNNN phải được thực hiện một cách chặt chẽ, khẩn trương, tránh gây phiền hà và ảnh hưởng đến hoạt động SXKD bình thường của doanh nghiệp.

V. TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHÊ DUYỆT QUYẾT TOÁN CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Căn cứ vào số liệu thẩm tra phê duyệt quyết toán năm 1995 của các doanh nghiệp nhà nước, cơ quan Quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp tiến hành tổng hợp số liệu quyết toán đã được phê duyệt, phân tích đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước theo địa bàn và theo ngành kinh tế để báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan có liên quan và tổng hợp trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để báo cáo Chính phủ.

VI. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Thông tư này áp dụng cho việc thẩm tra phê duyệt quyết toán tài chính năm 1995 đối với các doanh nghiệp nhà nước. Những quy định tại Thông tư số 10 TC/CN ngày 22/2/1994 của Bộ Tài chính không trái với những quy định tại Thông tư này vẫn có hiệu lực thi hành.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị các đơn vị báo cáo về Bộ Tài chính để nghiên cứu giải quyết.

Đang cập nhật

(Đã ký)

Phạm Văn Trọng