HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI KINH TẾ NHÀ NƯỚC******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 306-TTHĐ

Hà Nội, ngày 03 tháng 10 năm 1979

THÔNG TƯ

HƯỚNG DẪN NGHIỆPVỤ CÔNG TÁC THANH TRA HỢP ĐỒNG KINH TẾ.

Thanh tra hợp đồng kinh tế là một nhiệm vụquan trọng và thường xuyên của các tổ chức trọng tài kinh tế. Nhiệm vụ này đãđược quy định ở bản Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành theo nghị địnhsố 54-CP ngày 10-3-1975, ở bản Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Hội đồng trọngtài kinh tế Nhà nước ban hành theo nghị định số 75-CP ngày 14-4-1975 và ở bảnquy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của hội đồng trọngtài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành theo quyết định số263-TTg ngày 2-8-1979.
Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước đã có thông tư hướng dẫn thi hành các bảnđiều lệ và quy định nói trên.
Căn cứ vào các quy định hiện hành của Nhà nước và những kinh nghiệm thực tế thuđược những năm qua trong công tác thanh tra hợp đồng kinh tế, chủ tịch Hội đồngtrọng tài kinh tế Nhà nước ra thông tư hướng dẫn cụ thể một số vấn đề nghiệp vụcông tác nói trên.

I.MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA CÔNG TÁC THANH TRA HỢP ĐỒNG KINH TẾ

Hợp đồng kinh tế là công cụ pháp lý của Nhà nướctrong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nhà nước bắt buộcmọi hoạt động kinh tế có liên quan với nhau đều phải ký kết hợp đồng kinh tế. Đốivới kế hoạch Nhà nước, nó là biện pháp chủ yếu trong việc xây dựng, bảo vệ, xétduyệt, điều chỉnh và thực hiện thắng lợi kế hoạch, Kế hoạch Nhà nước (thường đượccoi là cương lĩnh thứ hai của Đảng) bao gồm các chỉ tiêu về số lượng, về chấtlượng và các quy định của Nhà nước để thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về số lượngvà chất lượng ấy đều mang tính pháp lệnh của Nhà nước, cho nên các cấp, cácngành, các đơn vị kinh tế cơ sở đều có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh.

Tuy vậy, từ pháp lệnh của Nhà nước đến việc làmthực tế hiện nay của các cấp, các ngành, các đơn vị kinh tế cơ sở còn cách xado những hành động bản vị, cục bộ địa phương, quan liêu, vô trách nhiệm, hoặckhông nắm vững những quy định hiện hành của Nhà nước có khi vì tự tư tự lợi, từđó nảy sinh ra mâu thuẫn dẫn đến tranh chấp về hợp đồng kinh tế.

Do vậy, việc thanh tra hợp đồng kinh tế phải nhằmđạt những mục đích và yêu cầu sau đây :

- Qua việc thanh tra hợp đồng kinh tế mà phát hiệnvà kiến nghị với các cơ quan quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước sửa chữa nhữngthiếu sót trong việc chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế và các pháp luật khác cóliên quan, nhằm bảo vệ pháp chế kinh tế, và tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vịkinh tế cơ sở ký kết và thực hiện tốt hợp đồng kinh tế.

- Qua việc thanh tra hợp đồng kinh tế mà thực sựtham gia vào việc kiểm tra hoàn thành kế hoạch của đơn vị kinh tế cơ sở, chủ yếulà các chỉ tiêu về hiện vật và giá trị, về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nhằmgóp phần củng cố chế độ hạch toán kinh tế, tăng cường quản lý kinh tế.

- Qua việc thanh tra hợp đồng kinh tế mà giúpcác đơn vị kinh tế cơ sở thấy rõ quyền làm chủ về kế hoạch, quyền tự chịu tráchnhiệm của cơ sở; và áp dụng đúng đắn luật lệ của Nhà nước trong việc xây dựngvà thực hiện kế hoạch, trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế;

- Qua việc thanh tra hợp đồng kinh tế mà phát hiệnvà giải quyết kịp thời những tranh chấp về hợp đồng kinh tế, từ đó tác độngtích cực đến hoạt động kinh tế của các bên có liên quan, thúc đẩy việc ký kếtvà thực hiện hợp đồng để hoàn thành thắng lợi kế hoạch Nhà nước.

II.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THANH TRA

A. TRANH TRA Ở CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ :

Các đơn vị kinh tế cơ sở là nơi trực tiếp thựchiện nhiệm vụ kế hoạch của Nhà nước, là nơi làm ra của cải cho xã hội và là nơidiễn ra đồng thời 3 cuộc cách mạng (cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoahọc - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa). Cho nên thanh tra hợp đồng kinhtế ở các đơn vị kinh tế cơ sở là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết. Làmtốt việc thanh tra này sẽ đề cao kỷ luật của hợp đồng, đề cao trách nhiệm củacác bên trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế, góp phần hoàn thành thắnglợi kế hoạch Nhà nước.

Nội dung công tác hợp đồng kinh tế ở các đơn vịkinh tế cơ sở có hai phần :

1. Áp dụng chế độ hợp đồng kinh tế của Nhà nước ởcác đơn vị kinh tế cơ sở.

2. Ký kết hợp đồng kinh tế để thực hiện nhiệm vụkế hoạch do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao, và thực hiện đầy đủ, đúng đắnnhững hợp đồng kinh tế đã ký kết.

Khi tiến hành thanh tra ở đơn vị kinh tế cơ sở,cần phân biệt rõ việc hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra ký kết hợp đồng, điều chỉnhhợp đồng, thực hiện hợp đồng, áp dụng chế độ hợp đồng kinh tế vào sản xuất,kinh doanh là chức năng của cơ quan quản lý cấp trên mà đơn vị kinh tế cơ sở làđơn vị trực thuộc. Đó là mối quan hệ chỉ đạo dọc về quản lý kinh tế, không phảilà quan hệ pháp lý hợp đồng, nhằm giải quyết những tồn tại (nếu có) giữa cơquan quản lý cấp trên với đơn vị kinh tế cơ sở trong lĩnh vực công tác hợp đồngkinh tế. Hội đồng trọng tài kinh tế không thể làm thay các cơ quan quản lý về nộidung chỉ đạo nói trên.

Cần nắm vững nội dung thanh tra của các tổ chứctrọng tài kinh tế ở các đơn vị kinh tế cơ sở là thanh tra hợp đồng kinh tế, lấytừng bản hợp đồng kinh tế làm đối tượng để xem xét các điểm sau đây :

- Số lượng ghi trong từng bản hợp đồng kinh tếcó đúng chỉ tiêu kế hoạch hoặc nhiệm vụ sản xuất do cơ quan Nhà nước có thẩmquyền giao không ? ký có đúng với thời gian quy định trong tiến độ mà cấp trênđã định không ?

- Chất lượng ghi trong hợp đồng kinh tế có đúngtiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật hoặc các quy định của cơ quan Nhà nước có thẩmquyền không ?

- Giá cả và phương thức thanh toán ghi trong hợpđồng có đúng với quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không ?

- Các điều kiện để thực hiện chỉ tiêu số lượngvà chất lượng có đúng quy định của Nhà nước không ?

- Bản thân bản hợp đồng kinh tế ấy có làm đượcvai trò cụ thể hóa nhiệm vụ kế hoạch, cụ thể hóa các điều kiện để thực hiện nhiệmvụ kế hoạch, có xác định nghĩa vụ và ràng buộc về trách nhiệm vật chất của mỗibên nếu gây ra thiệt hại theo đúng quy định của Nhà nước không ? và có làm đúngchế độ hợp đồng kinh tế không ?

Những thiếu sót phát hiện trong quá trình thanhtra (nếu có) phải được sửa chữa, khắc phục kịp thời theo đúng các quy định củaNhà nước về chế độ hợp đồng kinh tế.

B. THANH TRA Ở CÁC CƠ QUAN QUẢNLÝ CẤP TRÊN CỦA ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ :

Nội dung thanh tra của các tổ chức trọng tàikinh tế ở các cơ quan quản lý cấp trên của đơn vị kinh tế cơ sở là thanh tra vềtrách nhiệm chỉ đạo thực hiện chế độ hợp đồng kinh tế ở các đơn vị kinh tế cơ sở,cụ thể là thanh tra các mặt dưới đây :

1. Phân bổ kịp thời số kiểm tra và chỉ tiêuchính thức của kế hoạch Nhà nước đến các đơn vị kinh tế cơ sở trực thuộc và ấnđịnh thời gian tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế theo đúng tiến độ chung củaNhà nước, nhằm xây dựng, bảo vệ, xét duyệt, điều chỉnh và thực hiện thắng lợi kếhoạch Nhà nước.

2. Thông báo cho các cơ quan có liên quan biếtchỉ tiêu kế hoạch (bao gồm số kiểm tra, số chính thức hoặc điều chỉnh) và cácbiện pháp cần thiết khác để bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất giữa các cơ quan có mốiquan hệ về kinh tế.

3. Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các đơn vị kinhtế cơ sở trực thuộc ký kết hợp đồng kinh tế (hoặc điều chỉnh hợp đồng nếu chỉtiêu kế hoạch có thay đổi so với hợp đồng đã ký) và thực hiện hợp đồng kinh tếđã ký kết).

4. Giải quyết hoặc cùng các cơ quan quản lý vàcác địa phương có liên quan bàn bạc giải quyết các mắc mứu, khó khăn cho cácđơn vị kinh tế cơ sở, tạo điều kiện cho đơn vị kinh tế cơ sở ký kết hợp đồngkinh tế và thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký kết.

C. Việc thanh tra hợp đồng kinh tế (bao gồm cảviệc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế ) không nhất thiết phải thanh tra hếtcác xí nghiệp và mỗi xí nghiệp phải thanh tra hết tất cả các bản hợp đồng. Khilập chương trình thanh tra hàng năm, hàng quý, hàng tháng, cũng phải nhằm vàocác cơ sở sản xuất hoặc lưu thông phân phối những mặt hàng quan trọng thiết yếuđối với nền sản xuất xã hội và đối với đời sống nhân dân,các mặt hàng xuất khẩuchủ yếu, các mặt hàng giữ vị trí quan trọng trong nguồn thu ngân sách; các côngtrình xây dựng trọng điểm, các công trình xây dựng có sự hợp tác với nướcngoài; các xí nghiệp vận tải và bến cảng quan trọng… Trong mỗi cơ sở hoặc côngtrình trên đây, khi tiến hành thanh tra, cũng phải nhằm vào những bản hợp đồngkinh tế chủ yếu mà việc thực hiện hay không thực hiện nó, quyết định phần lớn đếnhoàn thành nhiệm vụ kế hoạch của cơ sở hoặc công trình được thanh tra.

Việc thanh tra ở các cơ quanquản lý cấp trên của đơn vị kinh tế cơ sở không nên tiến hành toàn diện ở mọi cơquan và thường xuyên, mà chỉ thanh tra ở một số cơ quan và nhằm vào một số chỉtiêu chủ yếu trong những trường hợp đã có số kiểm tra kế hoạch hoặc vào dịp đầunăm kế hoạch hoặc đã có sự điều chỉnh kế hoạch để rút kinh nghiệm giúp cơquan quản lý chỉ đạo việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế ở các đơn vịkinh tế cơ sở trực thuộc được tốt hơn.

III.NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN THANH TRA VÀ TỔ CHỨC VIỆC THANH TRA

A. NHIỆM VỤ THANH TRA.

Theo bản quy định về nhiệm vụ, quyền hạn vàtrách nhiệm của chính quyền Nhà nước cấp tỉnh trong lĩnh vực quản lý kinh tếban hành theo nghị định số 24-CP ngày 2-2-1976 và bản quy định về chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của hội đồng trọng tài kinh tế tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương ban hành theo quyết định số 263-TTg ngày2-8-1979, thì hội đồng trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố (là cơ quan trực thuộcchính quyền đồng cấp) có nhiệm vụ thanh tra hợp đồng kinh tế ở tất cả các đơn vịkinh tế cơ sở bất kể là của địa phương hay của trung ương, hoạt động trên lãnh thổtỉnh, thành phố. Nhưng trong lĩnh vực hợp đồng kinh tế thường có mối quan hệ hợptác chặt chẽ giữa các đơn vị kinh tế với nhau cũng như giữa các đơn vị kinh tếcủa trung ương và địa phương, thể hiện đúng đắn nguyên tắc quản lý theo ngànhphải kết hợp với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ. Cho nên nhiệm vụthanh tra hợp đồng kinh tế của các cơ quan trọng tài kinh tế các cấp, các ngànhđược quy định cụ thể như sau :

1. Hội đồng trọng tàikinh tế tỉnh, thành phố thanh tra việc chỉ đạo công tác hợp đồng kinh tế ở cácsở, ty, huyện, quận, thị mà mình là đơn vị đồng cấp, và thanh tra hợp đồng kinhtế ở các đơn vị kinh tế cơ sở (xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường,cửa hàng, hợp tác xã, tổ sản xuất, tập đoàn sản xuất…) nằm trong hệ thống quảnlý của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, và ở các đơn vị kinh tế cơ sở của cácngành trung ương hoạt động trên lãnh thổ tỉnh, thành phố.

Khi thanh tra hợp đồng kinh tế ở các đơn vị kinhtế cơ sở của trung ương, cần có sự phối hợp chặt chẽ với hội đồng trọng tàikinh tế các bộ, tổng cục có liên quan. Đối với các đơn vị kinh tế cơ sở củatrung ương hoạt động ở địa phương, hợp đồng trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố cầnchú trọng thanh tra hợp đồng kinh tế trước hết ở các đơn vị kinh tế cơ sở cóquan hệ pháp lý hợp đồng với các tổ chức kinh tế của địa phương (bao gồm xínghiệp, cơ quan Nhà nước, hợp tác xã, tổ, tập đoàn sản xuất, hộ tư nhân…).

2. Hội đồng trọng tài kinh tếcác bộ, tổng cục thanh tra việc chỉ đạo công tác hợp đồng kinh tế ở các tổng cụctrực thuộc bộ, các cục, vụ, viện, tổng công ty, các liên hiệp xí nghiệp, côngty trực thuộc bộ, tổng cục thuộc Hội đồng Chính phủ, và thanh tra hợp đồng kinhtế ở các đơn vị kinh tế cơ sở nằm trong hệ thống quản lý của bộ, tổng cục.

Khi thanh tra hợp đồng kinh tế ở các đơn vị kinhtế cơ sở của bộ, tổng cục hoạt động trên lãnh thổ tỉnh, thành phố, cần có sự phốihợp công tác chặt chẽ với các cơ quan trọng tài kinh tế địa phương.

3. Hội đồng trọng tài kinh tếNhà nước kết hợp với hội đồng trọng tài kinh tế các tỉnh, thành phố, bộ, tổng cụcthanh tra việc chỉ đạo công tác hợp đồng kinh tế ở một số ngành, một số địaphương, và thanh tra hợp đồng kinh tế ở một số đơn vị kinh tế cơ sở quan trọngcủa nền kinh tế quốc dân.

B. QUYỀN HẠN THANH TRA.

Căn cứ vào những quy định hiện hành của Nhà nước,khi tiến hành thanh tra, các tổ chức trọng tài kinh tế có những quyền hạn sauđây :

1. Yêu cầu đơn vị được thanh tra cung cấp nhữngtài liệu, chứng lý cần thiết cho việc thanh tra (bao gồm các bản hợp đồng kinhtế, văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao nhiệm vụ và chỉ tiêu kế hoạchvề số lượng và chất lượng, các biên bản hiệp thương giữa các bên, các chứng từcó liên quan…) và cử cán bộ cùng tham gia việc thanh tra.

2. Yêu cầu các cơ quan hữu quan và cơ quan chứcnăng (như kế hoạch, tài chính, giá, ngân hàng) cung cấp những tài liệu có liênquan đến việc thanh tra và nếu xét thấy cần thiết, yêu cầu cơ quan này cử cán bộcùng tham gia việc thanh tra.

3. Kết luận là không có giá trị đối với những điềukhoản trong các hợp đồng hoặc những hợp đồng kinh tế ký kết không đúng với chỉtiêu kế hoạch Nhà nước, trái với chế độ, thể lệ hiện hành về quản lý kinh tế củaNhà nước; yêu cầu các bên sửa lại hợp đồng và ấn định thời gian cho các bên sửalại hợp đồng.

4. Khi thanh tra việc thanh lý hợp đồng kinh tế,chủ yếu là đối với hợp đồng kinh tế hai chiều thì có quyền kết luận tráchnhiệm gây nên thiếu sót thuộc về bên nào và bắt buộc các bên hữu quan phải sửachữa những thiếu sót ấy trong một thời gian quy định;

5. Qua thanh tra, nếu phát hiệnnhững tranh chấp về hợp đồng kinh tế gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩamà cần phải xét xử thì chủ động lập hồ sơ để đưa ra xét xử kịp thời.

6. Yêu cầu đơn vị được thanh tra sửa chữa nhữngthiếu sót do chính mình gây ra, đồng thời kiến nghị với các cơ quan có liênquan có biện pháp sửa chữa những thiếu sót (nếu có).

C. TỔ CHỨC VIỆC THANH TRA.

1. Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ chung của kếhoạch Nhà nước, vào phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch của tỉnh, thành phố hoặc củabộ, tổng cục, các tổ chức trọng tài kinh tế cần lập chương trình, kế hoạchthanh tra ngay từ đầu năm kế hoạch. Khi lập chương trình kế hoạch thanhtra hợp đồng kinh tế ở các đơn vị kinh tế cơ sở của các ngành trung ươnghoạt động trên lãnh thổ tỉnh, thành phố, cần thông báo cho nhau biết để có sựphối hợp kế hoạch thanh tra giữa các tổ chức trọng tài kinh tế bộ, tổng cục vàđịa phương. Chương trình kế hoạch thanh tra của mỗi hội đồng trọng tài kinh tếphải được bàn bạc, thông qua tập thể giữa chủ tịch và các phó chủ tịch hội đồngtrọng tài kinh tế. Người phụ trách từng vụ, việc thanh tra phải là chủ tịch,phó chủ tịch hoặc chức vụ tương đương ở cấp hội đồng trọng tài kinh tế tỉnh,thành phố, bộ, tổng cục; chủ tịch, phó chủ tịch hoặc vụ trưởng, vụ phó ở Hội đồngtrọng tài kinh tế Nhà nước. Để giúp các đồng chí phụ trách các vụ, việc thanhtra, cần có một số cán bộ giúp việc. Tùy tính chất, nội dung của từng vụ, việcthanh tra, hội đồng trọng tài kinh tế có thể mời thêm cán bộ cơ quan quản lý cấptrên của đơn vị kinh tế cơ sở, cơ quan chức năng (như kế hoạch, tài chính,giá…) cùng tham gia việc thanh tra. Những cán bộ đi thanh tra phải là những ngườicó trình độ và năng lực chuyên môn, nắm được và giải quyết được những vấnđề về nghiệp vụ, chuyên môn và phải chịu sự chỉ đạo của người phụ trách vụ, việcthanh tra.

Người làm việc của bên được thanh tra phải là cấplãnh đạo của đơn vị.

2. Trước ngày bắt đầu thanh tra 15 ngày, phảibáo bằng văn bản cho đơn vị được thanh tra biết mục đích, yêu cầu, nội dungthanh tra, những phương tiện để làm việc, những tài liệu, chứng lý cần thiết phảichuẩn bị, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc của việc thanh tra và phảibáo cho các cơ quan quản lý cấp trên và các cơ quan có liên quan biết để tiệngiao dịch khi cần thiết.

3. Khi thanh tra các đơn vị kinh tế cơ sở về sảnxuất, kinh doanh,vận chuyển, xây dựng cơ bản… thì lấy chỉ tiêu về số lượng, chỉtiêu về chất lượng, các quy định có liên quan đến số lượng và chất lượng, cácquy định về trách nhiệm vật chất của các bên, các yêu cầu về nội dung của hợp đồng,các quy định về thủ tục ký kết, thực hiện và thanh lý hợp đồng, từ đó rút ra kếtluận làm đúng hay là sai.

Khi thanh tra việc chỉ đạocông tác hợp đồng kinh tế và áp dụng chế độ hợp đồng kinh tế trong sản xuất,kinh doanh ở các cơ quan quản lý, thì lấy các chỉ tiêu về số lượng, các chỉtiêu về chất lượng, các quy định về chính sách, chế độ quản lý có liên quan đểthực hiện các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng ấy và các quy định về tráchnhiệm chỉ đạo việc ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng (tức là những quy địnhnói ở mục B, chương II trên đây) đối chiếu với văn bản chỉ đạo của cơ quan đượcthanh tra để rút ra kết luận làm đúng hay là sai.

4. Trong khi thanh tra, nếu phát hiện những thiếusót có liên quan đến cơ quan quản lý cấp trên, các cơ quan chức năng của Nhà nước,các đơn vị cùng ký kết và thực hiện hợp đồng thì phải báo ngay cho các tổ chứcnói trên biết, đồng thời yêu cầu họ sửa chữa những thiếu sót đó hoặc là trả lờinhững việc có liên quan trong một thời hạn quy định.

5. Khi kết thúc vụ, việc thanh tra, người phụtrách vụ, việc đó phải kết luận rõ ràng về những vấn đề sau đây :

- Đánh giá việc làm qua các văn bản chỉ đạo (nếulà cơ quan quản lý) hoặc qua các bản hợp đồng kinh tế (nếu là đơn vị kinh tế cơsở) đúng hay không đúng.

- Nêu lên những tồn tại cần phải giải quyết (nếucó); phân tích rõ những tồn tại ấy do ai gây nên và cơ quan nào chịu trách nhiệmgiải quyết;

- Những kiến nghị cụ thể đối với từng cơ quan,đơn vị phải giải quyết trong một thời hạn quy định;

- Nếu xét thấy có những vi phạm nghiêm trọng gâythiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa thì phải tổ chức phiên họp xét xử, quyếtđịnh ngày, tháng xét xử, hoặc kiến nghị các hình thức kỷ luật khác.

Trong trường hợp đơn vị được thanh tra không nhấttrí với kết luận nói trên thì có thể báo cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnđể giải quyết, nhưng trong khi chờ đợi được giải quyết, vẫn phải chấp hành đầyđủ, nghiêm túc những ý kiến kết luận của người phụ trách vụ, việc thanh tra.

Tất cả những vấn đề trên đây đều phải ghi vàobiên bản.

6. Về cách thức kết thúc một vụ, việc thanh trahoặc một đợt thanh tra có thể làm bằng hai cách :

a) Nếu không có nhiều tồn tại hoặc các tồn tạikhông có gì lớn lắm thì có thể kết thúc gọn giữa đoàn cán bộ thanh tra với đơnvị được thanh tra, trên cơ sở thảo luận dân chủ và ký vào biên bản thanh tra.

b) Nếu có nhiều tồn tại, thiếu sót trong việc kýkết và thực hiện hợp đồng, lại liên quan đến nhiều cơ quan, đơn vị khác, thì cóthể mở hội nghị rộng rãi gồm đoàn cán bộ thanh tra, đơn vị được thanh tra, đạidiện các cơ quan, đơn vị nói trên để nghe báo cáo, rút kinh nghiệm về công táchợp đồng kinh tế; thảo luận những biện pháp để sửa chữa những thiếu sót đó, kýlại hoặc bổ sung hợp đồng đúng với quy định của Nhà nước, phù hợp với điều kiệnsản xuất của xí nghiệp.

7. Nếu đơn vị được thanh tra có nhiều thiếu sót,tồn tại lớn trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng, lại thuộc đơn vị sản xuấthoặc lưu thông những mặt hàng quan trọng của nền kinh tế quốc dân thì sau thanhtra phải tiến hành phúc tra. Chậm nhất là một tháng kể từ ngày kết thúc thanhtra phải tiến hành phúc tra. Trước ngày bắt đầu phúc tra 10 ngày, tổ chức trọngtài kinh tế phải báo bằng văn bản cho đơn vị được phúc tra biết.

IV.NHỮNG KIẾN NGHỊ VÀ YÊU CẦU SỬA CHỮA THIẾU SÓT

Thiếu sót nói đây là thiếu sót so với chỉ tiêupháp lệnh về số lượng, về chất lượng với quy định hiện hành của Nhà nước, về điềukiện thực hiện các chỉ tiêu ấy, về trách nhiệm của mỗi cơ quan, đơn vị đối vớicông tác hợp đồng kinh tế.

Cần phải nắm vững điều này để có những kiến nghịvà yêu cầu đúng đắn, chính xác, và mỗi kiến nghị, yêu cầu phải tính đến nhữngđiều kiện thực tế có thể thực hiện được. Do vậy, các tổ chức trọng tài kinh tếphải thi hành đúng những điều quy định dưới đây :

1. Nếu thiếu sót do đơn vị được thanh tra gâynên thì phải thảo luận kỹ với họ và đi đến quyết định bước họ phải sửa chữa thiếusót đó trong một thời hạn quy định.

2. Nếu thiếu sót do một bên ký kết hợp đồng gâynên, nhưng họ không phải là nơi được thanh tra thì có thể mời đến đơn vị đượcthanh tra để các bên cùng nhau thảo luận bàn biện pháp giải quyết, hoặc gửicông văn cho họ buộc phải sửa chữa trong một thời hạn quy định.

3. Nếu thiếu sót do cơ quan quản lý cấp trên củađơn vị được thanh tra gây nên mà hội đồng trọng tài kinh tế là đồng cấp, thì phảitrực tiếp bàn bạc với cơ quan này, hoặc gửi công văn yêu cầu đến tận nơi để giảiquyết, hoặc dùng cả hai hình thức nói trên, nhằm nhanh chóng sửa chữa thiếu sótvà tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị được thanh tra ký kết và thực hiện tốt hợpđồng kinh tế.

4. Nếu thiếu sót do cơ quan lãnh đạo gây nên màhội đồng trọng tài kinh tế là cơ quan trực thuộc, thì phải trực tiếp báo cáoxin ý kiến để có biện pháp sửa chữa kịp thời, bảo đảm cho đơn vị được thanh trachỉ đạo công tác hợp đồng kinh tế, hoặc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tếtheo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước.

5. Nếu thiếu sót do các cơ quan trung ươnggây nên nhưng thựôc trách nhiệm, quyền hạn giải quyết của bộ trưởng, tổng cụctrưởng hoặc cấp tương đương, thì phải báo cáo ngay cho chủ tịch Hội đồng trọngtài kinh tế Nhà nước để bàn bạc giải quyết.

Trên đây là hướng dẫn một số vấn đề nghiệp vụcông tác thanh tra hợp đồng kinh tế. Yêu cầu hội đồng trọng tài kinh tế các bộ,tổng cục, tỉnh và thành phố kịp thời phổ biến đến các cơ quan, đơn vị, tổ chứctrong phạm vi bộ, tổng cục hoặc địa phương quản lý để quán triệt tinh thần và nộidung bản thông tư này. Trong khi thi hành nếu gặp vướng mắc thì kịp thời phảnánh về Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước để nghiên cứu giải quyết.

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI KINH TẾ NHÀ NƯỚC



Nguyễn Quang Xá