Thông tư

Thông tư

CỦALIÊN BỘ ỦY BAN KHOA HỌC NHÀ NƯỚC VÀ BỘ TÀI CHÍNH SỐ 1213/KHCN-TC NGÀY 26 THÁNG9 NĂM 1992 HƯỚNG DẪN VIỆC
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ CẤP NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 1991 - 1995.

Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng đã ra quyết định số 246-TC ngày 8 tháng 8 năm 1991 phê duyệt danh mụccác chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước (dưới đây gọi tắt là chươngtrình) giai đoạn 1991 - 1995. Điều 4 của quyết định giao cho Uỷ ban Khoa họcNhà nước tổ chức thực hiện các chương trình bằng phương thức ký kết hợp đồngnghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (dưới đây gọi tắt là hợp đồng) giữaUỷ ban Khoa học Nhà nước với các Chủ nhiệm chương trình. Ngày 28 tháng 1 năm1992 Hội đồng Bộ trưởng cũng đã ra Nghị định số 35-HĐBT về công tác quản lýkhoa học và công nghệ (KHCN).

Để hướng dẫn thực hiệnNghị định số 35-HĐBT ngày 28 tháng 1 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng nhằm đổimới cơ chế quản lý tài chính của các chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhànước, Uỷ ban Khoa học Nhà nước và Bộ Tài chính ban hành thông tư này hướng dẫnviệc quản lý tài chính của các chương trình KHCN cấp Nhà nước giai đoạn 1991 -1995.

PHẦN I
NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ KINH PHÍ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CẤP CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH KHCN

1. Kinh phí cấp cho các chương trình phải được sử dụng cóhiệu quả thiết thực, nhằm tạo ra sản phẩm khoa học cụ thể hướng vào việc thựchiện các mục tiêu quan trọng về phát triển kinh tế quốc dân cũng như xây dựngluận cứ khoa học cho các nghị quyết về đường lối, chính sách của Đảng và Nhànước.

2. Căn cứ để Bộ Tài chính cấp kinh phí cho các chương trìnhvà đề tài cấp Nhà nước là dự toán được duyệt của chương trình và đề tài đã nêutrong hợp đồng.

Căn cứ vào dự toán của Uỷ ban Khoa học Nhà nước, Bộ Tàichính cấp kinh phí cho các bộ quản lý chương trình để các bộ này cấp phát chocác chủ nhiệm chương trình theo cơ chế hợp đồng. Đồng thời Bộ Tài chính cấpkinh phí cho Uỷ ban Khoa học Nhà nước để Uỷ ban cấp cho các chủ nhiệm chươngtrình do Uỷ ban trực tiếp quản lý theo cơ chế hợp đồng.

3. Các cơ quan chủ trì chương trình và đề tài, chủ nhiệmchương trình, chủ nhiệm đề tài có trách nhiệm thực hiện các qui định hiện hànhvề tài chính như lập dự toán, cấp kinh phí, thanh quyết toán khi nhận kinh phíKHCN của Nhà nước.

PHẦN II
TRÌNH TỰ LẬP DỰ TOÁN CHƯƠNG TRÌNH, ĐỀ TÀI

A) LẬP DỰ TOÁN CHƯƠNG TRÌNH:

Các chương trình cấp Nhà nước thông thường phải thực hiệntrong thời gian trên hai năm. Việc lập dự toán chương trình được tiến hành làmhai bước sau đây:

1. Lập tổng khái toán chương trình.

- Khi bắt đẩu triển khai chương trình, chưa có đầy đủ căn cứđể lập dự toán, các chủ nhiệm đề tài và chủ nhiệm chương trình lập tổng kháitoán cho đề tài và chương trình từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Tổng khái toánđược phân bổ cho từng năm và sẽ được hiệu chỉnh trong quá trình thực hiện.

- Sau khi tổng khái toán chương trình được Uỷ ban Khoa họcNhà nước xét duyệt và thông báo dự kiến kinh phí của chương trình trong năm kếhoạch, các chủ nhiệm chương trình dự kiến phân bổ kinh phí cho các đề tài vàkinh phí cho hoạt động của ban chủ nhiệm chương trình căn cứ vào kế hoạchnghiên cứu - phát triển của năm kế hoạch.

2. Lập dự toán năm:

- Căn cứ vào tổng khái toán được thông qua và số kinh phíđược dự kiến phân bổ cho năm kế hoạch, chủ nhiệm đề tài lập dự toán năm phù hợpvới kế hoạch nghiên cứu - phát triển và với số kinh phí được dự kiến phân bổ.

- Chủ nhiệm chương trình cân đối và tổng hợp dự toán của cácđề tài và dự toán chi phí cho hoạt động của ban chủ nhiệm chương trình thành dựtoán năm của toàn bộ chương trình. Sau đó gửi Uỷ ban Khoa học Nhà nước , Bộ Tàichính và bộ chủ quản.

- Uỷ ban Khoa học Nhà nước phối hợp với bộ chủ quản và BộTài chính xem xét dự toán của các chương trình, cân đối với khả năng ngân sáchhàng năm, phân bổ kinh phí cho các chương trình, đưa vào kế hoạch tài chính choKHCN và trình Nhà nước duyệt.

B) NỘI DUNG, THỜI HẠN LẬP VÀ DUYỆT DỰ TOÁN:

Việc lập và duyệt dự toán của chương trình, đề tài phải căncứ vào nội dung và khối lượng công việc cần triển khai trong năm kế hoạch đãnêu trong bản thuyết minh tổng quát của chương trình và đề tài, các chế độ chitiêu của Nhà nước và các qui định tại thông tư liên bộ này.

Nội dung và biểu mẫu lập dự toán của chương trình, đề tàiđược hướng dẫn tại phụ lục của thông tư liên bộ này.

Thời hạn lập và duyệt dự toán của chương trình, đề tài đượctiến hành song song với thời hạn lập và duyệt kế hoạch KHCN hàng năm (từ tháng9 đến tháng 12 của năm trước năm kế hoạch).

C) Thù lao cho ban chủ nhiệm chương trình cấp Nhà nước vàchủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước tạm thời qui định như sau:

- Chủ nhiệmchương trình : 100.000đ/tháng

- Phó chủnhiệm và uỷ viên thư ký : 80.000đ/tháng

- Uỷ viênBan chủ nhiệm : 50.000đ/tháng

- Kế toánchương trình :50.000 đ/tháng

- Chủ nhiệmđề tài :80.000 đ/tháng

Trường hợp các thành viên trong ban chủ nhiệm chương trìnhkiêm chủ nhiệm đề tài, cũng chỉ được hưởng một suất thù lao cao nhất.

PHẦN III
CHẾ ĐỘ CẤP PHÁT VÀ QUYẾT TOÁN

Cấp phát kinh phí và quyết toán hàng năm đối với các chươngtrình đều được thực hiện theo các qui định chung của Nhà nước. Liên bộ qui địnhmột số điểm dưới đây để việc cấp phát và quyết toán kinh phí của các chươngtrình phù hợp với đặc điểm tổ chức chương trình cấp Nhà nước giai đoạn 1991 -1995.

1. Cấp phát kinh phí:

a) Chương trình do Uỷ ban Khoa học Nhà nước trực tiếp quảnlý:

Bộ tài chính cấp phát kinh phí trực tiếp cho Uỷ ban Khoa họcNhà nước để Uỷ ban Khoa học Nhà nước cấp kinh phí cho các cơ quan chủ trìchương trình. Cơ quan chủ trì chương trình cấp kinh phí cho các đề tài. Việccấp kinh phí căn cứ vào hợp đồng năm đã ký kết giữa Uỷ ban khoa học Nhà nướcvới các chủ nhiệm chương trình và hợp đồng đã ký giữa chủ nhiệm chương trìnhvới các chủ nhiệm đề tài.

b) Chương trình do Uỷ ban Khoa học Nhà nước quản lý thôngqua các bộ:

Bộ Tài chính cấp kinh phí trực tiếp cho bộ chủ quản củachương trình để bộ chủ quản cấp phát cho các chương trình theo tiến độ thựchiện. Chủ nhiệm chương trình cấp phát kinh phí cho các đề tài. Việc cấp kinhphí căn cứ vào hợp đồng năm đã ký kết giữa chủ nhiệm chương trình với chủ nhiệmđề tài.

Để được cấp tiếp kinh phí đợt sau, các chủ nhiệm chươngtrình phải nộp báo cáo về tình hình thực hiện kinh phí đợt trước của chươngtrình trên cơ sở tổng hợp các báo cáo của các chủ nhiệm đề tài nộp cho chủnhiệm chương trình.

Các chương trình do Uỷ ban Khoa học Nhà nước trực tiếp quảnlý thì các chủ nhiệm chương trình nộp báo cáo cho Uỷ ban Khoa học Nhà nước vàBộ Tài chính. Các chương trình còn lại nộp báo cáo cho Uỷ ban khoa học Nhànước, Bộ Tài chính và bộ chủ quản.

Trong quá trình thực hiện, tuỳ tình hình cụ thể, có thể xemxét điều chỉnh; đình chỉ hoặc thu hồi kinh phí cấp cho chương trình và đề tàitrong các trường hợp sai phạm theo qui định.

2. Thu hồi kinh phí của chương trình:

Việc thu hồi kinh phí thực hiện theo thông tư số 1308/TC-KHKT ngày 24/11/1990 của liên bộ Tài chính - Uỷ ban Khoa học Nhà nước.

Mức thu hồi và thời hạn thu hồi được ghi thành điều khoảnchính thức trong hợp đồng.

Đối với các chương trình do Uỷ ban Khoa học Nhà nước trựctiếp quản lý thì chủ nhiệm chương trình và đề tài nộp kinh phí thu hồi vào quĩhỗ trợ phát triển khoa học công nghệ của Nhà nước, do Uỷ ban Khoa học Nhà nướctrực tiếp quản lý. Các chương trình do Uỷ ban Khoa học Nhà nước quản lý thôngqua bộ thì chủ nhiệm chương trình và đề tài nộp kinh phí thu hồi vào quĩ pháttriển khoa học công nghệ của bộ chủ quản được giao quản lý chương trình đó.

Trường hợp đề tài trong chương trình nộp kinh phí thu hồichậm sẽ ảnh hưởng đến tiến độ cấp kinh phí cho cả chương trình đó.

3. Chế độ báo cáo quyết toán:

Cơ quan chủ trì đề tài và chủ nhiệm đề tài lập báo cáo quyếttoán gửi cho chủ nhiệm chương trình và cơ quan chủ trì chương trình. Đối vớichương trình do Uỷ ban Khoa học Nhà nước trực tiếp cấp kinh phí, cơ quan chủtrì chương trình và chủ nhiệm chương trình lập báo cáo quyết toán của chươngtrình gửi cho Uỷ ban Khoa học Nhà nước và Bộ Tài chính. Uỷ ban Khoa học Nhànước duyệt và tổng hợp quyết toán gửi Bộ Tài chính.

Đối với chương trình do Bộ Tài chính trực tiếp cấp kinh phícho bộ chủ quản thì bộ chủ quản và chủ nhiệm chương trình lập báo cáo quyếttoán của chương trình gửi cho Bộ Tài chính và Uỷ ban Khoa học Nhà nước.

Chế độ kế toán và quyết toán quí, năm thực hiện theo quyếtđịnh số 257 TC/CĐKT ngày 1/6/1990 và thông tư số 15-TC/HCVX ngày 29/5/1992 củaBộ Tài chính và hướng dẫn cụ thể của Uỷ ban Khoa học Nhà nước.

4. Kiểm kê tài sản và thanh toán khi chương trình, đề tàikết thúc:

Khi đề tài, chương trình kết thúc, các chủ nhiệm đề tài, chủnhiệm chương trình phải tiến hành kiểm kê và thanh toán tài sản theo chế độ quiđịnh, và gửi báo cáo cho Uỷ ban Khoa học Nhà nước, bộ chủ quản và Bộ Tài chínhđể xem xét, quyết định xử lý tài sản đã được mua sắm bằng kinh phí KHCN của Nhànước.

Sau khi đề tài, chương trình hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ vềchuyên môn và các trách nhiệm về tài chính, sẽ lập biên bản thanh lý chươngtrình.

PHẦN IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Thông tư này áp dụng cho việc quản lý tài chính đối với cácchương trình và các đề tài độc lập cấp Nhà nước giai đoạn 1991 - 1995. Thông tưnày thay thế cho thông tư liên bộ Tài chính - Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhànước số 34/TC-KHKT ngày 17/12/1980.

Các bộ, tổng cục, các địa phương căn cứ vào thông tư này đểxây dựng chế độ quản lý tài chính cho các đề tài, chương trình cấp bộ và địaphương.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày ký.

PHỤ LỤC

HƯỚNGDẪN LẬP DỰ TOÁN CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH,
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

A. Nội dung dự toán đề tài:

Dự toán đề tài được lập theo biểu mẫu nêu ở Phụ lục DN2 kèmtheo thông tư liên bộ này.

1. Khoản 1: Lương và thuê khoán.

1.1. Lương và phụ cấp: lương và phụ cấp của những cán bộtrực tiếp thực hiện đề tài được tính cụ thể cho từng năm căn cứ vào chế độ tiềnlương hiện hành của Nhà nước.

Khoản này chỉ được dự toán cho các cơ sở đã thực hiện hạchtoán kinh tế. Đối với các cơ sở đã được cấp lương từ ngân sách Nhà nước bằngcác nguồn khác nhau, trong dự toán sẽ không tính lương và phụ cấp nữa.

1.2. Thuê khoán chuyên nôn và thù lao: Thuê khoán từng phầnnội dung công việc cho các cán bộ thực hiện đề tài. Trong trường hợp chủ nhiệmđề tài hoặc cơ sở chủ trì đề tài không đủ điều kiện thực hiện một số phần côngviệc hoặc tự làm sẽ không có hiệu quả, thì được dùng kinh phí thuê khoán để kýhợp đồng thuê các cán bộ và cơ sở khác làm.

2. Khoản 2: Nguyên vật liệu, dụng cụ, phụ tùng và năng lượngdùng cho nghiên cứu, thí nghiệm, thử nghiệm, bao gồm:

2.1. Nguyên, vật liệu: các loại nguyên vật liệu chính(nguyên liệu khoáng, thực vật, động vật, kim loại, hoá chất...) và các loại vậtliệu phụ (dầu mỡ bôi trơn, tạp phẩm...).

2.2. Dụng cụ, phụ tùng: các loại dụng cụ, linh kiện, phụtùng và phương tiện làm việc.

2.3. Năng lượng (điện, than, xăng dầu) và nước.

3. Khoản 3: Thiết bị, máy móc chuyên dùng.

3.1. Mua thiết bị công nghệ: mua mới, thiết kế chế tạo trongnước hoặc sửa chữa khôi phục lại.

3.2. Mua thiết bị thử nghiệm đo lường, Mua mới thiết kế chếtạo trong nước hoặc sửa chữa khôi phục lại.

3.3. Khấu hao thiết bị.

3.4. Thuê thiết bị.

3.5. Chi phí vận chuyển, lắp đặt thiết bị.

Khoản chi về mua và chế tạo thiết bị công nghệ và thiết bịthử nghiệm đo lường phải được hạch toán và quyết toán riêng.

4. Khoản 4: Xây dựng nhỏ, sửa chữa nhỏ công trình xây dựng.

Khoản chi này chỉ có trong trường hợp hết sức cần thiết vàchỉ sử dụng cho việc thực hiện đề tài như sửa đường điện, hệ thống nước, xây bệđặt thiết bị thí nghiệm, sửa trần, sửa nền, xây vỏ bao che thiết bị, xưởngpilot, ống khói... trực tiếp liên quan đến việc thực hiện đề tài.

Khi đề tài có nhu cầu về xây dựng nhỏ, phải lập dự toán vàxét duyệt cụ thể, không được dự toán trùng với kế hoạch chống xuống cấp của cáccơ quan nghiên cứu được Nhà nước cấp khoản kinh phí này cho các bộ theo kếhoạch hàng năm.

5. Khoản 5: Quản lý, hành chính và các khoản chi khác, baogồm:

5.1. Công tác phí.

5.2. Quản lý phí của đề tài: bao gồm bưu phí, chi phí đểtiếp khách, giao dịch... và chi trả quản lý phí cho cơ sở chủ trì đề tài.

Mức chi hàng năm cho quản lý phí của đề tài dược xác địnhnhư sau:

- Mỗi đềtài được tính mức chi này bằng 2,5% kinh phí hàng năm của đề tài.

- Nếu kinhphí hàng năm của đề tài nhỏ hơn 200 triệu đồng, sẽ được cộng thêm 0,5% của trịsố chênh lệch giữa 200 triệu đồng và kinh phí hàng năm của đề tài.

- Mức chitối đa hàng năm cho quản lý phí của đề tài là 5 triệu đồng/năm.

Công thức tính toán:

Ký hiệu: Q -Quản lý phí của đề tài.

K - Kinh phí hàng năm của đề tài.

Q= 0,025.K + 0,005(200-K)

Thí dụ:

Kinh phí hàng năm của đề tài là 80 triệu đồng. Mức chi hàngnăm cho quản lý phí của đề tài là:

0,025.80+ 0,005(200 - 80) = 2,6 triệu đồng.

Chủ nhiệm đề tài sẽ trích một phần quản lý phí nói trên củađề tài để chi trả quản lý phí cho cơ quan chủ trì đề tài. Các cơ quan quản lýcấp trên của cơ quan chủ trì đề tài không được hưởng và không được đòi hỏi chủnhiệm đề tài / cơ quan chủ trì đề tài trích nộp cho mình khoản quản lý phí này.

5.3. Chi phí nghiệm thu đề tài (khi đề tài kết thúc):

+ Nghiệm thu cấp cơ sở :1.000.000 đồng

+ Nghiệm thu cấp Nhà nước :1.500.000 đồng

Chi phí nghiệm thu đề tài dùng để chi cho Hội đồng nghiệmthu, các phản biện và hội nghị nghiệm thu.

Nếu trước khi họp Hội đồng nghiệm thu, cần tổ chức kiểm tratại thực địa hoặc một số Uỷ viên Hội đồng và đại biểu ở địa phương khác đến dựhọp Hội đồng, cần dự toán thêm khoản chi phí đi lại, lưu trú cho các đại biểuvà Hội đồng nghiệm thu.

5.4. Dịch tài liệu phục vụ cho đề tài.

5.5. In ấn tài liệu và kết quả nghiên cứu, mua tài liệunghiệp vụ, văn phòng phẩm.

5.6. Chi hội nghị, hội thảo khoa học.

5.7. Các nội dung chi khác ngoài các nội dung trên: thù laocho chủ nhiệm đề tài v.v...

B. Dự toán chi phí cho hoạt động của
ban chủ nhiệm chương trình

1. Chi phí thường xuyên cho hoạt động của ban chủ nhiệmchương trình:

Để đưa công tác quản lý của ban chủ nhiệm chương trình vàonền nếp, liên bộ tạm thời qui định một số khoản chi phí thường xuyên cho hoạtđộng của ban chủ nhiệm chương trình như sau:

1.1. Thù lao cho ban chủ nhiệm chương trình.

Ngoài tiền lương theo chế độ qui định của Nhà nước, cácthành viên ban chủ nhiệm chương trình và kế toán chương trình được hưởng thêmkhoản thù lao theo các mức đã nói ở trên.

Mức thù lao nói trên sẽ được điều chỉnh khi có trượt giátheo qui định của Nhà nước hoặc khi có cải cách tiền lương.

1.2. Hội nghị, hội thảo khoa học do ban chủ nhiệm chươngtrình tổ chức.

1.3. Công tác phí của ban chủ nhiệm chương trình.

1.4. Kiểm tra các đề tài, đánh giá nghiệm thu chương trình.

1.5. In tài liệu, giấy tờ quản lý, tài liệu báo cáo khoa họcvà kết quả nghiên cứu. Văn phòng phẩm, điện thoại, điện tín, tiền điện thắpsáng, tiền nhà nếu có.

1.6. Quản lý cơ sở hàng năm của cơ quan chủ trì chươngtrình: được chi tối đa 10% của tổng chi phí thường xuyên cho hoạt động của banchủ nhiệm chương trình.

1.7. Các nội dung chi khác ngoài các nội dung trên (chiếmdưới 5% chi phí thường xuyên cho hoạt động của ban chủ nhiệm chương trình).

Chi phí thường xuyên hàng năm cho hoạt động của ban chủnhiệm chương trình được xác định như sau:

- Mỗi chương trình được tính mức chi bằng 3% kinh phí hàngnăm của chương trình (không kể kinh phí để thực hiện các dự án sản xuất thử-thửnghiệm).

- Nếu kinh phí hàng năm của chương trình nhỏ hơn 2.000 triệuđồng, sẽ được cộng thêm 1,5% của trị số chênh lệch giữa 2.000 triệu đồng vàkinh phí hàng năm của chương trình.

- Mức chi phí thường xuyên tối đa hàng năm cho hoạt động củaban chủ nhiệm chương trình là 60 triệu đồng/năm.

Công thức tính toán:

Ký hiệu:

C - Chi phí thường xuyên hàng năm cho hoạt động của ban chủnhiệm chương trình.

K - Kinh phí hàng năm của chương trình.

C = 0,03.K + 0,015(2000 - K)

Thí dụ:

Kinh phí hàng năm của chương trình là 1400 triệu đồng. Mứcchi phí thường xuyên hàng năm cho hoạt động của ban chủ nhiệm chương trình là:

0,03.1400+ 0,015(2000 - 1400) = 51 triệu đồng.

2. Chi phí không thường xuyên cho hoạt động của ban chủnhiệm chương trình:

Ngoài các khoản chi phí thường xuyên nói trên, khi có nhucầu chi không thường xuyên như: mua máy móc, thiết bị, nhu cầu hợp tác quốc tếtheo nhiệm vụ của chương trình và đề tài, sau khi cân nhắc tính khả thi, chủnhiệm chương trình lập dự toán gửi Uỷ ban Khoa học Nhà nước và Bộ Tài chính xemxét (đối với các chương trình do Uỷ ban Khoa học Nhà nước trực tiếp quản lý).Đối với chương trình do Uỷ ban Khoa học, Nhà nước quản lý thông qua bộ, chủnhiệm chương trình gửi bộ chủ quản để bộ có ý kiến trước khi gửi Uỷ ban Khoahọc Nhà nước và Bộ Tài chính xem xét.

Về nguyên tắc, chi phí không thường xuyên được cân đối trongkinh phí đã phân bổ hàng năm cho chương trình. Trường hợp có nhu cầu đột xuấtkhác, kinh phí của chương trình cân đối không đủ, Uỷ ban Khoa học Nhà nước, BộTài chính và bộ chủ quản tương ứng sẽ xem xét để hỗ trợ thêm.

C. Dự toán của chương trình

Dự toán của chương trình được tổng hợp từ dự toán của các đềtài trong chương trình và dự toán chi phí cho hoạt động của ban chủ nhiệmchương trình.

Dự toán của chương trình được lập theo biểu mẫu nêu ở Phụlục N2 kèm theo thông tư liên bộ này.