NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM- BỘ TÀI CHÍNH
*******

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc*******

Số : 14-LB/TT

Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 1977

THÔNG TƯ LIÊN BỘ

VỀVIỆC THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG CẢI TIẾN VÀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Trong nhữngnăm qua, Ngân hàng Nhà nước đã động viên những nguồn vốn nhàn rỗi trong nềnkinh tế và nhiều nguồn khác để cho vay, góp phần bảo đảm cho các xí nghiệp quốcdoanh có vốn cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh; giúp khuvực kinh tế tập thể bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật, đưa được mộtsố tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, góp phần giữ vững sản xuất và củng cố quan hệsản xuất mới, trong hoàn cảnh có thiên tai, dịch họa và nguồn thu nhập, tíchluỹ của các hợp tác xã còn hạn chế. Ở các tỉnh phía Nam sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, tín dụng ngân hàng đã góp phần phục hồi và cải tạo nông nghiệp,công nghiệp, thương nghiệp và các ngành khác. Thông qua hoạt động tín dụng,Ngân hàng Nhà nước đã cố gắng thực hiện việc kiểm soát bằng đồng tiền đối vốihoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy các ngành, các xí nghiệp và tổ chức kinhtế cơ sở từng bước tăng cường quản lý kinh tế tài chánh, xác lập và củng cố chếđộ hạch toán kinh tế.

Tuy nhiên,công tác tín dụng chưa bao quát được các lĩnh vực và các đối tượng cần đầu tư,nhiều xí nghiệp quốc doanh không vay vốn hoặc vay vốn ngân hàng không thườngxuyên, tín dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản phát triển chậm; căn cứ kinh tếvà kỹ thuật để thực hiện cho vay và quản lý vốn chưa được tôn trọng, nhiềutrường hợp vốn cho vay còn mang tính chất bao cấp, việc theo dõi và kiểm tracác xí nghiệp và tổ chức kinh tế về quản lý, sử dụng vốn thiếu chặt chẽ, hiệuquả sử dụng vốn thấp, nhiều trường hợp không thu được nợ, vật tư hàng hóa ứđọng còn nhiều, tình trạng các xí nghiệp chiếm dụng vốn lẫn nhau gây ra nợ nầndây dưa phổ biến và nghiêm trọng; trách nhiệm của tài chính, ngân hàng, xínghiệp về mặt bảo đảm vốn và quản lý vốn chưa rõ, nhiều trường hợp giữa ngânhàng và tài chính khi giải quyết khó khăn cho xí nghiệp còn đùn đẩy cho nhau,dẫm đạp vào công tác của nhau, đồng thời bỏ trống trận địa, tạo sơ hở trongcông tác quản lý.

Những khuyết,nhược điểm trên, một phần do bước đầu xây dựng nền kinh tế từ sản xuất nhỏ đi lên,bản thân ngân hàng còn thiếu kinh nghiệm ; trong điều kiện chiến tranh, yêu cầuhàng đầu là duy trì và bảo đảm sản xuất và chiến đấu cho nên việc thực hiệncác nguyên tắc chế độ còn cần phải châm chước, tính chất bao cấp của tín dụngdo đó càng trở nên phổ biến.

Bước vào giaiđoạn mới của sự nghiệp cách mạng đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, việc khắcphục những khuyết điểm và nhược điểm về quản lý vốn và cải tiến quản lý vốn cóvị trí rất quan trọng trong toàn bộ công tác cải tiến quản lý kinh tế. Thi hànhquyết định số 32-CP ngày 11-02-1977 về cải tiến và mở rộng tín dụng ngân hàngcủa Hội đồng Chính phủ, liên bộ Ngân hàng Nhà nước – Tài chính ban hành thôngtư hướng dẫn việc thực hiện chủ trương trên như sau.

I. CẢI TIẾN CHẾ ĐỘ CHOVAY, CẤP PHÁT VÀ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG

1. Yêu cầucủa việc cho vay, cấp phát và quản lý vốn lưu động là nhằm bảo đảm đủ vốn cầnthiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp và các tổ chức kinh tếkhác, không để xí nghiệp và các tổ chức kinh tế gặp khó khăn vì thiếu vốn, ảnhhưởng đến sản xuất kinh doanh; đồng thời đòi hỏi xí nghiệp phải huy động và sửdụng mọi nguồn vốn tự có để đưa vào sản xuất, kinh doanh, không để thừa vốn, ứđọng và lãng phí vốn, thông qua việc cho vay, cấp phát và quản lý vốn, mà thúcđẩy việc luân chuyển vốn, hàng hóa vật tư và không ngừng tăng cường quản lý xínghiệp.

2. Cần phảitính toán và xét duyệt định mức vốn lưu động cho xí nghiệp, tổ chức kinh tế.

Phải căn cứvào tính chất, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và các điều kiện cung cấp, sản xuấttiêu thụ sản phẩm của từng xí nghiệp mà tiến hành tính toán và xét duyệt định mứcvốn lưu động một cách hợp lý, có căn cứ kinh tế - kỹ thuật, làm cơ sở cho việcxác định mức vốn lưu động năm 1977 và các năm tiếp theo cho đến năm 1980. Địnhmức vốn lưu động của xí nghiệp do giám đốc xí nghiệp hoặc chủ nhiệm công ty,tổng công ty, liên hiệp xí nghiệp tính toán, với sự tham gia của cơ quan tàichính và ngân hàng phục vụ mình, sau đó trình lên cấp có thẩm quyền xét duyệt.Đối với những xí nghiệp, tổ chức kinh tế trực thuộc trung ương do bộ chủ quản,Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước trung ương xét duyệt; đối với các xí nghiệp,tổ chức kinh tế địa phương do Sở, Ty, chủ quản, Sở, Ty tài chính, ngân hàng Nhànước tỉnh, thành phố xét duyệt.

Kể từ năm1978 cho đến năm 1980, hàng năm, các xí nghiệp căn cứ vào định mức vốn lưu độngnói trên và sự thay đổi giá trị tổng sản lượng hoặc doanh số hoạt động để tínhtoán kế hoạch vốn lưu động ăn khớp với kế hoạch sản xuất - kỹ thuật – tài chínhcủa xí nghiệp, theo nguyên tắc chung là tốc độ tăng vốn lưu động phải thấp hơntốc độ tăng giá trị tổng sản lượng hoặc doanh số hoạt động. Bộ Tài chính vàNgân hàng Nhà nước sẽ cùng với ngành chủ quản quy định cụ thể hệ số tăng, giảmvốn lưu động so với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh để các xí nghiệp tính mức vốnlưu động được đơn giản và kịp thời. Khi nào giá trị tổng sản lượng, hoặc doanhsố hoạt động tăng thêm 30% trở lên đối với nông trường quốc doanh và các xínghiệp đã sử dụng trên 70% công suất thiết bị, 50% trở lên đối với các xínghiệp khác, so với lần định mức trước, thì tính toán và xét duyệt lại định mứcvốn lưu động.

3. Vốn lưuđộng định mức của xí nghiệp quốc doanh được hình thành bằng hai nguồn vốn: vốnlưu động tự có và coi như tự có, vốn lưu động vay của Ngân hàng Nhà nước .

Vốn lưu độngtự có và coi như tự có gồm:

- Vốn ngânsách Nhà nước cấp;

- Vốn được bổsung bằng lợi nhuận xí nghiệp;

- Vốn coi nhưtự có gồm: tiền lương phải trả nhưng chưa đến kỳ trả, chi phí về tiền nhà,điện, nước phải trả nhưng chưa đến kỳ trả, các khoản phải nộp ngân sách nhưngchưa đến hạn nộp, chi phí trước trước và các khoản khác (nếu có).

4. Tỷ lệ vốnlưu động tự có và coi như tự có tham gia cấu tạo vốn lưu động định mức hàng nămquy định như sau :

- 10% (mườiphần trăm) đối với các xí nghiệp dịch vụ, vốn lưu động hàng hóa của xí nghiệpăn uống công cộng;

- 20% (haimươi phần trăm) đối với các nghiệp vận tải, nghiệp vụ bưu điện;

- 30% (bamươi phần trăm) đối với vốn lưu động hàng hóa của các tổ chức thương nghiệp;

- 50% (nămmươi phần trăm) đối với các xí nghiệp, công nghiệp của tất cả các ngành; xínghiệp nông nghiệp, khai thác lâm sản, thủy hải sản, muối; các tổ chức cungtiêu kể cả thiết bị lẻ, và các loại xí nghiệp khác.

Vốn lưu động định mức không phải là hàng hóa của các tổ chức thương nghiệp và cung tiêu được ngânsách Nhà nước cấp 100% (một trăm phần trăm).

Các xí nghiệpxây lắp; bao thầu phải hạch toán kinh tế và xác định mức vốn lưu động như cácxí nghiệp sản xuất khác; Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính sẽ quy định tỷ lệvốn tự có và vốn đi vay thích hợp.

5. Mức vốnlưu động tự có và coi như tự có kế hoạch tăng thêm hàng năm quy định như sau :

- Trước hếtcác xí nghiệp phải tận dụng các khoản nợ định mức tăng thêm;

- Số cònthiếu, xí nghiệp được trích từ lợi nhuận năm kế hoạch để bổ sung theo chế độphân phối lợi nhuận hiện hành. Nếu lợi nhuận kế hoạch không đủ (hoặc không cólợi nhuận kế hoạch) thì ngân sách Nhà nước cấp thêm vốn lưu động cho xí nghiệp.

Trường hợp xínghiệp chưa trích kịp hoặc không thực hiện được kế hoạch lợi nhuận cho nên khôngcó đủ tiền để bổ sung vốn lưu động theo kế hoạch, thì xí nghiệp vay Ngân hàngNhà nước .

6. Các nhucầu vốn lưu động vượt quá mức vốn lưu động tự có và coi như tự có, xí nghiệpđược vay ở Ngân hàng Nhà nước:

a) Loại chovay vốn lưu động trong kế hoạch, gắn liền với kế hoạch vốn lưu động của xínghiệp và được dự trù trong kế hoạch tín dụng.

Đối với cácxí nghiệp quốc doanh có đủ điều kiện (ổn định sản xuất, công tác quản lý tươngđối có nề nếp, xí nghiệp tự nguyện) được Ngân hàng Nhà nước cho vay vốn lưuđộng trong kế hoạch theo phương thức cho vay luân chuyển vật tư và chi phí bằngmột tài khoản, bao quát mọi khoản chi trả và thanh toán của xí nghiệp.Chuyểnviệc cho vay theo theo từng lần, từng việc qua cho vay theo kế hoạch và hạn mứccho vay chung. Xí nghiệp được chủ động chi trả và thanh toán trong phạm vi hạnmức cho vay chung đã quy định; chịu trách nhiệm về tính chất hợp lý, hợp phápcủa từng khoản chi, có nghĩa vụ nộp các khoản thu nhập bằng tiền vào tài khoảnnày để trả nợ và tạo ra nguồn vốn để tiếp tục chi trả và thanh toán.

b) Loại chovay vốn lưu động ngoài kế hoạch để bổ sung các nhu cầu vốn cần thiết cho xínghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh và giải quyết những khó khăn tài chính tạmthời.

Các trườnghợp vay ngoài kế hoạch vì lợi ích kinh tế quốc dân, như dự trữ nguyên vật liệu,hàng hóa theo thời vụ, sản xuất kinh doanh vượt mức theo phương hướng kế hoạch Nhànước …được trả mức lợi suất như vay vốn trong kế hoạch. Các trường hợp vay ngoàikế hoạch do khuyết điểm chủ quan của xí nghiệp phải trả mức lợi suất cao hơn.

7. Cơ quantài chính cấp phát vốn lưu động theo kế hoạch đã duyệt và dựa vào bản phân phốicủa cơ quan chủ quản mà chuyển thẳng vào tài khoản của tổ chức kinh doanh hayxí nghiệp hạch toán kinh tế độc lập (không cấp vốn qua cơ quan chủ quản nhưtrước)

Cơ quan chủquản được điều hòa trong phạm vi từ 1% đến 3% tổng số vốn lưu động tự có giữacác xí nghiệp và tổ chức kinh tế thuộc quyền quản lý của mình.

8. Từ nay, bỏchế độ cho vay đặc biệt không tính lãi. Trường hợp đặc biệt ở các tổ chức cungtiêu, thương nghiệp và một số ít xí nghiệp quốc doanh trung ương cần dự trữ vậttư nhập của nước ngoài, vượt quá phạm vi cấp phát và cho vay thông thường, thìđược vay Ngân hàng Nhà nước với mức lãi suất thấp.

Các xí nghiệpcó những vật tư, hàng hóa đã được ngân hàng cho vay đặc biệt không tính lãi,hoặc ngân sách cấp vốn dự trữ 100%, phải phân loại và đưa vào luân chuyển đểthu hồi vốn trả nợ ngân hàng hoặc nộp ngân sách Nhà nước.

9. Hàng năm,đi đôi với việc lập kế hoạch sản xuất kỹ thuật – tài chính, xí nghiệp phải lậpkế hoạch vay vốn lưu động, kèm theo các tài liệu chứng minh hiệu quả kinh tếcủa tiền vốn, gửi cơ quan chủ quản và ngân hàng phục vụ mình. Bộ, Tổng cục, Sở,Ty chủ quản tổng hợp kế hoạch vốn lưu động của các xí nghiệp, tổ chức kinh tếthuộc phạm vi quản lý của mình gửi Ngân hàng Nhà nước trung ương và Bộ Tàichính.

Ngân hàng Nhànước căn cứ vào kế hoạch của các xí nghiệp, tổ chức kinh tế cơ sở, của các Bộ, Tổngcục, Sở, Ty chủ quản tính toán nhu cầu cho vay vốn, lập kế hoạch tín dụng trìnhHội đồng chính phủ xét duyệt. Ngân hàng Nhà nước sẽ thông báo kế hoạch cho vayvốn đối với từng Bộ, Tổng cục, Sở, Ty chủ quản và từng đơn vị kinh tế cơ sở,sau kế hoạch tín dụng được Hội đồng chính phủ phê chuẩn.

10. Các xínghiệp và tổ chức kinh tế phải tăng cường quản lý kế hoạch vốn lưu động, kể cảvốn vay và vốn tự có, nâng cao hiệu quả kinh tế của đồng vốn. Trước mắt, cầntiến hành việc thanh lý vật tư, hàng hóa ứ đọng, kém phẩm chất, mất phẩm chất;giải quyết dứt điểm công nợ dây dưa và thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hợp đồngkinh tế, kỷ luật thanh toán và kỷ luật trả tiền, không để nợ nần dây dưa, gâynên ứ đọng vốn và trở ngại cho việc thực hiện kế hoạch vốn lưu động đã được xácđịnh. Cơ quan tài chính, Ngân hàng Nhà nước phải thực hiện việc kiểm soát bằngđồng tiền, giúp đỡ xí nghiệp củng cố và tăng cường công tác quản lý và sử dụngvốn, thúc đẩy luân chuyển vốn nhanh, làm tròn nghĩa vụ đối với ngân sách và trảnợ ngân hàng đúng hạn.

II. CẢI TIẾN VÀ MỞ RỘNG TÍNDỤNG NGÂN HÀNG VÀO LĨNH VỰC XÂY DỰNG CƠ BẢN ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ QUỐC DOANH

11. Yêu cầuđối với việc cấp phát và cho vay xây dựng cơ bản là nhằm tạo điều kiện cho xínghiệp và các tổ chức kinh tế không ngừng tăng cường cơ sở vật chất và kỹ thuậtđể phát triển sản xuất kinh doanh; huy động và sử dụng hợp lý tài sản, tiền vốnvà lao động sẵn có kết hợp với xây dựng mới, xây dựng bổ sung, không ngừng nângcao công suất của máy móc thiết bị và tài sản của xí nghiệp, tăng năng suất laođộng và hiệu quả vốn đầu tư; góp phần phát huy tính tự chủ, tăng cường tráchnhiệm của các Bộ, Tổng cục, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, các đơn vị kinh tếcơ sở trong việc quản lý và sử dụng vốn xây dựng cơ bản. Trách nhiệm của ngànhtài chính và ngân hàng là kết hợp chặt chẽ hai phương pháp cấp phát ngân sáchvà tín dụng bảo đảm cung cấp vốn cho nhu cầu xây dựng cơ bản và đòi hỏi xínghiệp, tổ chức kinh tế phải sử dụng vốn đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quảkinh tế cao và đưa nhanh công trình vào sản xuất kinh doanh.

12. Nguồn vốnđầu tư xây dựng cơ bản của xí nghiệp, tổ chức kinh tế bao gồm: nguồn vốn tự cócủa xí nghiệp, tổ chức kinh tế; nguồn vốn cấp phát của ngân sách Nhà nước,nguồn vốn vay của Ngân hàng Nhà nước.

13. Ngân sáchNhà nước cấp phát:

a) Những côngtrình xây dựng cơ bản sản xuất, kinh doanh quy mô lớn, thi công lâu năm, có tácdụng làm biến đổi và cải thiện tình hình kinh tế trong phạm vi cả nước, trong từngvùng lớn vượt quá khả năng của từng ngành, từng đơn vị và tổ chức kinh tế cơ sở.

b) Những côngtrình xây dựng cơ bản có tính chất hành chính, sự nghiệp như các công trình vănhóa, xã hội, phúc lợi công cộng…

Ngân sách Nhànước không bố trí vốn để cấp phát đối với các công trình và chi phí đầu tư xây dựngcơ bản thuộc đối tượng vay vốn ngân hàng.

14. Ngân hàngNhà nước cho vay :

Những côngtrình xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định thuộc lĩnh vực sản xuất, kinhdoanh, đã được ghi vào kế hoạch Nhà nước, nhưng không thuộc phạm vi cấp phátcủa ngân sách; kể cả xây dựng mới, khôi phục và mở rộng, thuộc khu vực kinh tếquốc doanh, công tư hợp doanh trung ương hay địa phương; có khả năng đem lạihiệu quả kinh tế, có thể tính toán trực tiếp trong từng đơn vị kinh tế và bảođảm trả nợ cho ngân hàng trong thời hạn quy định.

Những côngtrình đầu tư xây dựng cơ bản của các xí nghiệp đang sản xuất kinh doanh nhằm sửdụng hợp lý khả năng về máy móc, thiết bị lao động, đất đai, phế liệu, phếphẩm… hoặc áp dụng những biện pháp cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất…có khảnăng đưa lại hiệu quả kinh tế, thu hồi vốn nhanh nhưng kế hoạch chung của Nhànước không thể dự kiến hết được.

15. Thời hạncho vay đối với mỗi loại công trình phải căn cứ vào thời gian mà tài sản cốđịnh được tạo ra với vốn vay của ngân hàng có thể đưa lại hiệu quả kinh tế đểtrả nợ ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước cùng với Bộ hoặc ngành chủ quản, dựa trênnhững căn cứ về kinh tế kỹ thuật đã kết luận để ấn định cụ thể thời hạn chovay. Thời hạn cho vay tính từ khi phát khoản cho vay đầu tiên; thời gian bắtđầu thu nợ đối với từng loại công trình là thời hạn công trình hoặc bộ phậncông trình phải dựa vào sản xuất, kinh doanh theo kế hoạch quy định.

Thời hạn tốiđa đối với các công trình cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sử dụng phế liệu,phế phẩm…là 5 năm, cá biệt 7 năm.

Thời hạn tốiđa đối với các công trình xây dựng cơ bản về công nghiệp, vận tải, các ngànhkinh tế khác là 10 năm. Riêng đối với một số đối tượng cụ thể về sản xuất nông nghiệp,lâm nghiệp có thể trên 20 năm.

16. Ngân hàngcho vay vốn xây dựng cơ bản bao gồm các loại chi phí xây lắp, thiết bị, kiếnthiết cơ bản khác theo đề án thiết kế và dự toán được duyệt cho một công trình.

Những côngtrình đầu tư cơ bản vay bằng vốn ngoại tệ, phải có kế hoạch trực tiếp sản xuấthoặc góp phần sản xuất hàng xuất khẩu và tạo ra khả năng khác để thu ngoại tệbù lại vốn đã vay. Ngoại tệ vay thuộc khu vực nào (xã hội chủ nghĩa, ngoài xãhội chủ nghĩa) phải trả bằng ngoại tệ thuộc khu vực ấy.

17. Để vayvốn Ngân hàng Nhà nước, các đơn vị có công trình xây dựng cơ bản phải có cácđiều kiện sau đây:

a) Có kếhoạch vay vốn hàng năm và cho cơ quan Ngân hàng Nhà nước phục vụ mình biết rõkế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch vốn và mức vốn phải vay, hiệu quả tiềnvốn và nguồn vốn trả nợ; gửi cho ngân hàng các tài liệu cần thiết như: nhiệm vụthiết kế, khái toán công trình, giấy phép cấp đất xây dựng, thiết kế sơ bộ, thiếtkế kỹ thuật (nếu có), dự toán chi phí của công trình và bàn tính hiệu quả kinhtế dựa trên những định mức kinh tế kỹ thuật đã được cấp có thẩm quyền quy định.

b) Được ghivào kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước, được bảo đảm cung cấp về vậttư, thiết bị và lực lượng thi công. Nếu là công trình phát sinh trong quá trìnhsản xuất, kinh doanh mà kế hoạch đầu năm chưa dự kiến được, nhưng có hiệu quảkinh tế, có khả năng thu hồi vốn nhanh, có nguồn cung cấp vật tư, lao động vàcác điều kiện thực hiện khác cũng được xét bổ sung vào kế hoạch tín dụng vàđược vay vốn. Xí nghiệp vay vốn phải cung cấp cho ngân hàng đầy đủ căn cứ vàtài liệu chứng minh.

c) Người đứngra vay vốn là giám đốc xí nghiệp, chủ nhiệm công ty, tổng công ty, liên hiệp xínghiệp…có đủ tư cách pháp nhân. Nếu là công trình xây dựng mới chưa bổ nhiệm giámđốc, chủ nhiệm thì thủ trưởng cơ quan sản xuất, kinh doanh chủ quản cấp trênphải cử người có đủ tư cách pháp nhân đứng ra vay vốn và chịu trách nhiệm bàngiao cho giám đốc, chủ nhiệm của xí nghiệp, tổ chức kinh tế sau này để hoàn trảnợ vay ngân hàng đúng thời hạn.

d) Người đứngra vay vốn phải làm đơn xin vay, trong đó ghi rõ mục đích, đối tượng, số vốnvay, thời hạn trả nợ…kèm theo các tài liệu chứng minh rõ ràng, có đủ các điềukiện được vay vốn, cam kết sử dụng vốn vay đúng đối tượng, đúng mục đích đã ghirõ trong đơn xin vay và đã được chấp thuận; phải bảo đảm chấp hành đầy đủ cácchế độ về quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước trong quá trình đầu tư xâydựng cơ bản cũng như trong sản xuất, kinh doanh; bảo đảm trả nợ Ngân hàng Nhànước đúng kỳ hạn quy định.

18. Cơ quanNgân hàng trực tiếp cho vay vốn có trách nhiệm phải theo dõi và kiểm tra việcsử dụng vốn bao gồm vốn tự có của xí nghiệp và vốn vay, đòi hỏi xí nghiệp và tổchức vay vốn tôn trọng kỷ luật tín dụng, kỹ luật tiền mặt, chế độ thanh toán vàcác nguyên tắc quản lý của Nhà nước, bảo đảm thu hồi nợ đúng thời hạn.

19. Lãi suấtcho vay vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Ngân hàng Nhà nước đối với khu vực kinhtế quốc doanh tạm quy định là 3% năm (ba phần trăm). Mỗi lần trả nợ, đơn vị vayphảo trả cả gốc và lãi trên số gốc trả. Tiền lãi vay trong kế hoạch được tínhvào giá thành sản phẩm hoặc phí lưu thông.

Nếu trả xongnợ trước kỳ hạn thì số tiền lãi được giảm do trả nợ trước thời hạn, được đưavào lợi nhuận của xí nghiệp. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước sẽ căn cứ vào thờigian trả nợ trước thời hạn, so với thời hạn phải trả đã quy định mà giảm lãisuất cho đơn vị vay vốn với tỷ lệ tương ứng; số tiền này xí nghiệp được quyềnsử dụng để tăng lợi nhuận.

Trong trườnghợp không trả nợ đúng hạn do những khuyết điểm chủ quan, đơn vị vay vốn chịulãi phạt theo tỷ lệ tương ứng với thời gian quá hạn; tiền lãi phạt trích từ lợinhuận xí nghiệp.

Tổng giám đốcNgân hàng Nhà nước căn cứ vào mức lãi suất chung nói trên sẽ bàn với bộ, ngành chủquản quy định mức lãi suất cụ thể, phù hợp với tính chất và đặc điểm của từngloại công trình thuộc ngành nghề khác nhau và theo phương hướng chủ trương đầutư trong từng thời kỳ của Nhà nước.

20. Nguồn vốnđể trả nợ về đầu tư xây dựng cơ bản của đơn vị kinh tế bao gồm:

a) Vốn khấuhao cơ bản của tài sản cố định do ngân hàng cho vay;

b) Lợi nhuậncủa xí nghiệp sau khi đã trích lập các quỹ theo chế độ.

Trong thờigian chưa trả hết nợ ngân hàng, xí nghiệp không phải nộp lợi nhuận cho ngânsách Nhà nước.

Đối với nhữngcông trình ngân hàng cho vay để mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóasản xuất thì xí nghiệp dùng số lợi nhuận do hiệu quả sử dụng vốn vay đưa lại đểtrả nợ ngân hàng.

Những côngtrình sau khi đã trả hết nợ ngân hàng mà vẫn còn tiếp tục trích khấu hao cơbản, xí nghiệp được sử dụng tiền khấu hao để tăng quỹ phát triển sản xuất.

21. Ngân hàngNhà nước cho vay đơn vị chủ công trình (bên A) thuộc đối tượng tín dụng củangân hàng để:

- Mua vật tư,thiết bị của công trình xây dựng mà bên A có nhiệm vụ dự trữ để cung cấp cho bênB, các chi phí đầu tư xây dựng cơ bản khác do bên A trực tiếp chỉ cho côngtrình.

- Thanh toáncho xí nghiệp xây lắp bao thầu theo từng phần hay toàn bộ công trình đượcnghiệm thu và đưa vào sản xuất kinh doanh theo kế hoạch.

22. Việc chocác xí nghiệp xây lắp bao thầu vay vốn để thi công những công trình xây dựng cơbản thuộc phạm vi cho vay, Ngân hàng Nhà nước sẽ căn cứ điều kiện cụ thể vàtính chất từng loại công trình để tựa vào ngân hàng kiến thiết thuộc Bộ Tàichính để cho vay, hoặc tự mình trực tiếp cho xí nghiệp xây lắp vay.

Trong quátrình thi công, nếu đơn vị chủ công trình vay vốn cần sửa đổi đồ án thiết kế,điều chỉnh dự toán công trình, phải có ý kiến của Ngân hàng Nhà nước trước khitrình cấp có thẩm quyền xét duyệt.

23. Ngân hàngNhà nước có nhiệm vụ kiểm tra và thúc đẩy các đơn vị chủ công trình, tổ chứcxây lắp bao thầu thực hiện đúng tiến độ thi công, đồ án thiết kế và giá thànhkế hoạch. Trường hợp phát hiện thiếu sót có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quảvốn đầu tư và khó khăn cho việc thu hồi vốn sau này, Ngân hàng Nhà nước phảiđình chỉ cho việc thu hồi vốn sau này, Ngân hàng Nhà nước phải đình chỉ việccho vay và báo cáo, kiến nghị giải quyết lên cơ quan quản lý trực tiếp côngtrình và Ngân hàng Nhà nước cấp trên.

24. Đối vớicác công trình thi công theo phương pháp tự làm, Ngân hàng Nhà nước cho đơn vịchủ công trình mà ban kiến thiết là đại diện, vay vốn lưu động như đối với mộttổ chức xây lắp bao thầu (xem như bên B), để dự trữ vật tư, thiết bị và thựchiện các chi phí cần thiết cho việc xây dựng công trình. Khi từng phần hay toànbộ công trình xây dựng được hoàn thành đưa vào sản xuất kinh doanh, Ngân hàngNhà nước dựa trên kết quả xây dựng đó mà cho đơn vị chủ công trình (xem như bênA) vay vốn dài hạn để thanh toán số tiền đã vay ngắn hạn.

25. Kế hoạchcho vay đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận gắn liền với kế hoạch đầu tư xâydựng cơ bản của Nhà nước, được xây dựng cùng một lúc với các kế hoạch khác củanền kinh tế quốc dân.

Cơ quan ngânhàng Nhà nước và tài chính các cấp có trách nhiệm cùng Ủy ban Kế hoạch Nhà nướclập kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản ngay từ khâu giao số kiểm tra cũng nhưtrong quá trình lập và tổng hợp kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước.

26. Việc tínhtoán và xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản và kế hoạch tín dụng phải đượchướng dẫn và chỉ đạo chặt chẽ từ trung ương, phù hợp với đường lối, phươnghướng, chủ trương của Đảng và Nhà nước và phải được tính toán cụ thể từ đơn vịsản xuất kinh doanh cơ sở. Khi xí nghiệp, tổ chức kinh tế bảo vệ kế hoạch sảnxuất, kinh doanh trước cấp ủy và chính quyền địa phương, cơ quan tài chính vàngân hàng có trách nhiệm phát biểu ý kiến của mình về mặt cân đối và hiệu quảtiền vốn của từng xí nghiệp, tổ chức kinh tế.

27. Các Bộ,Tổng cục, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổng hợp và lậpkế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của ngành, địa phương mình, có phân chia vốn tựcó, vốn đầu tư ngân sách, vốn vay của ngân hàng, gửi Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước. Bộ Tài chính tổng hợp kế hoạch thu chi ngânsách Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước tổng hợp kế hoạch tín dụng trình Hội đồngChính phủ cùng một lúc với việc xét duyệt kế hoạch kinh tế quốc dân.

Sau khi Hộiđồng chính phủ xét duyệt và giao chỉ tiêu kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản chocác Bộ, Tổng cục, tỉnh, thành phố, thì Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính thôngbáo cho đơn vị được sử dụng vốn và các đơn vị trong hệ thống của mình để tiếnhành cho vay hoặc cấp phát vốn. Kế hoạch cấp phát vốn và kế hoạch tín dụng làcăn cứ để Nhà nước và từng ngành chỉ đạo công tác đầu tư xây dựng cơ bản.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUYẾTĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ VỀ CHỦ TRƯƠNG CẢI TIẾN VÀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Như quyếtđịnh của Hội đồng chính phủ đã nêu rõ, cải tiến và mở rộng tín dụng ngân hànglà một khâu quan trọng trong cải tiến quản lý kinh tế. Đây là một công tác cóliên quan mật thiết các ngành, các cấp. Để thực hiện có kết quả, phải chuẩn bịvà tạo ra những tiền đề cần thiết. Vì vậy, phải thực hiện việc cải tiến quản lýtuơng đối có hệ thống, đồng bộ, nhưng không cầu toàn, phải làm có trọng tâm, trọngđiểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, bồi dưỡng và đào tạo cán bộ, bổ sung và nângcao từng bước.

A. Đối vớivốn lưu động

Phải phấn đấubắt đầu từ quý II năm 1977 áp dụng một cách rộng rãi những nguyên tắc và nộidung cải tiến và mở rộng tín dụng ngân hàng theo quyết định của Hội đồng Chínhphủ. Các cơ quan ngân hàng, tài chính và ngành chủ quản phải tập trung sức giúpxí nghiệp giải quyết những khó khăn về vốn đi liền với việc cải tiến quản lývốn, quản lý sản xuất, kinh doanh:

1. Tính toánvà xác định lại mức vốn lưu động cho từng xí nghiệp, trước hết đối với các xí nghiệptrọng điểm, đi đôi với việc tiến hành thanh lý, xử lý những vật tư , hàng hoá ứđọng, kém phẩm chất, mất phẩm chất; giải quyết dứt điểm công nợ dây dưa, khôngđể thừa vốn, thiếu vốn một cách giả tạo, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinhdoanh của xí nghiệp.

2. Phối hợpchặt chẽ giữa tài chính, ngân hàng ngành chủ quản điều chỉnh lại vốn theo địnhmức và kế hoạch; thu hồi vốn đã cấp phát quá mức, cấp phát thêm cho những xínghiệp còn thiếu. Ngân hàng tiến hành việc cho vay và làm chức năng thanh toán,quản lý của mình.

Trên cơ sở làm tốt những việc nói trên mà tạo điều kiện và giúp xí nghiệp tăngcường quản lý, nâng cao hạch toán, và phát huy vai trò kiểm soát bằng đồng tiềncủa tài chính và ngân hàng,

3. Giúp xínghiệp cải tiến quản lý vốn, thông qua quản lý vốn mà tăng cường quản lý cácmặt của xí nghiệp, khắc phục những thiếu sót và sơ hở trong việc sử dụng vốn,quản lý vốn, quản lý vật tư, lao động, hàng hoá…của xí nghiệp, từng buớc đưaviệc quản lý xí nghiệp đi vào nền nếp, chế độ và nguyên tắc quản lý xã hội chủnghĩa.

4. Đối vớicác xí nghiệp quốc doanh, nói chung cần có kế hoạch và biện pháp giúp xí nghiệpchấn chỉnh việc quản lý sử dụng vốn. Tuy nhiên, trong từng thời gian phải tậptrung sức làm tốt một số xí nghiệp có tính tiêu biểu cho từng ngành và từngvùng. Chú trọng những xí nghiệp có tầm quan trọng lớn và khó khăn nhiều.

Vừa làm vừarút kinh nghiệm để phổ biến cho nơi khác và chuẩn bị cho bước tiếp theo.

B. Đối vớixây dựng cơ bản

Trong năm1977, yêu cầu là phải bảo đảm thực hiện kế hoạch xây dựng cơ bản từ những thángđầu năm không bị gián đoạn, đồng thời tập trung sức tiến hành có trọng tâm,trọng điểm theo yêu cầu và nội dung mới :

1. Đối vớicác công trình xây dựng cơ bản thuộc phạm vi và đối tượng cho vay của Ngân hàngNhà nước đã được khởi công từ các năm trước còn phải chuyển sang năm 1977. BộTài chính thông qua ngân hàng kiến thiết tiếp tục cấp phát vốn, đồng thời thôngbáo cho Ngân hàng Nhà nước theo dõi nắm tình hình để sau đó sẽ chuyển sang đầutư bằng vốn tín dụng.

Riêng nhữngcông trình xây dựng dở dang nhưng thi công gọn, có hồ sơ tài liệu rõ ràng, cóthể xét ngay việc chuyển từ cấp phát ngân sách sang vay vốn ngân hàng.

Ngân hàng Nhànước và Bộ Tài chính sẽ cùng các ngành, các địa phương bàn bạc cụ thể việc chuyểnphương thức đầu tư vốn đối với những công trình nói trên.

2. Đối vớinhững công trình thuộc phạm vi, đối tượng cho vay ngân hàng khởi công trong năm1977, nằm trong danh mục và kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản đã được Hội đồngChính phủ xét duyệt thì các Bộ, Tổng cục, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốlập danh mục và kế hoạch vay vốn gửi Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Nhà nướctính toán, xem xét hiệu quả kinh tế của từng công trình và tiến hành cho vaytheo trách nhiệm của mình.

3. Đối vớinhững công trình xây dựng cơ bản mà kế hoạch đầu năm chưa dự kiến hết nay phảilàm thêm thì các Bộ, Tổng cục, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phải lập kếhoạch bổ sung gửi Ngân hàng Nhà nước, thuyết minh rõ về nhu cầu vốn, thời hạntrả nợ khả năng bảo đảm vật tư lao động, như đã qui định.

4. Cùng vớiviệc cấp phát và cho vay vốn xây dựng cơ bản năm 1977, các cơ quan ngân hàngtài chính phải cùng các Bộ, ngành, địa phương và đơn vị kinh tế cơ sở rút kinh nghiệm,tính toán kế hoạch vốn của các năm sau, có tách riêng phần đầu tư bằng vốn tựcó, vốn cấp phát và vốn vay ngân hàng như đã nói ở các phần trên.

Trong quátrình thực hiện, ngành tài chính và ngân hàng Nhà nước cần phối hợp chặt chẽgiúp đỡ nhau về cán bộ và kinh nghiệm để làm tốt công tác.

Về tín dụngđối với khu vực kinh tế tập thể và tín dụng trong lĩnh vực tiêu dùng. Ngân hàngNhà nước sẽ bàn bạc với các ngành có liên quan và các địa phương để có các vănbản hướng dẫn riêng.

BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH




Đào Thiện Thi

TỔNG GIÁM ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC




Hoàng Anh