NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
BỘ TÀI CHÍNH
HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI KINH TẾ NHÀ NƯỚC******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 770-TT/LB

Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 1976

THÔNG TƯ LIÊN BỘ

HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐĐIỀU KHOẢN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC NGÂN HÀNG VÀ TÀI CHÍNH TRONG ĐIỀU LỆ VỀ CHẾĐỘ HỢP ĐỒNG KINH TẾ BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 54-CP NGÀY 10-03-1975 CỦA HỘIĐỒNG CHÍNH PHỦ

Ngày 10 tháng 03 năm 1975, Hội đồng Chính Phủ đã ra Nghị định số54-CP ban hành điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế. ngày 23 tháng 06 năm 1975 Hộiđồng trọng tài kinh tế nhà nước đã ra Thông tư số 525-HĐ hướng dẫn thực hiện điềulệ. Nay liên bộ Ngân hàng Nhà nước – Tài chính - Hội đồng trọng tài kinh tế Nhànước ra Thông tư hướng dẫn thi hành một số điều khoản trong Điều lệ về chế độ hợpđồng kinh tê có liên quan đến công tác ngân hàng và tài chính.

I. QUAN HỆ GIỮA VIỆC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HỢP ĐỒNG KINH TẾ VỚIVIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN THANH TOÁN CHO VAY VÀ CẤP PHÁ VỐN.

A. Việc tổ chức thực hiện thanh toán và cho vay củangân hàng Nhà nước và ngân hàng kiến thiết.

1. Các cơ quan ngân hàng Nhà nước và ngân hàng kiến thiết (gọitắt là các cơ quan ngân hàng) có tổ chức thực hiện nghiệp vụ cho vay và thanhtoán theo đúng chế độ Nhà nước đã quy định.

2. Các cơ quan ngân hàng có liên quan mật thiết đến việc tổ chứcchấp hành chế độ hợp đồng kinh tế, cần thực hiện tốt các điều khoản sau :

a) Các cơ quan ngân hàng chỉ tiến hành thanh toán và cho vaykhi hợp đồng kinh tế ( trừ các trường hợp được quy định ở điểm 3). Thực hiện điểmnày, các cơ quan ngân hàng kiểm soát số và ngày kí hợp đồng kinh tế ghi chép đầyđủ trên các chứng từ thanh toán và chứng từ xin vay. Đối với các chứng từ thanhtoán và chứng từ cho vay không có dòng in sẵn để ghi số và ngày ký hợp đồng,đơn vị lập chứng từ thanh toán hoặc xin vay phải ghi số, ngày ký hợp đồng vàodòng ghi mục đích (hoặc nội dung) của số tiền xin thanh toán hoặc xin vay phảihoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc ghi đúng số, ngày ký hợpđồng kinh tế trên các chứng từ đó.

b) Trong những trường hợp cần thiết, ngân hàng được quyền yêucầu các cơ quan, đơn vị kinh tế phải xuất trình hợp đồng kinh tế để tiến hànhkiểm soát trước khi thực hiện thanh toán và cho vay. Riêng việc mua bán vật tư,hàng hoá đúng trong khu vực xây dựng cơ bản, khi áp dụng thể thức thanh toántheo hợp đồng kinh tế ký kết giữa bên mua có tài khoản tại ngân hàng kiếnthiết và bên bán có tài khoản tại ngân hàng Nhà nước thì hợp đồng kinh tế phảiđược gửi tới ngân hàng kiến thiết kiểm soát trước để bảo đảm có vốn thanh toán.

c) Trong quá trình thực hiện các mặt nghiệp vụ ngân hàng, nếucác cơ quan ngân hàng phát hiện các đơn vị thực hiện thanh toán hoặc xin vaykhông có hợp đồng kinh tế (trừ các trường hợp quy định ở điểm 3 tiếpsau), hoặc ghi không đúng số và ngày ký hợp đồng kinh tế (trường hợp ghi số vàngày ký hợp đồng của hợp đồng đã hết thời hạn hiệu lực cũng được coi như khôngcó hợp đồng kinh tế ), thì ngân hàng không tiến hành thanh toán và không chovay, đồng thời áp dụng kỹ thuật thanh toán, tín dụng theo chế độ quy định vàthông báo ngay sự việc vi phạm này cho Hội đồng trọng tài kinh tế để xét xử.

3. Các tổ chức, đơn vị kinh tế được thực hiện thanh toán và đượcngân hàng xét cho vay mà không đòi hỏi có hợp đồng kinh tế trong những hợp sauđây:

a) Khi phải thi hành lệnh đặc biệt và khẩn cấp bằng văn bản củaThủ Tướng Chính Phủ và lệnh đặc biệt, khẩn cấp bằng văn bản trong phạm vi quyềnhạn được phép của Thủ Tướng các Bộ, Tổng cục, Các cơ quan ngang Bộ, các cơ quantrực thuộc Hội đồng Chính Phủ, Chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương.

b) Khi mua bán, cung ứng, vận chuyển nhất thời, đột xuất, thựchiện và thanh toán xong trong một lần.

c) Khi tiến hành những hoạt động kinh tế có tính chất đặc biệtcủa Hội đồng Chính Phủ cho phép, như thanh toán và cho vay hàng nhập khẩu khicó đơn đặt hàng (theo Nghị định số 200-CP ngày 31-12-1973 ban hành Điều lệ kếhoạch nhập khẩu, ký kết hợp đồng giao nhận và trả tiền hàng nhập khẩu - điều13), thanh toán và cho vay đề thanh toán công nợ dây dưa (theo Nghị định số219-TTg ngày 14-06-1975 của Thủ Tướng Chính Phủ.

d) Khi chưa được giao số kiểm tra, hoặc trong thời hạn tiếnhành ký hợp đồng kinh tế (theo điều 5 của Thông tư liên bộ ủy ban kế hoạchNhà nước của Hội đồng trọng tài kinh tế (theo điều 5 của Thông tư liên bộ ủyban kế hoạch Nhà nước và Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước số 573-TT/LB ngày10-07-1975) thì thời hạn ký kết hợp đồng để xây dựng kế hoạch phải phù hợp vớitiến độ kế hoạch, bắt đầu từ khi nhận được số kiểm tra của cấp trên giao và phảihoàn thành trước khi bảo vệ kế hoạch.

đ) Khi các đơn vị thương nghiệp hoặc sản xuất thu mua vượt mứcnghĩa vụ về hàng nông, lâm, thổ, hải sản cần thiết cho dự trữ sản xuất và lưuthông.

4. Hợp đồng kinh tế được coi là hợp lệ để có thể tiến hànhthanh toán và cho vay, phải ghi đủ các điều khoản chủ yếu sau đây :

a) Tên địa chỉ, số hiệu tài khoản giao dịch tại ngân hàng vàtên ngân hàng phục vụ hai đơn vị ký kết hợp đồng;

b) Phải có hai chữ ký của mỗi bên ký kết ;

- Của thủ trưởng đơn vị.

- Của kế toán trưởng.

Đối với các đơn vị chưa có quyết định chính thức cử người làmkế toán thì trưởng phòng hoặc tổ trưởng, hoặc người được chỉ định phụtrách công tác kế toán của đơn vị được quyền ký trên các hợp đồng kinh tếvà phải chịu trách nhiệm như kế toán trưởng. Nếu những người này vắng mặt, thìngười được thủ trưởng đơn vị chỉ định thay thế (bằng văn bản) cũng có quyền hạnvà trách nhiệm như kế toán trưởng.

Thủ trưởng đơn vị trực tiếp ký kết hợp đồng hoặc có thể ủynhiệm cho người đại diện ký kết hợp đồng kinh tế. Trong trường hợp ủy nhiệm,thủ trưởng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn như kế toán trưởng.

Thủ trưởng đơn vị trực tiếp ký kết hợp đồng hoặc có thể ủynhiệm cho người đại diện ký kết hợp đồng kinh tế. Trong trường hợp ủy nhiệm, thủtrưởng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về việc thực hiện hợp đồngkinh tế đó.

Nếu người ký hợp đồng kinh tế là người được ủy quyền thì trênhợp đồng phải ghi rõ số, ngày của giấy ủy quyền.

c) Các điều khoản hai bên cam kết thực hiện phải được ghi thậtcụ thể, như đã quy định trong điểm c và d điều 11 của Điều lệ về chế độ hợp đồngkinh tế, đặc biệt cần chú ý tới các điều khoản về số lượng, chất lượng, giá cả,thời gian, địa điểm, phương thức giao nhận, phương thức thanh toán và trách nhiệmvề vật chất trong trường hợp vi phạm hợp đồng kinh tế.

5. Trong hợp đồng kinh tế phải ghi một thể thức thanh toán nhấtđịnh mà hai bên ký kết hợp đồng đã thoả thuận. Thể thực thanh toán đó phải đúngvới quy định của chế độ thanh toán không dùng tiền mặt theo quyết định số70-Nha khoa/QĐ ngày 27-09-1975 của ngân hàng Nhà nước. Trường hợp thể thứcthanh toán ghi trong hợp đồng kinh tế không đúng với quy định của chế độthanh toán không dùng tiền mặt, thì ngân hàng có quyền từ chối thanh toán và hướngdẫn khách hàng áp dụng hình thức thanh toán thích hợp, có lợi cho cả hai bên.

Trường hợp đặc biệt, trong một hợp đồng kinh tế có thểghi hai hình thức thanh toán, nếu có hai phương thức mua bán, giao nhận, vậnchuyển hàng hoá và chi trả khác nhau, nhưng mỗi thể thức thanh toán nhất thiếtphải phù hợp với các quy định của chế độ thanh toán không dùng tiền mặt.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng kinh tế không thống nhất vớinhau về điều khoản thể thức thanh toán, hoặc trường hợp một trong hai bên vi phạmkỷ luật thanh toán, thì ngân hàng phục vụ bên bán quyết định và hai bên ký kếthợp đồng kinh tế có nhiệm vụ phải thi hành.

6. Việc tiến hành thanh toán và cho vay của ngân hàng còn phảibảo đảm tôn trọng các chế độ thể lệ về thanh toán, tín dụng và quản lý tiền mặtđã được Thủ tướng Chính Phủ và ngân hàng Nhà nước ban hành.

B. Việc cấp phát vốn của tài chính.

1. Các cơ quan tài chính và ngân hàng kiến thiết có nhiệm vụ kịpthời xét duyệt và cấp phát vốn theo kế hoạch và hạn mức kinh phí cho các bộ,các ngành các địa phương để đảm bảo hoạt động của các đơn vị.

2. Các đơn vị hạch toán kinh tế thì được phép ký kết hợp đồngkinh tế mua vật tư, hàng hoá; cung ứng lao động trong phạm vi số vốn kinh doanhNhà nước giao cho mình quản lý (gồm vốn ngân sách cấp, vốn ngân hàng cho vay, vốntự có . . .). các đơn vị dự toán chỉ được phép ký kết các hợp đồng nói trêntrong phạm vi dự toán kinh phí được duyệt. Các hợp tác xã chỉ được phép ký kết các hợp đồng kinh tế trong phạm vi số vốn tự có và vốn vay của ngân hàng.Các đơn vị hoạch toán kinh tế độc lập, nếu vi phạm hợp đồng kinh tế mà bị phạtthì phải trích ở quỹ phúc lợi để trang trải khoản tiền phạt đó.

3. Khi có những nhiệm vụ đột xuất do chính phủ giao ngoài chỉtiêu kế hoạch Nhà nước, căn cứ vào lệnh của Chính Phủ và Bộ tài chính cấp phátvốn cho các Bộ, các ngành, các địa phương trong trường hợp thuộc vốn ngân sáchcấp, hoặc ngân hàng cho vay trong trường hợp thuộc vốn vay của ngân hàng.

II. THỦ TỤC, TRÍCH NỘP TIỀN PHẠT VÀ TIỀN BỒI THƯỜNG DO VIPHẠM HỢP ĐỒNG KINH TẾ.

1. Tiền phạt :

a) Đơn vị vi phạm hợp đồng kinh tế - là xí nghiệp quốc doanhđã hạch toán kinh tế độc lập, phải lập ủy nhiệm chi trích từ tài khoản quỹphúc lợi của xí nghiệp mở tài ngân hàng để nộp phạt. Trường hợp tài khoản củađơn vị vi phạm không đủ tiền để nộp phạt theo số tiền đã ghi trên ủy nhiệmchi, thì ngân hàng trích hết số tiền còn lại trên tài khoản đó; số tiền nộpphạt còn thiếu vào sổ sách kế toán như là khoản còn nợ ngân sách để theo dõi vànộp tiếp.

b) Đơn vị vi phạm hợp đồng kinh tế - là đơn vị dự toán, phải lậpgiấy xin rút hạn mức kinh phí, trích từ hạn mức kinh phí được phê chuẩn (hạng,mục dành để chi vào mục đích thi hành hợp đồng kinh tế), hoặc tiền gửi tài khoảnvãng lai của cơ quan dự toán nếu có, mở tại ngân hàng. Nếu hạng, mục dành đểchi vào mục đích hợp đồng kinh tế không còn tiền, đơn vị phải điều hoà kinh phítừ các hạng mục khác trong phạm vi luật lệ tài chính cho phép để có tiền nộp phạt.Đơn vị không được trích từ hạng, mục chi về tiền lương và phụ cấp lương của cánbộ, công nhân viên và không được trích vào vốn kiến thiết cơ bản, nếu khoản mụcđó không thuộc hạng, kiến thiết cơ bản.

c) Đơn vị vi phạm hợp đồng kinh tế - là đơn vị chủ quản công trình (bên A) phải trích từ tài khoản vốn xây dựng cơ bản mở tại ngân hàngkiến thiết để nộp phạt. Bên A phải lập báo cáo xin bộ chủ quản và ngân hàng kiếnthiết bổ sung vốn, nếu xét cần thiết.

d) Đơn vị vi phạm hợp đồng kinh tế - là hợp tác xã hay tổ sảnxuất có tài khoản mở tại ngân hàng Nhà nước, phải lập ủy nhiệm chitrích từ tài khoản tiền gửi thanh toán của mình mở tại ngân hàng Nhà nướcđể nộp phạt.

đ) Tất cả các tiền phạt trên được nộp vào ngân sách Nhà nước(loại Việt Nam, khoản 116, hạng IV, thu linh tinh của mục lục ngân sách địaphương, các đơn vị phải nộp phạt thuộc trung ương quản lý, nộp tiền phạt vàongân sách trung ương.

2. Tiền bồi thường.

a) Đơn vị bồi thường – là xí nghiệp quốc doanh đã hoạch toánkinh tế độc lập, phải lập ủy nhiệm chi trích tài khoản tiền gửi thanh toán củamình mở tại ngân hàng và phải hoạch toán số tiền bối thường đó vào khoản mục Quảnlý phí xí nghiệp để tính vào giá thành hay phí lưu thông.

b) Đơn vị phải bồi thường – là đơn vị dự toán, phải trích nộptiền bồi thường như trích nộp tiền phạt do vị phạm hợp đồng kinh tế đã được quyđịnh ở điểm b, mục 1 nói trên.

c) Đơn vị phải bồi thường – là đơn vị chủ quản công trình (bênA), phải nộp tiền bồi thường như trích nộp tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tếđã quy định ở điểm c, mục 1 nói trên.

d) Đơn vị phải bồi thường – là hợp tác xã hoặc tổ sản xuất cótài khoản mở tại ngân hàng Nhà nước phải trích nộp tiền bồi thường như trích tiềnphạt do vi phạm hợp đồng kinh tế đã quy định ở điểm c, mục 1 nói trên .

đ) Tất cả các khoản tiền bồi thường nói trên phải được đơn vịvi phạm chuyển trả qua ngân hàng cho các đơn vị được bồi thường có tài khoản mởtại ngân hàng và ghi vào :

- Tài khoản Tiền gửi thanh toán của các đơn vị sản xuất, kinhdoanh và được coi là khoản thu nhập về sản xuất kinh doanh;

- Tài khoản hạn mức kinh phí được phê chuẩn hoặc tài khoản tiềngửi vãng lai của đơn vị dự toán và được coi là hạn mức kinh phí được khôiphục.

3. Thời hạn trích nộp tiền phạt và trích trả tiền bồi thường.

Các đơn vị vi phạm hợp đồng kinh tế phải nộp tiền phạt và tiềnbồi thường theo đúng tiền và thời hạn đã được ghi trong quyết định xét xử của Hộiđồng trọng tài kinh tế. Qua thời hạn đó mà bên vi phạm hợp đồng kinh tế không nộptiền phạt và trả tiền bồi thường, thì cơ quan ngân hàng (ngân hàng Nhà nước vàngân hàng kiến thiết), căn cứ quyết định xét xử của trọng tài kinh tế, chủ độngtrích từ các tài khoản của bên vi phạm hợp đồng kinh tế để nộp vào ngân sách.Nhà nước số tiền phạt vi phạm hợp đồng và chuyển cho đơn vị được nhận tiền bồithường số tiền phải bồi thường; đồng thời trích phạt chậm nộp, chậm trả theo tỷlệ 0,025% một ngày trên số tiền chậm nộp, chậm trả. Tiền phạt do chậm nộp, chậmtrả được trích từ các tài khoản như đối với tiền phạt và tiền bồi thường, nộptiền phạt do chậm nộp vào ngân sách Nhà nước, chuyển số tiền phạt do chậm trảtiền bồi thường cho các đơn vị được nhận tiền bồi thường.

Nếu các tài khoản của đơn vị vi phạm không đủ hoặc hết tiền đểtrích nộp, trích trả, thì ngân hàng có trách nhiệm theo dõi để trích nộp, tríchtrả ngay sau khi các tài khoản nay có tiền.

Nếu trong năm, các tài khoản để trích tiền phạt hoặc tiền bồithường của các đơn vị vi phạm hợp đồng kinh tế không đủ tiền, hoặc không có tiềnđể trích, thì sang năm sau, khi các tài khoản của các đơn vị này có tiền, ngânhàng sẽ tiếp tục trích đủ số tiền phạt hoặc tiền bồi thường chuyển trả cho đơnvị được hưởng.

III. TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT CỦA CÁC CƠ QUAN GÂY RA VI PHẠM HỢPĐỒNG KINH TẾ

1. Đối với cơ quan quản lý cấp trên.

Điều 19 của bản Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế đã quy định: “Nếu nguyên nhân vi phạm là do sự chỉ đạo có thiếu sót của cơ quancấp trên thì bên vi phạm vẫn phải nộp phạt và bồi thường thiệt hại. Cơ quan quảnlý cấp trên có thiếu sót có trách nhiệm giải quyết kịp thời những thiệt hại gâyra cho đơn vị cơ sở”.

Trong trường hợp này, cơ quan quản lý cấp trên phải lập ủy nhiệmchi trích từ tài khoản của mình mở tại ngân hàng từ tài khoản gửi tiền phảithanh toán, nếu là đơn vị hoạch toán kinh tế độc lập, hoặc trích từ tàikhoản hạn mức kinh phí được phê chuẩn, nếu là đơn vị dự toán. Với số tiền bằngsố tiền phạt và tiền bồi thường mà đơn vị cơ sở phải trả ngân hàng có nhiệm vụtrích và chuyển số tiền phạt và số tiền bồi thường nói trên vào tài khoản trướcđây của đơn vị cơ sở đã trích nộp tiền phạt, trích trả bồi thường.

2. Đối với ngân hàng Nhà nước và ngân hàng kiến thiết .

Trường hợp các cơ quan ngân hàng không thực hiện đầy đủ tráchnhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ thanh toán, gây thanh toán chậm trễlàm thiệt hại vật chất cho đơn vị, do đơn vị này khiếu nại bằng viết và nếucơ quan ngân hàng không chứng minh được là không phải do lỗi của mình, thì cơquan ngân hàng phải chịu phạt chậm trả theo tỷ lệ 0,2% một tháng trên số tiềnchậm trả cho đơn vị được bồi thường.

Trường hợp tài khoản của đơn vị vi phạm hợp đồng có tiền, màcác cơ quan ngân hàng không chấp hành quyết định xét xử của Hội đồng trọngtài kinh tế để chủ động trích nộp, trích trả kịp thời, sau khi có khiếu nại bằngviết của đơn vị mà cơ quan ngân hàng không chứng minh được là do lỗi của mình,thiếu sót của mình, thì các cơ quan ngân hàng phải chịu phạt về việc thực hiệnnghiệp vụ thanh toán chậm theo tỷ lệ 0,025% một ngày trên số tiền và sốngày chậm trích nộp, chậm trích trả. Số tiền phạt do chậm trích nộp, chậm tríchtrả được trích từ tài khoản Chi nghiệp vụ để nộp vào ngân sách Nhà nước (loạiV-khoản 116-hạng 4 - thu linh tinh của mục lục ngân sách Nhà nước) nếu là tiềnphạt do chậm trích nộp phạt, hoặc chuyển cho đơn vị được bồi thường, nếu là tiềnphạt do chậm trích trả tiền bồi thường.

IV. TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT CỦA CÁC CÁ NHÂN GÂY RA VI PHẠM HỢPĐỒNG KINH TẾ.

Điều 23 của bản điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế đã quy định; Những các nhân do thiếu tinh thần trách nhiệm để gây ra vụ vi phạm, làm thiệthại đến tài sản Nhà nước, thì tuỳ theo trường hợp nặng, nhẹ sẽ bị xử phạt theomột hoặc cả 3 hình thức sau đây ;

- Bị phạt tiền trừ vào lương; hoặc tiền thưởng cá nhân

- Bị kỷ luật hành chính;

- Bị truy tố về hình sự theo pháp luật hiện hành.

Việc thực hiện cụ thể điều 23 nói trên được tiến hành theo Nghịđịnh số 49-CP ngày 09-04-1968 của Hội đồng Chính Phủ về chế độ trách nhiệmvật chất.

V. TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI KINH TẾ VÀ QUAN HỆ GIỮAHỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI KINH TẾ VỚI CÁC CƠ QUAN TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG TRONG VIỆC THỰCHIỆN CHẾ ĐỘ HỢP ĐỒNG KINH TẾ .

1. Khi nhận được các đơn khiếu nại về việc vi phạm chế độ hợpđồng kinh tế của đơn vị gửi đền, hoặc các thông báo của các cơ quan ngân hàng,tài chính về tình hình các cơ quan, đơn vị vi phạm hợp đồng kinh tế, Hội đồngtrọng tài kinh tế các ngành, các cấp phải tổ chức thẩm tra, nghiên cứu và xét xửkịp thời. Trong quá trình xét xử. Hội đồng trọng tài kinh tế kiến nghị với cơquan quản lý cấp trên hoặc thủ trưởng của đơn vị vi phạm hợp đồng về hình thứcvà mức độ xử phạt đối với cá nhân đó.

2. Hội đồng trọng tài kinh tế trong phạm vi chức năng, quyền hạncủa mình, tổ chức thanh tra việc trì hoãn ký kết hợp đồng kinh tế ở các cơquan, đơn vị và không báo kết quả cho các cơ quan chức năng cùng cấp theo dõiviệc chấp hành hợp đồng kinh tế, phát hiện với các cơ quan có thẩm quyền nhữngsai trái, thiếu sót trong hoạt động kinh tế của các ngành, các cấp, kiến nghịnhững biện pháp để ngăn chặn, sữa chữa, khắc phục những sai trái, thiếu sót đó.

Các cơ quan tài chính, ngân hàng cần kịp thời giải quyết nhữngvấn đề về hợp đồng kinh tế có liên quan đến ngành minh.

Trong quá trình thực hiện những nghiệp vụ, sơ kết, tổng kếtcông tác của ngành, hoặc khi thi hành các quyết định xét xử của Hội đồng trọngtài kinh tế, các cơ quan tài chính, ngân hàng cần phát hiện những vấn đề cóliên quan đến hoạt động của Hội đồng trong tài kinh tế và kiến nghị với Hội đồngtrọng tài kinh tế các biện pháp giải quyết những vấn đề đó.

K.T TỔNG GIÁM ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC

Lê Đức

K.T BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH

THỨ TRƯỞNG

Trịnh Văn Bính

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Nguyễn Quang Xá