VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO-BỘ CÔNG AN-BỘ QUỐC PHÒNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do -Hạnh phúc
********

Số: 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP

Hà Nội, Ngày 07 tháng 9 năm 2005

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

VỀ QUAN HỆ PHỐI HỢP GIỮACƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC THỰC HIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬTTỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003

Để cơ quan điều tra, Viện kiểm sát các cấp thi hành đúng và thốngnhất một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (sau đây viết tắt làBLTTHS) trong giai đoạn điều tra, truy tố, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, BộCông an và Bộ Quốc phòng thống nhất hướng dẫn như sau:

1. Về việc thay đổi hoặc huỷ bỏ cácquyết định không có căn cứ và trái pháp luật cuả Phó Thủ trưởng Cơ quan điềutra (điểm d khoản 1 Điều 34)

1.1. Đối với các quyết định của Phó Thủ tướng Cơ quan điềutra, BLTTHS không quy định phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát mà phát hiệnkhông có căn cứ và trái pháp luật thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết địnhthay đổi hoặc huỷ bỏ. Ngay sau khi ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ, Cơ quanđiều tra phải gửi các quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp và những ngườitham gia tố tụng có liên quan.

1.2. Đối với các quyết định của Phó Thủ trưởng Cơ quan điềutra, BLTTHS quy định phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhưng chưa gửi sangViện kiểm sát mà phát hiện không có căn cứ và trái pháp luật thì Thủ trưởngcơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ. Nếu các quyết định này đãgửi sang Viện kiểm sát, nhưng Viện kiểm sát chưa quyết định việc phê chuẩn thìthủ trưởng Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị Viện kiểm sát để rút các quyếtđịnh này và ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ; nếu không đồng ý thì Viện kiểmsát quyết định việc thay đổi hoặc huỷ bỏ theo quy định tại khoản 5 Điều 112 củaBLTTHS.

1.3. Đối với các quyết định của Phó Thủ trưởng Cơ quan điềutra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn mà phát hiện không có căn cứ và trái phápluật thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cùngcấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ.Ngay sau khi ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định của Phó thủ trưởngCơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để thực hiện.

2.Về việc thay đổi Điều tra viên,Phó Thủ trưởng,Thủ trưởngCơ quan điều tra; Kiểm sat viên, Phó Việntrưởng,Viện trưởng Viện kiểm sát

( Điều 44 và Điều 45)

2.1. Khi phát hiện thấy Điều tra viên thuộc một trong nhữngtrường hợp bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng quy định tại khoản 1Điều 44 của BLTTHS, Kiểm sát viên có quyền đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều traxem xét để thay đổi Điều tra viên hoặc đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cấpmình xem xét để yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên.Trong thời hạn ba ngày, kể từ khi nhận được đề nghị của Kiểm sát viên hoặc vănbản yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, nếu xét thấy có căn cứ thìThủ trưởng Cơ quan điều tra phải ra quyết định thay đổi Điều tra viên; nếu thấykhông có căn cứ thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra viên; nếu thấy không có căn cứthì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do để Viện kiểm sát cùng cấp biết.

Trường hợp thay đổi Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì Thủtrưởng Cơ quan điều tra quyết định phân công Phó Thủ trưởng khác hoặc Thủtrưởng Cơ quan điều tra trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án; đồng thờithông báo việc phân công đó cho Viện kiểm sát cùng cấp.

2.2. Nếu Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp huyện, Thủ trưởngCơ quan điều tra quân sự khu vực, Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủtrưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu bị thay đổi hoặc phải từ chốitiến hành tố tụng thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1Điều 44 của BLTTHS thì căn cứ khoản 2 của Điều này, Cơ quan điều tra đề nghị Việnkiểm sát cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan điều tra cấp trên trựctiếp tiến hành điều tra và Viện kiểm sát báo cáo bằng văn bản việc chuyển vụ ánđó với Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để chỉ đạo thực hành quyềncông tố và kiếm sát điều tra vụ án; nếu Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp trungương bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng thì lãnh đạo Bộ, ngành (BộCông an, Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởngViện kiểm sát quân sự trung ương) quyết định để một Phó Thủ trưởng Cơ quan điềutra tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Quyết định thay đổi Điều tra viên, Phó Thủ trưởng, Thủ trưởngCơ quan điều tra phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và đưa vào hồ sơ vụán.

2.3. Khi phát hiện thấy Kiểm sát viên thuộc một trong nhữngtrường hợp bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng quy định tại Điều 45của BLTTHS, Cơ quan điều tra kiến nghị nêu rõ lý do để Viện kiểm sát cùng cấpxem xét thay đổi Kiểm sát viên. Trong thời hạn ba ngày, kể từ khi nhận đượckiến nghị của Cơ quan điều tra, nếu thấy có căn cứ thì Viện trưởng, Phó Việntrưởng Viện kiểm sát phải ra quyết định thay đổi Kiểm sát viên; nếu thấy khôngcó căn cứ thay đổi Kiểm sát viên thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do để Cơquan điều tra biết.

Trường hợp thay đổi Phó viện trưởng Viện kiểm sát thì Việntrưởng Viện kiểm sát quyết định phân công Phó Viện trưởng khác hoặc Việntrưởng trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án; đồng thời thông báo việc thayđổi, phân công đó cho Cơ quan điều tra cùng cấp.

2.4. Khi có căn cứ bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hànhtố tụng thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 45 của BLTTHSthì Viện trưởng Viện kiểm sát không được tiến hành tố tụng đối với vụ án đó;nếu đã tiến hành thì Viện kiểm sát báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trêntrực tiếp để ra quyết định phân công một Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nơi Việntrưởng bị thay đổi tiến hành tố tụng đối với vụ án và thông báo cho Cơ quanđiều tra đang thụ lý vụ án. Trong trường hợp này Viện kiểm sát cấp trên trựctiếp có trách nhiệm kiểm tra, chỉ đạo Viện kiểm sát nơi đó thực hành quyền côngtố và kiểm sát điều tra vụ án.

Quyết định thay đổi và phân công Kiểm sát viên, Phó Việntrưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát phải được gửi cho Cơ quan điều tra thụ lý vụ ánđể đưa vào hồ sơ vụ án.

3. Về căn cứ hồ sơ bắt người trong trườnghợp khẩn cấp, thủ tục phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp ( Điều 81)

3.1. Chỉ được bắt khẩn cấp khi có đủ tài liệu chứng minh việc bắtkhẩn cấp thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 81 của BLTTHS.Nếu bắt khẩn cấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì trong hồ sơ phảicó tài liệu chứng minh các căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiệntội phạm rất nghiêmk trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Nếu bắt khẩncấp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì trong hồ sơ phải có biên bảnghi lời khai của người bị hại hoặc lời khai của người có mặt tại nơi xảy ra tộiphạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm vàcác tài liệu hoặc căn cứ khác chứng tỏ người đó sẽ bỏ trốn. Nếu bắt khẩn cấptheo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này thì phải thu thập hoặc ghi nhận đượcdấu vết, tài liệu, đồ vật liên quan đến tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở, nơilàm việc của người bị nghi thực hiện tội phạm đó.

Cần lưu ý, để nhận định đúng việc người đó có thể trốn theo quyđịnh tại các điểm b, c khoản 1 Điều 81 của BLTTHS, người có thẩm quyền ra lệnhbắt khẩn cấp và Viện kiểm sát khi xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp phải căn cứvà đánh giá một cách toàn diện về các mặt như: nhân thân người đó (có tiền án,tiền sự, lang thang không có nơi cư trú rõ ràng….), tính chất nghiêm trọng củahành vi phạm tội và loại phạm tội được thực hiện và thực tiễn cho thấy ngườiphạm tội thường trốn như tội trộm cắp, lừa đảo, cướp, giết người, mua bán tráiphép các chất ma tuý…

3.2. Trường hợp uỷ thác bắt khẩn cấp thì ngay sau khi kết thúcviệc bắt khẩn cấp, Cơ quan điều tra được uỷ thác phải thông báo ngay cho Cơ quanđiều tra đã uỷ thác đến nhận người bị bắt và các tài liệu liên quan. Khi đã dẫngiải người bị bắt về đến trụ sở của mình, Cơ quan điều tra thụ lý vụ án phảichuyển ngay hồ sơ kèm theo quyết định uỷ thác việc bắt khẩn cấp cho Viện kiểmsát cùng cấp để xét phê chuẩn.

3.3. Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát xét phê chuẩn lệnh bắt người trongtrường hợp khẩn cấp gồm các tài liệu sau đây:

a. Công văn đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp;

b. Lệnh bắt khẩn cấp, trong đó phải ghi rõ bắt khẩn cấp trong trườnghợp nào theo quy định tại khoản 1 Điều 81;

c. Biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp;

d. Tin báo, tố giác về tội phạm; kiến nghị khởi tố của cơ quanNhà nước;

đ. Các tài liệu liên quan làm căn cứ cho việc quyết định bắt khẩncấp đối với từng trường hợp quy định tại điểm 3.1 của Mục này.

e. Tài liệu về nhân thân người bị bắt;

g. Lời khai của người bị bắt khẩn cấp (nếu có)

h. Bản kê tên các tài liệu trong hồ sơ và từng trang tài liệu đượcđóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra.

3.4. Trong mọi trường hợp thời hạn xét phê chuẩn lệnh bắt khẩncấp của Viện kiểm sát phải thực hiện đúng quy định tại Khoản 4 Điều 81 của BLTTHS.Nếu phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt hoặc trong trường hợp phải xét phêchuẩn nhiều người bị bắt khẩn cấp cùng một thời điểm hoặc vụ việc có nhiều tìnhtiết phức tạp thì thời hạn này cũng không được quá 12 giờ, kể từ khi Viện kiểmsát nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn. Thời hạn 12 giờ xét phê chuẩn đượctính liên tục kể cả trong và ngoài giờ làm việc. Do đó, sau khi đã dẫn giảingười bị bắt về trụ sở của mình, Cơ quan điều tra thụ lý vụ án phải chuyểnngay hồ sơ có đủ các tài liệu quy định tại điểm 3.3 của Mục này cho Viện kiểmsát cùng cấp xét phê chuẩn. Ngày nghỉ hoặc ngoài giờ làm việc hàng ngày, Việnkiểm sát các cấp đều phải cử Kiểm sát viên thường trực tại trụ sở để thực hiệnnhiệm vụ.

3.5. Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp,hỏi người bị bắt trước khi xem xét quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩnlệnh bắt khẩn cấp quy định tại khoản 4 Điều 81 là trường hợp qua nghiên cứu hồsơ thấy có dấu hiệu lạm dụng việc bắt khẩn cấp hoặc tài liệu chứng cứ trong hồsơ bắt khẩn cấp chưa thể hiện rõ căn cứ để bắt khẩn cấp hoặc có mâu thuẫn.

Khi cần gặp, hỏi người bị bắt khẩn cấp, Kiểm sát viên phải thôngbáo trước để Cơ quan điều tra tạo điều kiện cho Kiểm sát viên thực hiện nhiệmvụ hoặc để phối hợp trong quá trình gặp, hỏi người bị bắt.

Biên bản ghi lời khai của người bị bắt do Kiểm sát viên lập phảiđược chuyển cho Cơ quan điều tra để đưa vào hồ sơ vụ án.

4. Những việc phải làm ngay sau khi bắtkhẩn cấp hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp truy nã (Điều 83)

4.1. Căn cứ khoản 1 Điều 83 của BLTTHS, trong thời hạn 24 giờ kểtừ khi đã dẫn giải người bị bắt về đến trụ sở, Cơ quan điều tra thụ lý vụ việcphải lấy lời khai ngay và có quyền ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do chongười bị bắt, không phải chờ Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp. Do đó,trường hợp Cơ quan điều tra trả tự do cho người bị bắt thì thông báo ngay cho Việnkiểm sát để không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp; trường hợp Cơ quan điều tra đãra quyết định tạm giữ nhưng không có căn cứ để phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp thìViện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữvà trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

4.2. Đối với người bị bắt trong trường hợp truy nã, Cơ quan điềutra nhận người bị bắt phải lấy lời khai, lập danh chỉ bản, chụp ảnh người bịbắt và gửi ngay thông báo kèm theo danh chỉ bản, ảnh của người đó cho cơ quanđã ra quyết định truy nã để đến nhận người bị bắt.

Trường hợp xét thấy cơ quan ra quyết định truy nã không thể đếnnhận ngay người bị bắt thì cơ quan diều tra nhận người bị bắt ra quyết định tạmgiữ và gửi ngay quyết định tạm giữ cho Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu cơ quan đãra quyết định truy nã vẫn chưa đến nhận người bị bắt thì chậm nhất trước khi hếtthời hạn tạm giữ 12 giờ, cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải chuyển hồ sơkèm theo Công văn đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp gia hạn tạm giữ đối với ngườibị bắt. Thời hạn gia hạn tạm giữ và việc xét phê chuẩn tạm giữ được thực hiệntheo quy định tại khoản 2 Điều 87 của BLTTHS.

4.3. Sau khi nhận được thông báo kèm theo danh chỉ bản, ảnh ngườibị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải kiểm tra ngay để xác định đúng làngười đang bị truy nã hay không; nếu xác định đúng thì đến ngay Cơ quan điềutra nơi tiếp nhận người bị bắt truy nã để nhận người bị bắt; nếu không đúngphải thông báo lại ngay để Cơ quan điều tra đang giữ người bị bắt trả tự do chohọ. Trường hợp không thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ quan đã ra quyếtđịnh truy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửilệnh tạm giam kèm theo quyết định truy nã cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phêchuẩn.

Trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù trốn khởi nơi giamthì Giám thị trại giam ra quyết định truy nã, tiến hành các hoạt động điều traban đầu và chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để thụ lý vụ án theoquy định tại Điều 23 của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.

Thời hạn Viện kiểm sát xét phê chuẩn lệnh tạm giam đối với cáctrường hợp quy định tại Điểm này không được quá 24 giờ, kể từ khi nhận được đề nghịphê chuẩn để cơ quan ra quyết định truy nã kịp thời gửi lệnh tạm giam kèm theoquyết định phê chuẩn lệnh tạm giam đó cho Cơ quan điều tra nhận người bị bắt.

4.4. Sau khi nhận được lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát phêchuẩn, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt có trách nhiệm giải ngay người bị bắtđến trại tạm giam nơi gần nhất. Việc giao nhận người bị bắt giữa Cơ quan điều travà trại tạm giam; giữa trại tạm giam và cơ quan ra quyết định truy nã phải lậpbiên bản theo quy định tại Điều 95 của BLTTHS. Biên bản ghi lời khai người bịbắt, quyết định tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giữ và quyết định phê chuẩn quyếtđịnh gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam và quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam củaViện kiểm sát, các tài liệu khác có liên quan và biên bản giao nhận người bịbắt phải đưa vào hồ sơ vụ án.

5. Việc phê chuẩn lệnh tạm giam trongtrường hợp người đang bị tạm giữ bị khởi tố bị can (Khoản 3 Điều 88)

5.1. Để đảm bảo trong thời gian Viện kiểm sát xét phê chuẩn lệnhtạm giam đối với người đang bị tạm giữ bị khởi tố bị can vẫn còn trong thời hạntạm giữ thì chậm nhất 12 giờ trước khi hết thời hạn tạm giữ hoặc gia hạn tạm giữ,Cơ quan điều tra phải giao hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can vàđề nghị phê chuẩn lệnh tạm giam bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp. Khi hồ sơ đãchuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp. Khi hồ sơ đã chuyển cho Viện kiểm sát để xétphê chuẩn, nếu có tài liệu bổ sung thì cơ quan điều tra phải chuyển ngay choViện kiểm sát để kịp thời phục vụ cho việc xét phê chuẩn.

Trường hợp này, việc xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đượctiến hành cùng với việc xét phê chuẩn lệnh tạm giam bị can. Nếu chưa đủ căn cứkhởi tố bị can, nhưng có căn cứ gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơquan điều tra gia quyết định gia hạn tạm giữ và gửi ngay cho Viện kiểm sát phêchuẩn. Trong thời hạn gia hạn tạm giữ đó, Cơ quan điều tra phải khẩn trương thuthập, củng cố tài liệu, chứng cứ và chuyển ngay cho Viện kiểm sát để xét phêchuẩn quyết định khởi tố bị can.

Nếu Viện kiểm sát không phê chuẩn thì ra quyết định huỷ bỏ quyếtđịnh khởi tố bị can và yêu cầu Cơ quan điều tra trả tự do ngay cho người bị tạmgiữ. Trường hợp có gia hạn tạm giữ, nếu không phê chuẩn thì Viện kiểm sát raquyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can và ra quyết định trả tự do chongười bị tạm giữ.

Nếu thấy việc khởi tố bị can là có căn cứ, nhưng không cần thiếtphải tạm giam bị can thì Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn quyết định khởitố bị can và ra quyết định không phê chuẩn lệnh tạm giam; nếu xét cần thì yêucầu Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn khác đối với bị can.

5.2. Hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và phêchuẩn lệnh tạm giam trong trường hợp người đang bị tạm giữ bị khởi tố bị can,gồm các tài liệu sau đây:

a) Công văn đề nghị xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can vàđề nghị phê chuẩn lệnh tạm giam bị can;

b) Quyết định tạm giữ,quyết định gia hạn tạm giữ (nếu có); lệnh tạm giữ bị can;

c) Quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can;

d) Biên bản ra quyết định khởitố bị can có chữ ký hoặc điểm chỉ của bị can;

đ) Biên bản lấy lời khai người bị tạm giữ, biên bản hỏi cung bịcan (nếu có)

e) Các tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị can;

g) Các tài liệu về nhân thân bị can;

h) Bản kê tên các tài liệu trong hồ sơ và từng trang tài liệu đượcđóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra.

6. Thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạntạm giam và cách ghi thời hạn trong lệnh tạm giam (Khoản 4 Điều 87)

Căn cứ Khoản 4 Điều 87 của BLTTHS thì trong trường hợp tạm giữvà tạm giam liên tục hoặc không liên tục với nhau, thời hạn tạm giữ đều phải đượctrừ vào thời hạn tạm giam để điều tra. Nếu tạm giam liên tục với tạm giữ thìthời hạn tạm giam được tính tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn tạm giữ, khôngtính trùm thời hạn tạm giam lên thời hạn tạm giữ.

Căn cứ Điều 96 của BLTTHS khi tính thời hạn tạm giữ, tạm giam thìthời hạn hết vào ngày kết thúc thời hạn được ghi trong lệnh. Nếu thời hạn đượctính bằng tháng thì một tháng được tính là ba mươi ngày. Do đó, khi tính thờihạn tạm giữ, tạm giam phải căn cứ vào thời hạn thực tế được ghi trong quyếtđịnh tạm giữ, lệnh tạm giam và tính liên tục cả ngày nghỉ (thứ 7, chủ nhật,ngày lễ, ngày tết) nếu thời hạn tạm giữ, tạm giam trùng vào ngày nghỉ. Mộttháng phải tính theo tháng đủ là ba mươi ngày, không tính ngày theo tháng thiếuhoặc tháng thừa (28 hoặc 31 ngày).

Cách ghi thời hạn trong lệnh tạm giam trong trường hợp trước đóbị can đã bị tạm giữ được thực hiện thống nhất như sau: thời hạn tạm giam đượctính theo ngày, bắt đầu kể từ ngày ra lệnh tạm giam và kết thúc vào ngày củatháng tương ứng khi hết số ngày cần tạm giam (đã trừ đi số ngày tạm giữ).

Ví dụ 1: Nguyễn Văn A bị tạm giữ 3 ngày, từ ngày 01/3 đến ngày04/3/2004, sau đó A bị khởi tố bị can và bị ra lệnh tạm giam 2 tháng, thì thời hạntạm giam thực tế đối với bị can là 1 tháng 27 ngày (đã trừ 3 ngày tạm giữ). Dođó, thời hạn trong lệnh tạm giam ghi là: tạm giam trong thời hạn 57 ngày, kể từngày 04/3/2004 đến ngày 29/4/2004 đối với bị can Nguyễn Văn A.

Ví dụ 2: Trần Thị B bị tạm giữ 6 ngày, từ ngày 05/3/2004 đến ngày10/3/2004 thì được tại ngoại. Sau một tháng, B bị khởi tố bị can và bị bắt đểtạm giam với thời hạn là 2 tháng, thì thời hạn tạm giam thực tế đối với bị canB là 1 tháng và 24 ngày (đã trừ 6 ngày tạm giữ). Do đó, thời hạn trong lệnh tạmgiam ghi là: Tạm giam trong thời hạn 54 ngày, kể từ ngày 11/4/2004 đến 03/6/2004đối với bị can Trần Thị B.

7. Về việc khởi tố và kiểm sát khởi tố vụán hình sự (các Điều 104, 105 và 109)

7.1. Việc thực hiện thẩm quyền khởi tố và kiểm sát khởi tố vụ ánhình sự quy định tại các Điều 104 và 105 của BLTTHS được thực hiện như sau:

Trong thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều 103 của BLTTHS, Cơ quanđiều tra phải kiểm tra, xác minh tin báo, toó giác về tội phạm, kiến nghị khởitố của cơ quan Nhà nước; nếu xác định có dấu hiệu tội phạm xảy ra thì quyếtđịnh khởi tố vụ án hình sự; nếu có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107của BLTTHS thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong thời hạn 24giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, Cơ quanđiều tra phải gửi quyết định đó kèm theo các tài liệu có liên quan cho Việnkiểm sát cùng cấp.

Trong thời hạn 3 ngày, kể từ khi nhận được quyết định khởi tố hoặcquyết định không khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu có liên quan, nếu thấyđủ căn cứ thì Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan điều trabiết; nếu chưa đủ căn cứ thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung tàiliệu, chứng cứ. Trường hợp đủ căn cứ chứng tỏ rằng quyết định khởi tố hoặc quyếtđịnh không khởi tố vụ án hình sự rõ ràng là không có căn cứ thì Viện kiểm sátcó văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ; nếu Cơ quan điều trakhông nhất trí thì Viện kiểm sát căn cứ Khoản 2 Điều 109 của BLTTHS ra quyếtđịnh hủy bỏ.

7.2. Những vụ án về các tội phạm quy định tại Khoản 1 các Điều104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật Hình sự chỉđược ra quyết định khởi tố vụ án khi đã có yêu cầu của người bị hại hoặc của ngườiđại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhượcđiểm về tâm thần hoặc thể chất. Yêu cầu khởi tố của người bị hại hoặc của ngườiđại diện thể hiện bằng đơn yêu cầu có chữ ký hoặc điểm chỉ của họ; nếu người bịhại hoặc người đại diện đến trực tiếp trình bày thì Cơ quan điều tra, Viện kiểmsát phải lập biên bản ghi rõ nội dung yêu cầu khởi tố và yêu cầu họ ký hoặcđiểm chỉ vào biên bản. Biên bản do Viện kiểm sát lập phải được chuyển ngay choCơ quan điều tra để xem xét việc khởi tố vụ án hình sự và đưa vào hồ sơ vụ án.

Nếu ngay sau khi khởi tố vụ án hình sự mà người bị hại hoặc ngườiđại diện của họ rút yêu cầu khởi tố thì Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏquyết định khởi tố vụ án và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp;nếu đang điều tra hoặc đã kết thúc điều tra thì Cơ quan điều tra ra quyết địnhđình chỉ điều tra; nếu đã chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát raquyết định đình chỉ vụ án.

Trong trường hợp xét thấy việc rút yêu khởi tố của người bị hạitrái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì Cơ quan điều tra, Viện kiểmsát vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án theo quy định tại đoạn2 khoản 2 Điều 105 của BLTTHS.

8. Việcthay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự (Điều 106)

8.1. Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởitố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ hoặc không có căn cứ thì Việnkiểm sát có văn bản yêu cầu để Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặcra quyết định hủy bỏ; nếu Cơ quan điều tra không nhất trí và rõ ràng việc thayđổi, bổ sung này không có căn cứ thì Viện kiểm sát căn cứ khoản 5 Điều 112 củaBLTTHS ra quyết định hủy bỏ.

Trường hợp có căn cứ thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụán hình sự, Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định; nếuđã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không nhất trí thì Viện kiểm sát ra quyếtđịnh thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự trong thời hạn 24giờ, kể từ khi ra quyết định phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điềutra theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.

8.2. Chỉ thay đổi quyết định khởi tố vụ án trong trường hợp thayđổi tội danh. Không áp dụng việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án nếu qua điềutra xác định được hành vi của bị can vào tội nặng hơn trong cùng tội danh đãkhởi tố.

Ví dụ: Quyết định khởi tố vụ án trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều138 của Bộ luật Hình sự (tội phạm ít nghiêm trọng), qua điều tra xác định đượchành vi trộm cắp của bị can phạm vào khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự (tộiphạm nghiêm trọng) thì không phải ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụán hình sự đó.

9. Trách nhiệm của Cơ quan điều tra trongviệc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát (Điều 114)

Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện đầy đủ và nhanh chóngcác yêu cầu và quyết định tại các điểm 1, 2 và 3 Điều 112 của BLTTHS. Đối vớicác yêu cầu và quyết định tại các điểm 4, 5 và 6 Điều 112 của BLTTHS, nếu khôngnhất trí, Cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền báo cáo Cơ quanđiều tra cấp trên trực tiếp và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếpxem xét, quyết định; nếu là Cơ quan điều tra ở cấp Trung ương thì kiến nghị vớiViện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sựtrung ương xem xét, quyết định.

Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ khi nhận được kiến nghị củaCơ quan điều tra, nếu nhất trí thì Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp hủy bỏ quyếtđịnh của Viện kiểm sát cấp dưới; nếu không đồng ý thì thông báo bằng văn bảnnêu rõ lý do cho Cơ quan điều tra đã kiến nghị và Viện kiểm sát cấp dưới. Kếtquả giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, quyết định của Viện trưởngViện kiểm sát nhân dân tối cao, của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trungương là quyết định cuối cùng.

10. Về chuyển vụ án để điều tra theo thẩmquyền (Điều 116)

10.1. Căn cứ Điều 116 của BLTTHS thì trong trường hợp vụ án khôngthuộc thẩm quyền điều tra của mình, Cơ quan điều tra phải đề nghị Việnkiểm sát cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyềnđể tiếp tục điều tra. Trường hợp thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của Cơ quanđiều tra cấp mình thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành các thủtục để Viện kiểm sát ra quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan có thẩm quyền. Trongthời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểmsát cùng cấp phải ra quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Nếu phải chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu thì Cơ quan điều tra cấp huyện, cấp khuvực tiến hành các thủ tục để Viện kiểm sát cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khuvực có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quânkhu ra quyết định chuyển vụ án. Nếu vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quanđiều tra quân sự cấp quân khu đề nghị chuyển thì Viện kiểm sát cấp tỉnh , Việnkiểm sát quân sự cấp quân khu ra quyết định chuyển vụ án. Trong thời hạn bangày, kể từ khi nhận được đề nghị chuyển vụ án của Viện kiểm sát cấp huyện,Viện kiểm sát quân sự khu vực hoặc của Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điềutra quân sự cấp quân khu thì Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấpquân khu phải ra quyết định chuyển vụ án.

Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định chuyển vụ án, Việnkiểm sát có thẩm quyền phải gửi ngay quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực, Cơ quan điều tracấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu đã đề nghị chuyển vụ án.

Trong thời hạn hai ngày, kể từ khi nhận được quyết định chuyểnvụ án, Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án có trách nhiệm chuyển ngay hồ sơ và vậtchứng của vụ án đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp tục điều tra. Việcgiao nhận hồ sơ, vật chứng của vụ án phải được lập biên bản theo đúng quy địnhtại Điều 95 của BLTTHS, trong đó phải ghi rõ ngày Cơ quan điều tra có thẩm quyềnnhận hồ sơ, vật chứng của vụ án.

10.2. Theo quy định tại Điều 119 của BLTTHS thì thời hạn điều travụ án hình sự được tính từ ngày Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ áncho đến khi kết thúc điều tra theo thời hạn điều tra đối với từng loại tội phạm.Do đó, thời hạn điều tra đối với vụ án được chuyển để điều tra theo thẩm quyềnđược tính tiếp kể từ khi Cơ quan điều tra có thẩm quyền nhận được hồ sơ vụ áncho đến khi kết thúc điều tra, trừ đi thời gian mà Cơ quan điều tra đề nghịchuyển vụ án đã điều tra.

11.Thay đổi hoặc quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can (Điều 127)

11.1. Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, nếu có căn cứ xácđịnh hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc bị cancòn có hành vi phạm tội khác thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra,Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp có quyền ra quyết định thayđổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, nhưng Viện kiểm sát chỉ thực hiệnthẩm quyền này khi đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện.

Trường hợp thay đổi quyết định khởi tố bị can thì phải ra quyếtđịnh thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự. Ví dụ: thay đổi quyết định khởitố bị can từ tội lạm dụng tín nhiệm sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thìphải thay đổi quyết định khởi tố vụ án về tội lạm dụng tín nhiệm sang tội lừađảo chiếm đoạt tài sản.

Cần lưu ý là không thay đổi quyết định khởi tố bị can trong trừnghợp điều tra xác định được hành vi của bị can phạm vào tội nặng hơn hoặc tộinhẹ hơn trong cùng tội danh đã khởi tố đối với bị can.

11.2. Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát ra quyết định bổ sungquyết định khởi tố bị can trong vụ án đã được khởi tố; nếu bị can còn có hànhvi phạm tội khác mà hành vi đó chưa được khởi tố vụ án thì phải ra quyết địnhkhởi tố vụ án hình sự trước khi ra quyết định khởi tố bị can và xem xét nhậpcác vụ án để điều tra chung theo quy định tại Điều 117 của BLTTHS. Nếu trongquá trình điều tra vụ án mà xác định được bị can thực hiện hành vi phạm tội nàylà để thực hiện hành vi phạm tội khác thì ra quyết định bổ sung quyết định khởitố vụ án hình sự và ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can.

Ví dụ 1: Trong vụ giết người và cướp tài sản, Nguyễn Văn A và TrầnThị B bị khởi tố bị can về hai tội giết người và cướp tài sản, Nguyễn Văn C bịkhởi tố về tội giết người. Qua điều tra xác định được ngoài hành vi giết người,C còn cùng với A và B thực hiện hành vi cướp đã được khởi tố thì phải bổ sungquyết định khởi tố bị can đối với C về hành vi cướp tài sản.

Ví dụ 2: Nguyễn Văn A là bị can trong vụ án trộm cắp, nhưng quađiều tra cho thấy trước đó Nguyễn Văn A còn có hành vi cướp tài sản, trong trườnghợp này A phạm hai tội. Do đó, phải ra quyết định khởi tố vụ án về hành vi cướptài sản, sau đó ra quyết định khởi tố bị can đối với A về tội cướp tài sản vàxem xét để nhập hai vụ án để điều tra theo quy định tại Điều 117 của BLTTHS.

Ví dụ 3: Nguyễn Văn A là bị can trong vụ giết người nhưng qua điềutra cho thấy A thực hiện hành vi giết nạn nhân là nhằm cướp tài sản thì phải raquyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, đồng thời ra quyết định bổ sungquyết định khởi tối bị can đối với A về tội cướp tài sản.

11.3. Việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị cantrong trường hợp bị can có nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng tội danh và trườnghợp bị can phạm nhiều tội khác nhau, được thực hiện như sau:

a. Nếu một người có nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng tội danhthì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can chungcho tất cả các lần phạm tội đó. Ví dụ: Nguyễn Văn A nhiều lần mua bán trái phépchất ma túy thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết địnhkhởi tố bị can đối với A về tội mua bán trái phép các chất ma túy theo điềukhoản tương ứng của Bộ luật hình sự

b. Trường hợp cùng một thời điểm mà một người thực hiện nhiều hànhvi phạm tội khác nhau thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyếtđịnh khởi tố bị can chung trong đó ghi rõ từng tội danh và điều khoản của Bộluật hình sự được áp dụng

Ví dụ 1: Nguyễn Văn A cùng một lúc vừa có hành vi hiếp dâm, liềnsau đó giết nạn nhân để bịt đầu mối thì trong quyết định khởi tố vụ án hình sự,quyết định khởi tố bị can đối với A ghi rõ từng hành vi phạm tội đó là hiếp dâmvà giết người theo điều khoản tương ứng của Bộ luật Hình sự.

Ví dụ 2: Nguyễn Văn A đang thực hiện hành vi trộm cắp thì bị pháthiện và đuổi bắt. Liền ngay sau đó A đã cướp giật chiếc xe đạp của một người điđường làm phương tiện để tẩu thoát. Trường hợp này cũng chỉ ra một quyết địnhkhởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can, trong đó ghi rõ hành vitrộm cắp và cướp giật tài sản theo điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự.

c. Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau nhưngđược phát hiện không cùng một thời điểm thì phải ra quyết định khởi tố vụ án,khởi tố bị can riêng đối với từng hành vi phạm tội đó và tùy từng trường hợp màxem xét để quyết định nhập vụ án theo quy định tại Điều 117 của BLTTHS. Ví dụ:Nguyễn Văn B phạm tội trộm cắp bị bắt quả tang vào ngày 15/8/2005, sau khi điềutra vụ án về vụ trộm cắp được một tháng, Cơ quan điều tra phát hiện được B còncó hành vi cướp tài sản vào ngày 15/7/2005, thì ngoài quyết định khởi tố vụ án,khởi tố bị can về hành vi trộm cắp tài sản, Cơ quan điều tra còn phải ra quyếtđịnh khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can đối với B về hành vi cướp tài sản.

11.4. Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, phát hiệnthấy có người đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố hoặc cócăn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tốhoặc còn hành vi phạm tội khác thì Viện kiểm sát trả hồ sơ và yêu cầu Cơ quanđiều tra ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyếtđịnh khởi tố bị can và tiến hành các hoạt động điều tra theo thủ tục chung. Nếuđã có yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyếtđịnh khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị canvà gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

12. Việc giao nhận và phê chuẩn quyếtđịnh khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can(Khoản 4 và Khoản 6 Điều 126; Khoản 2 và Khoản 3 Điều 127)

12.1. Căn cứ Khoản 4 Điều 126 và Khoản 2 Điều 127 của BLTTHS thìtrong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thayđổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi các quyếtđịnh này kèm theo các tài liệu có liên quan cho Viện kiểm sát cùng cấp để xétphê chuẩn. Đồng thời, căn cứ quy định tại Khoản 6 Điều 126 và Khoản 3 Điều 127của BLTTHS thì Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi tố bị can, quyếtđịnh thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can cho bị can trước khi Việnkiểm sát phê chuẩn. Do đó, Viện kiểm sát có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ vớiCơ quan điều tra để việc xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết địnhthay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can được nhanh chóng, kịp thời phúcđáp yêu cầu điều tra.

Trường hợp không thể giao ngay các quyết định này cho bị can nhưtrường hợp bắt bị can tại ngoại để tạm giam hoặc phải khám xét chỗ ở, nơi làmviệc của bị can; bị can trốn; bị can tại ngoại do không triệu tập hoặc gặp ngayđược,... thì sau khi có quyết định phê chuẩn của viện kiểm sát cùng cấp, Cơquan điều tra phải giao ngay các quyết định đó (cả quyết định của Cơ quan điềutra và quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát) cho người bị khởi tố

Việc giao nhận quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặcbổ sung quyết định khởi tố bị can và quyết định phê chuẩn các quyết định nàycủa Viện kiểm sát phải được thực hiện theo đúng quy định tại Khoản 6 Điều 126,Khoản 3 Điều 127 của BLTTHS.

12.2. Sau khi Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định khởi tố bịcan, cơ quan điều tra phải chụp ảnh, lập danh chỉ bản của bị can và đưa vào hồ sơvụ án. Đối với bị can chốn thì việc chụp ảnh, lập danh chỉ bản của bị can phảiđược thực hiện ngay sau khi bắt được bị can.

12.3. Thời hạn xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết địnhthay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can phải được thực hiện theo quyđịnh tại Khoản 4 Điều 126, Khoản 2 Điều 127 của BLTTHS. Trường hợp xét tiêu chuẩnquyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì thời hạn này khôngquá 12 giờ, kể từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can và các tài liệu cóliên quan. Do đó, chậm nhất trước khi hết hạn tạm giữ hoặc ra hạn tạm giữ 12 giờCơ quan điều tra phải ra hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị cancho Viện kiểm sát cùng cấp.

12.4. Trong trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp hỏi cung bị canhoặc lấy lời khai người làm chứng, người bị hại để làm rõ căn cứ của việc khởi tốbị can trước khi ra quyết định phê chuẩn thì biên bản ghi lời khai của những ngườinày phải được chuyển cho Cơ quan điều tra để đưa vào hồ sơ vụ án. Việc giaonhận các tài liệu đó giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra cùng cấp phải đượclập biên bản theo quy định tại Điều 95 của BLTTHS.

13. Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát xét phêchuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết địnhkhởi tố bị can.

Hồ sơ gồm các tài liệu sau đây:

a. Công văn đề nghị xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyếtđịnh thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can;

b. Quyết định khởi tố vụ án,quyết định thay đổi hoặc bổ sung khởi tố vụ án;

c. Quyết định khởi tố bị can,quyết định thay đổi hoặc bổ sung khởi tố bị can;

d. Biên bản giao quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổihoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can cho bị can, trừ các trường hợp quy địnhtại Điểm 12.1 Mục 12 Thông tư này;

đ. Các tài liệu làm căn cứ khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyếtđịnh khởi tố bị can;

e. Biên bản ghi lời khai của người bị nghi thực hiện tội phạm,biên bản hỏi cung bị can (nếu có);

g. Lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, người làm chứng,người bị hại (nếu có);

h. Bản kê tên các tài liệu trong hồ sơ và từng trang tài liệu đượcđóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra.

14. Viện kiểm sát thực hiện thẩm quyềntiến hành một số hoạt động điều tra khi cần thiết (Điều 112)

Các hoạt động điều tra mà BộLuật quy định cho Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành khi cần thiết quy định tạiKhoản 2 Điều 112 của BLTTHS gồm hỏi cung bị can, lấy lời khai, đối chất, thựcnghiệm điều tra và được thực hiện như sau:

14.1. Trong quá trình điều tra, khi có yêu cầu của Cơ quan điềutra hoặc qua kiểm sát việc hỏi cung phát hiện thấy bị can kêu oan, lời khai củabị can trước sau không thống nhất lúc nhận tội, lúc không nhận tội; bị can cókhiếu nại về việc điều tra, có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực của lời khaibị can; trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểmsát có thể trực tiếp gặp, hỏi cung bị can. Khi cần hỏi cung, Viện kiểm sát phảibáo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng và thông báo trước cho Thủ trưởng, Phó Thủtrưởng Cơ quan điều tra.

Sau khi nhận hồ sơ vụ án, nếu có nghi ngờ về tài liệu, chứng cứ;các chứng cứ quan trọng của vụ án có mâu thuẫn; trường hợp vụ án đặc biệt nghiêmtrọng, có nhiều tình tiết phức tạp khó thống nhất về tính chất vụ án hoặc đểcủng cố tài liệu chứng cứ phục vụ cho việc truy tố, thì Kiểm sát viên có thểtrực tiếp hỏi cung bị can.

Trường hợp bị can đang bị tạm giam, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởngCơ quan điều tra có trách nhiệm phối hợp với Giám thị trại tạm giam, Trưởng nhàtạm giữ nơi bị can đang bị tạm giam để tạo điều kiện cho Kiểm sát viên thực hiệnviệc hỏi cung bị can. Trường hợp Kiểm sát viên hỏi cung bị can thì phải thựchiện theo đúng quy định tại các Điều 131 và 132 của BLTTHS.

14.2. Trong quá trình điều tra, để đảm bảo việc xét phê chuẩn cácquyết định của Cơ quan điều tra được chính xác, Kiểm sát viên có thể triệu tậpvà lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dânsự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Trước khi lấy lời khai,Kiểm sát viên thông báo trước cho Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều travề thời gian, địa điểm tiến hành việc lấy lời khai của những người này.

Khi kết thúc điều tra, hồ sơ đã chuyển sang Viện kiểm sát mà xétthấy cần bổ sung tài liệu, chứng cứ, Kiểm sát viên có thể triệu tập và lấy lờikhai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan quan đến vụ án. Việc triệu tập, lấy lời khai củanhững người này phải được tiến hành theo quy định tại các Điều 133, 135 và 136của BLTTHS.

14.3. Trong quá trình kiểm sát điều tra, nếu thấy có mâu thuẫntrong lời khai của bị can, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bịđơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, Kiểm sát viên phảiyêu cầu Điều tra viên tiến hành đối chất.

Kiểm sát viên chỉ tiến hành đối chất trong trường hợp có yêu cầucủa Cơ quan điều tra hoặc thấy việc đối chất của Điều tra viên chưa làm rõ đượcmâu thuẫn. Khi cần phải đối chất Kiểm sát viên phải thông báo trước với Điềutra viên và thực hiện việc đối chất theo đúng quy định tại Điều 138 BLTTHS.

Trong giai đoạn truy tố, nếu thấy có mâu thuẫn trong lời khai củanhững người tham gia tố tụng thì Kiểm sát viên có thể tiến hành đối chất để làmrõ mâu thuẫn đó mà không phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổsung.

14.4. Trong quá trình điều tra, nếu thấy cần thực nghiệm điều trađể kiểm tra mâu thuẫn giữa lời khai của bị can, của những người tham gia tố tụngkhác với thực tế khách quan thì Viện kiểm sát yêu cầu để Cơ quan điều tra tiếnhành thực nghiệm điều tra.

Trong giai đoạn truy tố, xét thấy cần thực nghiệm những tình huốngđiều tra đơn giản mà qua thực nghiệm tại chỗ có thể kết luận được để kiểm trachứng cứ, không phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát trực tiếptiến hành. Việc thực nghiệm điều tra của Viện kiểm sát phải có người chứng kiếnvà lập biên bản theo đúng quy định tại Điều 95 của BLTTHS. Trường hợp cần dựnglại hiện trường hoặc thực nghiệm điều tra tại hiện trường thì trả hồ sơ và nêurõ yêu cầu để Cơ quan điều tra tiến hành.

Biên bản tiến hành một số hoạt động điều tra của Viện kiểm sátquy định tại Mục này phải đưa vào hồ sơ vụ án.

15. Kiểm sát viên đề ra yêu cầu điều tratrong quá trình điều tra.

15.1. Kiểm sát viên phải kịp thời trao đổi với Điều tra viên đượcphân công điều tra vụ án về những vấn đề cần điều tra ngay từ khi kiểm sát việckhởi tố vụ án, khám nghiệm hiện trường và trong quá trình điều tra, bảo đảmphối hợp để Cơ quan điều tra nhanh chóng thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứcủa vụ án.

Kiểm sát viên có thể trực tiếp đề ra yêu cầu điều tra bằng lờitrong quá trình kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám xét, hỏi cung bị can, lấylời khai người làm chứng, người bị hại, đối chất, thực nghiệm điều tra. Đối vớicác trường hợp khác khi đề ra yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên phải có văn bảnnêu rõ những vấn đề cần điều tra để củng cố chứng cứ hoặc để làm rõ những tìnhtiết liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự được quyđịnh tại Điều 63 của BLTTHS. Đối với những vụ án trọng điểm, phức tạp thì Kiểmsát viên phải xin ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sáttrước khi ký văn bản yêu cầu điều tra.

15.2. Điều tra viên được phân công điều tra vụ án phải nghiên cứuđể tiến hành điều tra những vấn đề mà Kiểm sát viên yêu cầu; nếu thấy cần thì traođổi với Kiểm sát viên để làm rõ nội dung những yêu cầu đó. Trường hợp khôngnhất trí thì Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra;Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát để thống nhấtviệc chỉ đạo điều tra. Trường hợp Cơ quan điều tra không thực hiện những yêucầu điều tra của Viện kiểm sát thì nêu rõ lý do trong Bản kết luận điều tra,khắc phục việc Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung dẫn đến việc giảiquyết vụ án bị kéo dài.

16. Việc sử dụng lệnh tạm giam của Cơquan điều tra trong giai đoạn truy tố (Điều 166)

16.1. Trường hợp chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp mà cònthời hạn tạm giam bị can thì Cơ quan điều tra phải thông báo cho Giám thị trạitạm giam, Trưởng nhà tạm giữ nơi bị can đang bị tạm giam biết để tạo điều kiệncho Kiểm sát viên thi hành nhiệm vụ hỏi cung bị can.

16.2. Ngay sau khi nhận hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải kiểm trathời hạn tạm giam bị can để báo cáo Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sátquyết định như sau:

a. Nếu thời hạn tạm giam còn và bằng hoặc dài hơn thời hạn truytố đối với từng tội phạm quy định tại Khoản 1 Điều 166 của BLTTHS và xét thấycần phải tiếp tục tạm giam bị can thì Viện kiểm sát sử dụng lệnh tạm giam củaCơ quan điều tra mà không cần ra lệnh tạm giam mới.

b. Nếu thời hạn tạm giam còn nhưng không đủ để hoàn thành việctruy tố thì trước khi hết hạn tạm giam 5 ngày, Kiểm sát viên phải báo cáo để Việntrưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát ra lệnh tạm giam mới. Thời hạn tạm giammới được tính theo ngày tạm giam cuối cùng ghi trong lịch tạm giam của Cơ quanđiều tra và không được quá thời hạn truy tố đối với từng tội phạm quy định tạiKhoản 1 Điều 166 của BLTTHS (trừ đi thời hạn đã tạm giam kể từ ngày Viện kiểmsát nhận hồ sơ vụ án). Sau khi Viện kiểm sát ra lệnh tạm giam mới phải chuyểnngay cho Giám thị trại tạm giam, Trưởng nhà tạm giữ nơi bị can đang bị tạm giam.

Ví dụ: ngày 01/02/2004, Viện kiểm sát nhận hồ sơ vụ án đề nghịtruy tố bị can A về tội phạm nghiêm trọng và A đang bị tạm giam theo lệnh tạm giamcủa Cơ quan điều tra đến hết ngày 15/02/2004. Xét thấy cần thiết tiếp tục tạmgiam bị can thì ngày 10/02/2004, Kiểm sát viên phải báo cáo để Viện trưởng hoặcPhó Viện trưởng ra lệnh tạm giam mới kể từ ngày 16/02/2004. Thời hạn tạm giamnày không được quá 15 ngày (30 ngày là thời hạn truy tố đối với tội phạm nghiêmtrọng trừ đi 15 ngày bị can đã bị tạm giam theo lệnh tạm giam trước đó, kể từngày 01/02/2004 là ngày Viện kiểm sát nhận hồ sơ vụ án).

17. Việc sử dụng lệnh tạm giam trongtrường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi còn thời hạn tạm giam và việc tạmgiam bị can khi chuyển vụ án để điều tra, truy tố theo thẩm quyền.

17.1. Trường hợp Viện kiểm sát trả lại hồ sơ để điều tra bổ sungmà còn thời hạn tạm giam (lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra hoặc lệnh tạm giamcủa Viện kiểm sát) thì Cơ quan điều tra tiếp tục sử dụng lệnh tạm giam đó màkhông phải ra lệnh tạm giam mới; Nếu thời hạn tạm giam còn lại không đủ để kếtthúc việc điều tra bổ sung và xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị can thì trước khihết hạn tạm giam 5 ngày, Cơ quan điều tra ra lệnh tạm giam mới và gửi lệnh tạmgiam đó cho Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Thời hạn tạm giam khi trong lệnhtạm giam mới được tính tiếp theo ngày tạm giam cuối cùng của lệnh tạm giamtrước đó và không được quá thời hạn tạm giam bổ sung quy định tại Khoản 2 Điều121 của BLTTHS (trừ đi thời hạn mà Cơ quan điều tra đã sử dụng để tạm giam bịcan theo lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra).

17.2. Trường hợp chuyển vụ án để điều tra, truy tố theo thẩm quyền(chuyển ngang cấp, cấp dưới chuyển lên cấp trên, cấp trên chuyển cấp dưới hoặcchuyển cho cơ quan khác có thẩm quyền) thì việc tạm giam bị can thuộc thẩm quyềncủa nơi nhận thụ lý vụ án và được thực hiện như sau:

a. Nếu còn thời hạn tạm giam để điều tra theo lệnh tạm giam hoặclệnh ra hạn tạm giam của nơi chuyển vụ án và xét thấy cần tiếp tục tạm giam thìnơi nhận thụ lý vụ án tiếp tục sử dụng lệnh tạm giam hoặc lệnh ra hạn tạm giamcủa nơi chuyển vụ án mà không phải ra lệnh tạm giam mới. Nếu thời hạn tạm giamcòn lại không đủ để kết thúc điều tra và xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị canthì trước khi hết thời hạn đó 5 ngày, Cơ quan điều tra nơi nhận thụ lý vụ án cóvăn bản đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp ra hạn tạm giam. Thời hạn tạm giam ghitrong lệnh ra hạn tạm giam được tính tiếp theo ngày tạm giam cuối cùng của lệnhtạm giam hoặc lệnh ra hạn tạm giam của nơi chuyển vụ án. Thời hạn tạm giam tốiđa đối với bị can của nơi nhận thụ lý vụ án không được quá thời hạn tạm giamđối với từng tội phạm quy định tại Điều 120 của BLTTHS (phải trừ đi thời hạntạm giam được ghi trong lệnh của nơi chuyển vụ án).

b. Nếu còn thời hạn tạm giam để truy tố theo lệnh tạm giam hoặclệnh gia hạn tạm giam của nơi chuyển vụ án và xét thấy cần tiếp tục tạm giamthì nơi nhận thụ lý vụ án tiếp tục sử dụng lệnh tạm giam hoặc lệnh gia hạn tạmgiam của nơi chuyển vụ án mà không phải ra lệnh tạm giam mới. Nếu thời hạn tạmgiam còn lại không đủ để hoàn thành việc truy tố và xét thấy cần tiếp tục tạmgiam bị can thì trước khi hết thời hạn đó năm ngày, Kiểm sát viên Viện kiểm sátnơi nhận thụ lý vụ án phải báo cáo để Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra lệnh tạmgiam mới đối với bị can. Thời hạn tạm giam ghi trong lệnh tạm giam mới được tínhtiếp theo ngày tạm giam cuối cùng trong lệnh tạm giam của nơi chuyển vụ án vàkhông được quá thời hạn truy tố đối với từng tội phạm qui định tại khoản 1 Điều166 của BLTTHS (phải trừ đi thời hạn đã sử dụng theo lệnh tạm giam của nơi chuyểnvụ án).

18. Cách tính thời hạn tố tụng trongtrường hợp bị can phạm vào tội nặng hơn, điều tra bổ sung về một tội phạm khác.

18.1. Trường hợp đang điều tra vụ án xác định được bị can phạmvào tội nặng hơn nhưng trong cùng một điều luật với tội đang điều tra, kể cả trườnghợp thay đổi tội danh sang tội nặng hơn ở điều luật khác, thì thời hạn điều tracủa vụ án được tính theo tội nặng hơn nhưng phải trừ thời hạn đã điều tra trướcđó, bảo đảm đúng thời hạn điều tra đối với từng tội phạm theo qui định tại Điều119 của BLTTHS. Thời hạn tạm giam đối với bị can cũng được tính theo tội nặng hơn,nhưng phải trừ thời hạn đã tạm giam bị can, bảo đảm đúng thời hạn tạm giam đốivới từng tội phạm qui định tại Điều 120 của BLTTHS.

Ví dụ1: đang điều tra vụ án trộm cắp thuộc loại tội phạm ít nghiêmtrọng theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự thì xác định hành vi trộm cắpcủa bị can thuộc loại tội nghiêm trọng theo khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hìnhsự; do đó, thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam bị can trong vụ án trộm cắp nàyđược tính theo tội phạm nghiêm trọng và phải trừ thời gian đã điều tra, đã tạmgiam trước đó.

Ví dụ 2: đang điều tra vụ án về tội cố ý gây thương tích theo Điều105 của Bộ luật hình sự thì thay đổi quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởitố bị can sang tội giết người theo Điều 93 của Bộ luật hình sự; do đó, thời hạnđiều tra, thời hạn tạm giam bị can được tính theo tội giết người và phải trừthời gian đã điều tra, đã tạm giam bị can về tội cố ý gây thương tích trước đó.

18.2. Trường hợp đang điều tra vụ án mà lại khởi tố điều tra bổsung về một tội phạm khác thì việc điều tra đối với các hành vi phạm tội trongvụ án được thực hiện đồng thời và thời hạn điều tra được tính tiếp kể từ khi raquyết định khởi tố đối với hành vi phạm tội sau cho đến khi kết thúc điều trađối với tất cả các hành vi phạm tội theo qui định tại Điều 119 của BLTTHS.

Thời hạn tạm giam bị can trong trường hợp này được áp dụng theotừng tội phạm. Nếu hết thời hạn tạm giam bị can (kể cả đã gia hạn) hoặc bị cankhông bị tạm giam về tội phạm khởi tố trước mà xét cần tạm giam để điều tra vềtội phạm được khởi tố sau thì ra lệnh tạm giam bị can về tội phạm đó theo quiđịnh tại Điều 120 của BLTTHS.

Ví dụ: đang điều tra vụ án trộm cắp thuộc loại tội ít nghiêm trọngđược hai tháng, sau đó khởi tố bổ sung để điều tra bị can này về tội lừa đảochiếm đoạt tài sản cũng thuộc loại tội ít nghiêm trọng thì thời hạn điều trachung của vụ án được tính tiếp, kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án về tộilừa đảo đó. Nếu bị can chưa bị tạm giam hoặc hết thời hạn tạm giam về tội trộmcắp (kể cả đã gia hạn) mà xét cần tiếp tục tạm giam thì ra lệnh tạm giam bị canvề tội lừa đảo.

19. Về đình chỉ điều tra (Điều 164)

19.1. Trong quá trình điều tra xác định đủ căn cứ đình chỉ điềutra bị can về hành vi nào đã bị khởi tố thì Cơ quan điều tra ra quyết định đìnhchỉ điều tra bị can đối với hành vi đó. Trước khi ra quyết định đình chỉ điềutra, Điều tra viên phải phối hợp với Kiểm sát viên rà soát lại các chứng cứ vàcác căn cứ đình chỉ điều tra; nếu thấy không đủ căn cứ để đình chỉ điều tra thìCơ quan điều tra tiếp tục điều tra; nếu thấy đủ căn cứ truy tố thì Cơ quan điềutra làm kết luận điều tra đề nghị truy tố bị can.

19.2. Trường hợp bị can đang bị tạm giam thì chậm nhất là năm ngàytrước khi ra quyết định đình chỉ điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đềnghị Viện kiểm sát huỷ bỏ biện pháp tạm giam để trả tự do ngay cho bị can.Trong thời hạn ba ngày kể từ khi nhận được đề nghị của Cơ quan điều tra, Việnkiểm sát cùng cấp phải xem xét để quyết định việc huỷ bỏ biện pháp tạm giam;nếu có căn cứ thì ra quyết định huỷ bỏ biện pháp tạm giam, nếu không có căn cứthì thông báo bằng văn bản ghi rõ lý do và yêu cầu Cơ quan điều tra tiếp tụcđiều tra; nếu đủ căn cứ để truy tố thì yêu cầu Cơ quan điều tra làm bản kết luậnđiều tra đề nghị truy tố bị can.

19.3. Trường hợp Cơ quan điều tra đã làm bản kết luận điều trađề nghị truy tố nhưng hồ sơ chưa chuyển sang Viện kiểm sát và những người cóliên quan, nếu qua kiểm sát việc kết thúc điều tra Kiểm sát viên thấy có đủ căncứ đình chỉ điều tra thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cóý kiến để Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra cùng cấp làm lại bản kết luậnđiều tra và ra quyết định đình chỉ điều tra.

20. Việc đóng dấu và đánh bút lục hồ sơvụ án trong giai đoạn điều tra, truy tố

20.1. Việc đóng dấu bút lục các tài liệu trong hồ sơ vụ án trướckhi kết thúc điều tra được thực hiện như sau:

Hồ sơ bắt khẩn cấp, hồ sơ khởi tố vụ án, hồ sơ khởi tố bị can vàcác hồ sơ khác trong quá trình điều tra không đánh số bút lục theo thứ tự ngaytừ đầu do liên quan đến sắp xếp hồ sơ sau khi kết thúc điều tra. Do đó, để tránhxảy ra mất mát, thất lạc thì từng trang tài liệu trong các hồ sơ này phải đượcđóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra và kèm theo bản kê đầy đủ tên tài liệu,số trang từng tài liệu và lưu trong hồ sơ vụ án. Nếu các hồ sơ gửi Viện kiểmsát xét phê chuẩn, thì sau khi kết thúc việc phê chuẩn, các tài liệu trực tiếpliên quan đến quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn phải đượcđóng dấu bút lục của Viện kiểm sát.

20.2. Việc đánh số bút lục trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điềutra được thực hiện như sau:

a. Trong quá trình khởi tố, điều tra, tài liệu của Cơ quan điềutra hoặc do Viện kiểm sát thu thập đều phải đưa vào hồ sơ vụ án theo đúng trìnhtự tố tụng khởi tố, điều tra vụ án. Sau khi kết thúc điều tra, các tài liệutrong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thống nhất đánh số thứ tự (bút lục) mộtlần (không được tẩy xoá đánh đi đánh lại nhiều lần) và lập bảng thống kê đầy đủcác tài liệu có trong hồ sơ vụ án từ 01 cho đến hết.

b. Sau khi đã nhận hồ sơ vụ án, những tài liệu do Viện kiểm sátthu thập ở giai đoạn truy tố phải được đưa vào hồ sơ vụ án và đánh số thứ tựtiếp theo số tài liệu trong hồ sơ do Cơ quan điều tra chuyển sang; không đượcthay đổi thứ tự bút lục trong hồ sơ vụ án.

21. Thủ tục giao nhận hồ sơ và vật chứnggiữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát

21.1. Khi chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra cầnkiểm tra lại hồ sơ và vật chứng vụ án, bảo đảm hồ sơ có đủ tài liệu đã liệt kê,đủ và đúng vật chứng của vụ án. Cơ quan điều tra trực tiếp giao hồ sơ cho Việnkiểm sát cùng cấp. Khi Cơ quan điều tra giao hồ sơ, người nhận hồ sơ phải đốichiếu bảng kê tài liệu với các tài liệu có trong hồ sơ, nếu đủ và đúng thủ tụcthì ký nhận, nếu không đủ thì chưa nhận. Ngay sau khi nhận hồ sơ, Viện kiểm sátphải vào sổ thụ lý và ghi ngày nhận hồ sơ vào bìa hồ sơ (góc trên bên trái).

Trường hợp Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung cũng phảigiao trực tiếp và Cơ quan điều tra ghi việc trả lại hồ sơ vào sổ thụ lý củamình, ngày chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra và ngày thụ lý lại cũng được ghivào bìa hồ sơ.

21.2. Thủ tục giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Việnkiểm sát được thực hiện như sau:

a. Vật chứng đi kèm hồ sơ vụ án được chuyển giao cùng hồ sơ vụán. Vật chứng đi kèm hồ sơ là những vật chứng có thể đưa vào hồ sơ vụ án như sécgiả, bằng giả ..., những vật chứng gọn nhẹ dễ vận chuyển và bảo quản (con dao,con dấu, cái búa ...) và không thuộc trường hợp qui định tại các điểm b, c, dkhoản 2 Điều 75 của BLTTHS. Khi Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung thìkhông phải bàn giao lại vật chứng, trừ trường hợp Cơ quan điều tra có yêu cầu.Khi giao nhận lại vật chứng phải lập biên bản có chữ ký của bên giao, bên nhậnvà được đưa vào hồ sơ vụ án.

b. Trường hợp vật chứng được bảo quản tại kho của Cơ quan Côngan hoặc tại kho của Cơ quan điều tra trong Quân đội thì khi ra quyết định truy tố,Viện kiểm sát ra quyết định chuyển vật chứng từ kho vật chứng của Cơ quan Côngan hoặc từ kho của Cơ quan điều tra trong Quân đội sang kho vật chứng của cơquan thi hành án, đồng thời thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án cùngcấp. Trong thời hạn 2 ngày, kể từ khi nhận được quyết định chuyển vật chứng, cơquan Công an hoặc Cơ quan điều tra trong Quân đội quản lý vật chứng có tráchnhiệm bàn giao vật chứng đó cho cơ quan thi hành án cùng cấp và chuyển biên bảngiao nhận vật chứng giữa hai cơ quan cho Viện kiểm sát để đưa vào hồ sơ vụ án.

22. Việc thực hiện một số quy định trongThông tư này của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

22.1. Trường hợp cấp trưởng của cơ quan được giao nhận nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và tráipháp luật của cấp phó, thay đổi cấp phó trong việc điều tra vụ án hình sự thìđược thực hiện theo qui định tại Mục 1, 2 của Thông tư này.

22.2. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điềutra, sau khi ra quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án,áp dụng biện pháp ngăn chặn theo thẩm quyền phải gửi ngay các quyết định đó choViện kiểm sát có thẩm quyền truy tố để giải quyết theo qui định tại các Mục 3và 4 của Thông tư này. Trường hợp huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sựcủa cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thì Viện kiểmsát có thẩm quyền truy tố ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và yêu cầu cơquan đó chuyển toàn bộ tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyềnđể tiến hành điều tra.

22.3. Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấpcủa người qui định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 81 của BLTTHS và việc xét phêchuẩn quyết định khởi tố bị can của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm đượcgiao tiến hành một số hoạt động điều tra được thực hiện theo qui định tại Mục 3và 7 của Thông tư này.

22.4. Việc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra đóng dấu bút lục, đánh số bút lục hồ sơ vụ án và chuyển giao hồ sơ,vật chứng của vụ án cho Viện kiểm sát hoặc cho Cơ quan điều tra có thẩm quyềnđược thực hiện theo qui định tại Mục 20 và 21 của thông tư này.

23. Hiệu lực của Thông tư

Thông tư liên tịch này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngàyđăng Công báo. Những hướng dẫn trước đây của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, BộCông an và Bộ Quốc phòng trái với những hướng dẫn tại Thông tư này đều bãi bỏ.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc chưa được hướngdẫn, cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung thì đề nghị phản ánh cho Việnkiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng để có sự giải thích hoặchướng dẫn bổ sung kịp thời.

KT. VIỆN TRƯỞNG-VIỆN KSNDTC
PHÓ VIỆN TRƯỞNG




Trần Thu

KT. BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN
THỨ TRƯỞNG
THƯỢNG TƯỚNG




Lê Thế Tiệm

KT. BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG
THỨ TRƯỞNG
THƯỢNG TƯỚNG




Nguyễn Văn Được