TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO – VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO – BỘ TƯ PHÁP
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: / 2015/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

(DỰ THẢO 3)

Chỉnh lý ngày 06-10-2015

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

HƯỚNG DẪN THIHÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Để thi hành đúng và thống nhất các quy địnhcủa Luật hôn nhân và gia đình được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam thông qua ngày 19/6/2014 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 (sau đây gọi tắtlà Luật Hôn nhân và gia đình), Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởngViện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liêntịch hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư liên tịch này hướng dẫn thi hành một sốquy định của Luật hôn nhân và gia đình về xử lý kết hôn trái pháp luật (Điều11); thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu (Điều 50); nguyên tắcgiải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn (Điều 59).

Điều 2. Về căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật

Khi giải quyết yêu cầu xử lý việc kết hôn tráipháp luật, Tòa án phải căn cứ vào điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8, khoản2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình để xem xét, quyết định xử lý việc kếthôn trái pháp luật và lưu ý một số điểm như sau:

1. “Nam từ đủ20tuổi trở lên, nữ từđủ 18 tuổi trở lên” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình là trườnghợp nam đã đủ hai mươi tuổi tròn trở lên, nữ đã đủ mười tám tuổi tròntrở lên.

Ví dụ: Chị B sinh ngày 10-01-1997; đếnngày 08-01-2015 chị B đăng ký kết hôn với anh A tại Ủy ban nhân dân xã X. Tạithời điểm đăng ký kết hôn chị B chưa đủ 18 tuổi tròn (ngày chị B đủ 18 tuổitròn là ngày 10-01-2015), như vậy, chị B đã đủ tuổi kết hôn theo quy định tạikhoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nhưng ngày chị B đăng ký kếthôn Luật Hôn nhân gia đình đã có hiệu lực (ngày 01-01-2015); do đó, chị B đã viphạm điều kiện về tuổi kết hôn quy định tại điểm akhoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình.

2. “Việc kết hôn donam và nữ tự nguyện quyết định” quy địnhtại điểm b khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình là trường hợp nam nữtự do quyết định việc kết hôn và việc kết hôn hoàn toàn xuất phát từ ý chí củahọ. (không bị áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăncản)

3. “Lừa dối kết hôn”quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 LuậtHôn nhân và gia đình là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểusai lệch và kết hôn trái vớiý muốn của họ.

Ví dụ: Anh A biết mình bị nhiễm HIV nhưng cố tìnhgiấu không cho bị B biết dẫn tới chị B tin anh A là người bình thường và quyếtđịnh kết hôn với anh A.

4. “Người đang có vợ hoặc có chồngquyđịnh tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình là người thuộc mộttrong các trường hợp sau đây:

a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật vềhôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn;

b) Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn;

5. “Chung sống như vợ chồng với người kháchoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng vớingười đang có chồng, có vợquy định tạiđiểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình là việc nam, nữ tổ chức sốngchung và coi nhau là vợ chồng và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

b) Việc họ về chung sống với nhau được gia đình(một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;

c) Việc họ về chung sống với nhau được người kháchay tổ chức chứng kiến;

d) Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc,giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhaunhư vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhauđược gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống vớinhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chungsống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

6. Việc xác định "thời điểm cả hai bênkết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn" quy định tại khoản 2 Điều 11Luật Hôn nhân phải căn cứ vào quy định của pháp luật. Tòa án yêu cầu đương sựxác định và cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh để xác định thời điểm cảhai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình.

Ví dụ: Trường hợpkết hôn khi một bên bị cưỡng ép kết hôn, hoặc bị lừa dối kết hôn là vi phạmđiều kiện kết hôn quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 và điểm d khoản 1 Điều 8Luật Hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, nếu sau khi bị cưỡng ép kết hôn, hoặc bịlừa dối kết hôn mà bên bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn đã biết, nhưngđã thông cảm, tiếp tục chung sống hoà thuận thì thời điểm đủ điều kiện kết hônlà thời điểm đương sự xác định và cũng cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bên bịcưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn đã biết mình bị cưỡng ép, lừa dối kết hônnhưng vấn tiếp tục sống chung như vợ chồng.

Điều 3. Thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 10 Luật Hôn nhân và giađình có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật. Kèm theo đơn yêucầu hoặc trong quá trình giải quyết, người yêu cầu phải nộp Giấy chứng nhậnđăng ký kết hôn hoặc giấy tờ, tài liệu khác chứng minh đã đăng ký kết hôn; tàiliệu, chứng cứ chứng minh việc kết hôn vi phạm một hoặc các điều kiện kết hônquy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình.

Trường hợp vợ chồng có đăng ký kếthôn nhưng không cung cấp được giấy chứng nhận kết hôn do thất lạc, hư hỏng thìphải có xác nhận của Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc cơ quan có thẩm quyền cấpgiấy chứng nhận kết hôn. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền không xác nhận đượcdo thay đổi nơi cư trú, do không có hồ sơ lưu trữ... thì căn cứ vào các tàiliệu, chứng cứ để chứng minh họ có quan hệ vợ chồng và họ đã có đăng ký kết hôn.

2. Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theoquy định tại khoản 6 Điều 3 và Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình khi việc kếthôn đó đã được đăng ký tại đúng cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan có thẩm quyềnđăng ký kết hôn được xác định theo quy định của pháp luật hộ tịch, pháp luậthôn nhân và gia đình.

Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn tại đúng cơ quan có thẩm quyền đăngký kết hôn mà có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật thì thực hiệntheo hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư liên tịch này.

Trường hợp việc kết hôn đó chưa được đăng ký tại đúng cơ quan có thẩmquyền; hoặc trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không cóđăng ký kết hôn mà có yêu cầu Tòa án giải quyết thì thực hiện theo hướng dẫntại khoản 3 và khoản 4 Điều này.

3. Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn nhưng việc đăng ký kết hôn khôngđúng thẩm quyền (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không)mà có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn tráipháp luật; hoặc yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố khôngcông nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụđối với con; tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16của Luật Hôn nhân và gia đình.

4. Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợchồng không đủ điều kiện kết hôn và không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật; hoặc yêu cầu ly hônthì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng các Điều 9 và Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quanhệ hôn nhân giữa họ. Nếu cóyêu cầu Tòa án giải quyết về quyền,nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 vàĐiều 16 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Điều 4. Xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái phápluật

1. Khi xem xét, giải quyết yêu cầu có liên quanđến việc hủy kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu của cácđương sự và điều kiện kết hôn, điều kiện công nhận quan hệ hôn nhân quy địnhtại Điều 8 và Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình để có quyết định chính xác.

2. Trường hợp tại thời điểm kết hôn, haibên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hônquy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau:

a) Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòaán công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhânđó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn.

Ví dụ 1: Anh A sinh ngày 25-01-1996; chị B sinh ngày 10-01-1995. Ngày08-01-2015 anh A và chị B đăng ký kết hôn. Ngày 25-9-2016 Tòa án mở phiên họpgiải quyết việc hủy kết hôn trái pháp luật. Tại phiên họp, anh A và chị B đềuyêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các điều kiện kết hônkhác thì Tòa án xem xét công nhận quan hệ hôn nhân của anh A và chị B kể từthời điểm cả anh A và chị B đủ tuổi kết hôn; tức là kể từ ngày 25-01-2016.

Ví dụ 2: Anh A và chị B đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 05-7-2009 và chưa lyhôn. Ngày 10-5-2012, anh A lại kết hôn với chị C. Ngày 12-6-2014 chị B chết.Ngày 15-5-2015, Tòa án mở phiên họp giải quyết việc hủy kết hôn trái pháp luậtgiữa anh A và chị C. Tại phiên họp, anh A và chị C đều yêu cầu công nhận quanhệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các điều kiện kết hôn khác thì Tòa án xem xétcông nhận quan hệ hôn nhân của anh A và chị C kể từ thời điểm chị B chết; tứclà ngày 12-6-2014.

Ví dụ 3: Ngày 27-5-2009 chị A bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dânsự. Ngày 30-9-2009 chị A kết hôn với anh B. Ngày 12-8-2012, Tòa án quyết địnhhủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự của chị A. Ngày12-2-2015, Tòa án mở phiên họp giải quyết việc hủy kết hôn trái pháp luật. Tạiphiên họp, chị A và anh B đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, nếu xét thấyđã đủ các điều kiện kết hôn khác thì Tòa án xem xét công nhận quan hệ hôn nhâncủa chị A và anh B kể từ thời điểm chị A không còn bị mất năng lực hành vi dânsự nữa, tức là kể từ ngày 12-8-2012.

b) Nếu một hoặc hai bên có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật; hoặcchỉ có một bên có yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, yêu cầu lyhôn thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trường hợp cótranh chấp, yêu cầu thì quyền, nghĩavụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến thời điểm chấm dứt việc kết hôntrái pháp luật được giải quyết theoquy định tại Điều 12 của Luật Hôn nhân và gia đình.

c)Trường hợp vợ chồng cùng có yêu cầu Toà án cho ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn. Trường hợp này, quyền,nghĩa vụ của cha, mẹ, con từ thời điểm kết hôn đến thời điểm ly hôn được giảiquyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từthời điểm kết hôn đến trước thời điểm đủ điều kiện kết hôn được giải quyết theoquy định tại Điều 16 của Luật Hôn nhân và gia đình; quan hệ tài sản, nghĩavụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn đến thời điểmchấm dứt hôn nhân được giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật Hôn nhânvà gia đình.

3. Trường hợp vợ chồng đã đăng ký kết hôn nhưngtại thời điểm Tòa án giải quyết hai bên kết hôn vẫn không có đủ các điều kiệnkết hôn quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý nhưsau:

a) Nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án quyết địnhhủy việc kết hôn trái pháp luật.

b) Nếu có một hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhậnquan hệ hôn nhân thì Tòa án bác yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của họ vàquyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Khi Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật, bác yêu cầu côngnhận quan hệ hôn nhân đó thì áp dụng quy định tại Điều 12 Luật Hôn nhân và giađình để giải quyết quyền, nghĩa vụ của họ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuậnkhác.

4. Khi xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật Tòa án phải căn cứvào quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực tại thời điểm xáclập quan hệ hôn nhân để xác định việc kết hôn có trái pháp luật hay không.Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu xử lý việc kết hôn trái pháp luật được ápdụng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự cóhiệu lực tại thời điểm giải quyết. Lưu ý yêu cầu hủy việc kết hôn trái phápluật nếu thuộc trường hợp cán bộ và bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc từ năm1954, đã có vợ, có chồng ở miền Nam mà lấy vợ, lấy chồng ở miền Bắc thì vẫn xửlý theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Toà án nhân dân tối cao "Hướngdẫn giải quyết các trường hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết ra Bắc mà lấyvợ, lấy chồng khác".

Điều 5. Thủ tục xem xét thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây,theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bốthỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do thỏa thuận chế độ tài sảncủa vợ chồng thuộc trường hợp quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 50 LuậtHôn nhân và gia đình:

a) Vợ, chồng hoặc vợ chồng đã thỏathuận về chế độ tài sản;

b) Người bị xâm phạm quyền và lợi íchhợp pháp do có thỏa thuận chế độ tài sản vợ chồng.

c) Cơ quan quản lý nhà nước về giađình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ trong trường hợpcần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ có liên quan đến thỏathuận chế độ tài sản của vợ, chồng.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết yêucầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng vô hiệu được thựchiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

3. Trường hợp Tòa án thụ lý và đanggiải quyết vụ việc dân sự có liên quan đến nội dung thỏa thuận về chế độ tàisản của vợ chồng mà có yêu cầu Tòa án xem xét thỏa thuận chế độ tài sản của vợchồng vô hiệu thì Tòa án phải xem xét, quyết định nội dung thỏa thuận về chế độtài sản của vợ chồng có liên quan đến tài sản tranh chấp có bị vô hiệu haykhông. Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu một phầnhoặc toàn bộ thì Tòa án phải tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồngvô hiệu một phần hoặc toàn bộ để làm cơ sở giải quyết quyền, nghĩa vụ của cácbên.

Ví dụ: Anh A và chị B trước khi kếthôn có lập văn bản xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận, văn bản thỏa thuậncó người làm chứng, nhưng không được công chứng, chứng thực. Trong văn bản thỏathuận đã xác định quyền sử dụng đất là tài sản riêng của anh A trước khi kếthôn sẽ là tài sản chung của vợ chồng sau khi kết hôn. Trước khi kết hôn anh Acó thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên cho Ngân hàng C. Do đến hạn Anh A khôngtrả được nợ nên Ngân hàng C yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đấtnhưng anh A không đồng ý và cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng mà khôngphải tài sản riêng của anh. Ngân hàng C đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu anh Atrả nợ, yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng anh A, chị Bvà yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử đất của anh A. Trường hợp này Tòaán phải xác định thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu dokhông được công chứng, chứng thực vi phạm Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình vàĐiều 122 của Bộ luật dân sự để giải quyết quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng C và vợchồng anh A, chị B.

Điều 6. Xác định thỏa thuận về chế độtài sản của vợ chồng vô hiệu

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản củavợ chồng có thể bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc một phần.

a) Trường hợp thỏa thuận về chế độtài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì chế độ tài sản củavợ chồng theo luật định được áp dụng.

b) Trường hợp thỏa thuận về chế độtài sản của vợ chồng bị tuyên bố vô hiệu một phần thì các nội dung của thỏathuận về chế độ tài sản không bị vô hiệu vẫn áp dụng; phần nội dung của thỏathuận chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì áp dụng các quy định tương ứngvề chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.

2. Tòa án ra quyết định tuyên bố thỏathuận chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thi thuộc trong các trường hợp quyđịnh tại khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình và lưu ý một số trường hợpsau đây:

a) “Vi phạm một trong các quy địnhtại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này” là trường hợp vi phạm một trongcác nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ,chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; quy định về giao dịchliên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng; quy định về giao dịch vớingười thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoánvà động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sởhữu, quyền sử dụng.

a1) “Nhu cầu thiết yếu của giađình” quy định tại Điều 29 và Điều 30 của Luật Hôn nhân và gia đình là nhucầu thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinhhoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi gia đình.

a2) “Đảm bảo chỗ ở cho vợ chồng”quy định tại Điều 31 của Luật Hôn nhân và gia đình là quyền của vợ, chồng đượcđảm bảo chỗ ở tối thiểu về diện tích, điều kiện sinh hoạt, an toàn, vệ sinh môitrường theo quy định của pháp luật về nhà ở khi giao dịch liên quan đến nhà ởlà tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng mà nhà ở đó là nơi ở duy nhất củavợ, chồng. Trường hợp vợ chồng ly hôn mà vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thìđược quyền lưu cư trong thời hạn 06tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏathuận khác(Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình).

b) “Nội dung của thỏa thuận viphạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợiích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình” quyđịnh tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật HNGĐ là trường hợp thỏa thuận để trốn tránhnghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại các Điều từ 110 đến Điều 115 Luật HNGĐ; để tướcbỏ quyền thừa kế của những ngườithừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự;vi phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thànhviên khác của gia đình là vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con vàcác thành viên khác của gia đình mà các quyền này đã được Luật Hôn nhân và giađình và quy định pháp luật khác ghi nhận.

Ví dụ 1: vợ chồng thỏa thuận không cấpdưỡng cho con chưa thành niên trong trường hợp ly hôn là vi phạm nghiêm trọngquyền được cấp dưỡng của con chưa thành niên. Vợ chồng thỏa thuận không cho con bị mất năng lựchành vi dân sự hưởng di sản thừa kế là vi phạm quyền được thừa kế của con bị mấtnăng lực hành vi dân sự không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Ví dụ 2: vợ chồng thỏa thuận về chếđộ tài sản của vợ chồng là mọi tài sản của con được tặng, cho riêng phải đượcnhập vào tài sản chung của vợ, chồng là vi phạm nghiêm trọng quyền quản lý, địnhđoạt tài sản riêng của con từ đủ 15 tuổi trở lên quy định tại Điều 76 và Điều77 Luật Hôn nhân và gia đình.

Điều 7. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợchồng khi ly hôn

1. Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận vớinhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợpvợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu, thì Tòa án phải xem xét, quyếtđịnh việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luậtđịnh, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:

a) Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chếđộ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồngbị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì Tòa án áp dụng chế độ tài sản của vợchồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

b) Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tàisản của vợ chồng và văn bản này không bị vô hiệu thì áp dụng các nội dung củathỏa thuận đó để chia tài sản khi ly hôn. Những vấn đề không được vợ chồng thỏathuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy địnhtương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 59 Luật Hônnhân và gia đình và các điều 60, 61, 62 và 64 của Luật Hôn nhân và gia đình để chia tài sản của vợchồng khi ly hôn.

2. Khi giải quyết ly hôn nếu có yêu cầu tuyên bốthỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vô hiệu thì Tòa án xem xét, giảiquyết đồng thời với yêu cầu chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

3. Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồngtheo luật định khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc đượcchia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợchồng được chia:

a) “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng”là tình trạng về kinh tế; về sức khỏe; về tài sản; về khả năng lao động tạo rathu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn sẽđược chia nhiều hơn nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế để tiếptục duy trì cuộc sống.

b) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việctạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tàisản, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập,duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóccon, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương vớithu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Vợ,chồng được hưởng phần tài sản tươngxứng với công sức đóng góp vào khối tài sản chung.Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

c) “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bêntrong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục laođộng tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải tạo điều kiệnđể vợ, chồng đang hoạt độngnghề nghiệp được tiếp tục hành nghề để tạo thu nhập; phải đảm bảo cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinhdoanh thì tiếp tục được sản xuất, kinhdoanhvà phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch màhọ được hưởng.Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệpkhông được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưathành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

Ví dụ: vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ôtô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóangười vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng thì khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung Tòa án phải xem xét tạo điềukiện để giao cửa hàng tạp hóa để người vợ tiếp tục hoạt động kinh doanh tạp hóavà giao xe ô tô cho người chồng để tiếp tục chạy taxi tạo thu nhập. Người chồngnhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phần được hưởng phải thanh toán chongười vợ phần giá trị tài sản người vợchưa được hưởng là 100 triệu đồng.

d) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩavụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm các quyền, nghĩa vụ củavợ chồng đã được Luật Hôn nhân và gia đình quy định làm cho hôn nhân lâm vàotình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhânkhông đạt được quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào mức độ lỗi củacác bên để xác định phần tài sản được hưởng tương xứng; bên nào có lỗi sẽ được chia phần tài sản ít hơn sovới bên không có lỗi; các bên cùng có lỗi thì sẽ được chia phần tài sản tươngứng với tỷ lệ lỗi.

d1) “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng”là hôn nhân thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chămsóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợhoặc người chồng;

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hànhhạ nhau, như thường xuyên đánh;

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quanhệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫntiếp tục có quan hệ ngoại tình.

d2) “Đời sống chung không thể kéo dài” quyđịnh tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đìnhlà tình trạng hiệntại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm d1 khoản 3 Điềunày. Trường hợp thực tế đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tụccó quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếptục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau được coi là đời sống chung củavợ chồng không thể kéo dài được.

d3) “Mục đích của hôn nhân không đạt được”quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đìnhlà trường hợp không còn tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụvà quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ,chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; khônggiúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lựcgia đình hoặc có hành vi ngoại tình thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xemxét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảoquyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

4. Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sảnriêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyếtsơ thẩm vụ việc.

5. Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa ánphải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chồng, vợ, con chưa thànhniên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng laođộng và không có tài sản để tự nuôi mình.

Ví dụ: Khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗở duy nhất của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòaán xem xét và quyết định cho người vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con chưa thànhniên, con bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanhtoán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc vợ nếungười vợ hoặc chồng có yêu cầu.

Điều 8. Hiệu lực thi hành

1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực kể từngày tháng năm 2015.

2. Đối với những vụ việc hôn nhân và gia đình đãđược Tòa án thụ lý trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực, nhưng kể từngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mới xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốcthẩm, tái thẩm thì áp dụng Thông tư liên tịch này để giải quyết.

Điều 9. Việc giải thích, hướng dẫn bổ sungThông tư liên tịch

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc cầnđược giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung thì Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhândân các địa phương, các cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh với Tòa án nhân dântối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp để có giải thích, hướng dẫnbổ sung kịp thời./.

KT. CHÁNH ÁN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ CHÁNH ÁN




Tống Anh Hào

KT. VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ VIỆN TRƯỞNG




Nguyễn Thị Thủy Khiêm

KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ TƯ PHÁP
THỨ TRƯỞNG




Đinh Trung Tụng