1. Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân ?

Bài viết trình bày một cách ngắn gọn nhưng khá cụ thể về điều kiện để tổ chức, cơ sở tôn giáo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích mà họ đang sử dụng hợp pháp. Bên cạnh đó, bài viết còn nêu trình tự, thủ tục để họ thực hiện quyền của mình.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

1. Điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

a) Đối với tổ chức

Theo quy định tại Điều 102 Luật đất đai năm 2013, để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tổ chức phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Tổ chức đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần diện tích đất sử dụng đúng mục đích.

- Phần diện tích đất mà tổ chức đang sử dụng nhưng không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được giải quyết như sau:

+ Nhà nước thu hồi phần diện tích đất không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, cho mượn, cho thuê trái pháp luật, diện tích đất để bị lấn, bị chiếm;

+ Tổ chức phải bàn giao phần diện tích đã sử dụng làm đất ở cho Ủy ban nhân dân cấp huyện để quản lý; trường hợp đất ở phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì người sử dụng đất ở được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp doanh nghiệp nhà nước sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối đã được Nhà nước giao đất mà doanh nghiệp đó cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng một phần quỹ đất làm đất ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì phải lập phương án bố trí lại diện tích đất ở thành khu dân cư trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất phê duyệt trước khi bàn giao cho địa phương quản lý.

Như vậy, để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tổ chức đang sử dụng đất phải sử dụng phần diện tích đó đúng mục đíh sử dụng.

b) Đối với cộng đồng dân cư

Điều kiện của đối tượng này được quy định tại khoản 4 Điều 102 Luật đất đai 2013, cụ thể như sau:

4. Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Được Nhà nước cho phép hoạt động;

b) Không có tranh chấp;

c) Không phải là đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho sau ngày 01 tháng 7 năm 2004.

2. Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

a) Đối với tổ chức

Theo quy định tại Điều 25 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, tổ chức trong nước được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo trình tự sau:

- Tổ chức trong nước đang sử dụng đất mà chưa được cấp Giấy chứng nhận phải tự rà soát, kê khai hiện trạng sử dụng đất và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất.

- Trên cơ sở báo cáo hiện trạng sử dụng đất của tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất kiểm tra thực tế sử dụng đất. Nếu diện tích đất của tổ chức đang sử dụng đúng mục đích thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hình thức sử dụng đất theo quy định của pháp luật và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

b) Đối với cơ sở tôn giáo

Theo quy định tại Điều 28 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo được thực hiện như sau:

- Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất có chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động mà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải tự rà soát, kê khai việc sử dụng đất và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo các nội dung sau đây:

+ Tổng diện tích đất đang sử dụng;

+ Diện tích đất cơ sở tôn giáo phân theo từng nguồn gốc: Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao; nhận chuyển nhượng; nhận tặng cho; mượn của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; tự tạo lập; nguồn gốc khác;

+ Diện tích đất mà cơ sở tôn giáo đã cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mượn, ở nhờ, thuê;

+ Diện tích đất đã bị người khác lấn, chiếm.

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất kiểm tra thực tế, xác định ranh giới cụ thể của thửa đất và quyết định xử lý theo quy định sau đây:

+ Diện tích đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất của cơ sở tôn giáo và tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó để giải quyết nhằm bảo đảm quyền lợi về sử dụng đất của các bên phù hợp với thực tế;

+ Diện tích đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì giải quyết như đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân mượn đất, thuê đất của hộ gia đình, cá nhân khác theo quy định của pháp luật đất đai;

+ Diện tích đất mở rộng cơ sở tôn giáo mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; bị lấn, bị chiếm; đang có tranh chấp thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết dứt điểm theo quy định của pháp luật.

- Diện tích đất của cơ sở tôn giáo sau khi đã xử lý và có đủ điều kiện thì cơ sở tôn giáo được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất với thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Tư vấn về việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

Chào luật sư công ty Luật Minh Khuê. Luật sư cho tôi xin hỏi: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tôi bị mất năm 2010 và có quyết định huỷ của quận. Giấy CNQSDĐ cấp năm 1990. Nhưng tôi đã xin được cấp lại nhưng do trên phần đất này là đất nông nghiệp là 10.000 m nhưng lại có công trình nhà xương hết 2.000 m, và phần này lại thuộc quy hoạch cây xanh nên không cho tôi xin cấp lại.
Vậy đất nhà tôi có được cấp lại giấy chứng nhận không? Nếu chỉ cấp lại giấy phần không có nhà xưởng có được không? Còn phần còn lại nếu có tranh chấp tôi không có giấy chứng nhận thì có bị thu hồi đất không?
Mong luật sư tư vấn dùm tôi. Cám ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn Luật Đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp của bạn, bạn không trình bày cụ thể cho đến thời điểm yêu cầu cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì gia đình bạn có nhận được quyết định thu hồi đất hay không. Bởi theo quy định của pháp luật đất đai, cụ thể tại điểm k khoản 1 Điều 99 Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội thì:

"Điều 99. Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;

b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;

c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;

d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;

e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;

k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất."

Như vậy, theo quy định tại Điểm k khoản 1 Điều luật trên thì khi người sử dụng đất đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận bị mất thì cơ quan có thẩm quyền phải cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bạn. Hơn nữa, tại Điều 19, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định về các trường hợp không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì:

"Điều 19. Các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1. Tổ chức, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất để quản lý thuộc các trường hợp quy định tại Điều 8 của Luật Đất đai.

2. Người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

3. Người thuê, thuê lại đất của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

4. Người nhận khoán đất trong các nông trường, lâm trường, doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng.

5. Người đang sử dụng đất không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

6. Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

7. Tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp xã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình công cộng gồm đường giao thông, công trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khí; đường dây truyền tải điện, truyền dẫn thông tin; khu vui chơi giải trí ngoài trời; nghĩa trang, nghĩa địa không nhằm mục đích kinh doanh."

Như vậy, dựa trên quy định tại khoản 1, khoản 6 Điều luật trên, thì chỉ khi phần đất nông nghiệp mà gia đình bạn trước đây được ghi nhận quyền sử dụng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc diện quy hoạch, mà sau đó có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì phần đất này mới không được cấp lại sổ đỏ, mà gia đình bạn chỉ được cấp sổ đỏ với phần đất không có trong quyết định thu hồi. Còn trong trường hợp cho đến thời điểm này, gia đình bạn vẫn chưa nhận được quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì gia đình bạn vẫn có quyền sử dụng phần đất trên và cơ quan tài nguyên môi trường phải có trách nhiệm cấp lại giấy chứng nhận với toàn bộ phần đất mà gia đình bạn được ghi nhận trên hồ sơ địa chính trước đây. Theo đó, thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT như sau:

"2. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng do bị mất gồm có:

a) Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận theo Mẫu số 10/ĐK;

b) Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy trong thời gian 15 ngày đối với hộ gia đình và cá nhân; ....; trường hợp mất Giấy chứng nhận do thiên tai, hỏa hoạn phải có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thiên tai, hỏa hoạn đó."

Hồ sơ trên gia đình bạn nộp cho Văn phòng Đăng ký đất đai cấp huyện, thời hạn là 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ thì cơ quan này có trách nhiệm phải giải quyết cho gia đình bạn.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn thủ tục mua bán, chuyển nhượng đất đai, nhà ở

3. Chính sách về cấp, đổi giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất ?

Đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam, đất đai có vai trò vô cùng quan trọng với cuộc sống của người dân (nhất là đối với người nông dân). Chính vì vậy, việc đăng ký quyền sử dụng đất và được đứng tên chủ sử dụng trong GCNQSDĐ thu hút sự quan tâm đặc biệt của mọi tầng lớp dân cư.

1. Tầm quan trọng của hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN

Ở quốc gia mà tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” tồn tại trong một thời gian dài và “ăn sâu, bám rễ” trong tâm thức của một bộ phận không nhỏ người dân thì việc người đàn ông (người chồng) đứng tên chủ sở hữu tài sản nói chung và đứng tên trong GCNQSDĐ của vợ, chồng nói riêng được coi như lẽ đương nhiên. Do đó, Luật đất đai quy định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng khi cấp GCNQSDĐ phải ghi rõ cả họ, tên vợ và họ, tên chồng và việc triển khai thí điểm cấp đổi GCN ở một số địa phương được coi là một cuộc cách mạng không chỉ tấn công trực diện vào quan niệm phong kiến lạc hậu mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người đàn ông có tên trong GCN. Việc làm này đã vấp phải không ít những khó khăn, trở ngại bởi sự không đồng thuận hoặc sự chống đối của một bộ phận nam giới mang nặng tư tưởng phân biệt, kỳ thị đối với phụ nữ. Đặt trong bối cảnh đó, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN có vị trí hết sức quan trọng. Đây là hoạt động phải được triển khai trước tiên trước khi tiến hành các hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ tiếp theo về cấp đổi GCN. Vai trò của hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN được thể hiện trên các khía cạnh chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, tác động làm thay đổi nhận thức của người dân về bình đẳng giới trong sử dụng đất nói chung và trong cấp GCNQSDĐ nói riêng; phê phán quan niệm phong kiến lạc hậu và lên án mọi sự kỳ thị, phân biệt đối xử giữa nam và nữ. Trên cơ sở đó, xây dựng quan niệm đúng đắn về sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong việc tiếp cận các quyền của người sử dụng đất.

Thứ hai, góp phần đề cao sự bình đẳng nam, nữ trong xã hội Việt Nam nói chung và trong việc tiếp cận sử dụng đất đai nói riêng. Hơn nữa, hoạt động này còn tạo ra sự đồng thuận xã hội trong việc bảo vệ quyền của phụ nữ đối với tài sản là nhà, đất. Ở khía cạnh khác, phụ nữ là lực lượng lao động chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp. Khi họ được bình đẳng với nam giới về quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất đai sẽ tạo ra động lực tích cực giúp phụ nữ hăng say sản xuất góp phần đáng kể vào quá trình đẩy nhanh tỷ lệ giảm đói, nghèo ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Tuyên truyền chính sách, phát luật về công tác cấp, đổi giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất ghi tên một người sang ghi tên vợ và chồng

Luật sư tư vấn luật Đất đai trực tuyến qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Thứ ba, thông qua hoạt động truyền thông giúp phụ nữ nâng cao nhận thức về quyền bình đẳng nam, nữ trong sử dụng đất đai và khi nhận thức được nâng cao, chị em sẽ tìm ra các biện pháp để tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Đối với nam giới, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN sẽ giúp họ có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình và xã hội. Trên cơ sở đó, nam giới sẽ có những hành động thiết thực góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ trong sử dụng đất đai.

Thứ tư, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN sẽ tạo ra hiệu quả xã hội vô cùng to lớn góp phần thay đổi tư tưởng phong kiến lạc hậu “trọng nam, khinh nữ” tồn tại hàng trăm năm nay ở khu vực nông thôn. Quyền bình đẳng giới trong sử dụng đất đai được nâng cao và được tôn trọng sẽ góp phần đẩy lùi từng bước nạn bạo hành, ngược đãi, phân biệt đối xử đối với phụ nữ; các mâu thuẫn, xung đột trong gia đình được giải quyết ổn thỏa trên cơ sở có sự bàn bạc nhất trí, đồng thuận của hai vợ chồng. Gia đình là tế bào của xã hội. Khi các mối quan hệ trong gia đình được củng cố, duy trì trong sự tôn trọng, yêu thương, chia sẻ, bình đẳng giữa các thành viên sẽ tạo nền móng rất vững chắc để duy trì sự ổn định xã hội.

Thứ năm, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN là một hoạt động có ý nghĩa xã hội vô cùng to lớn. Bởi lẽ, cấp đổi GCN là một vấn đề rất nhạy cảm; nó đụng chạm trực tiếp đến quyền lợi của mọi thành viên trong xã hội. Vì vậy, hoạt động này thu hút sự quan tâm của mọi người dân. Hơn nữa, với tư cách là các tổ chức quần chúng thành lập trên cơ sở tự nguyện, thượng tôn pháp luật và bảo vệ quyền lợi của hội viên; Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và các tổ chức thành viên khác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không thể đứng ngoài hoạt động này. Hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN đã thu hút sự tham gia tích cực và tạo điều kiện phát huy vai trò của các đoàn thể quần chúng trong việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho hội viên về quyền bình đẳng nam, nữ trong cấp đổi GCN.

Với ý nghĩa xã hội, kinh tế to lớn, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN đã nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, sự tổ chức triển khai thực hiện của chính quyền các cấp góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh” do Đảng ta đề ra.

Thứ sáu, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN là nhằm tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng về quyền bình đẳng nam, nữ trong xã hội nói chung và quyền bình đẳng nam, nữ trong sử dụng đất đai nói riêng. Nó cũng là hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức về Luật đất đai cho nhân dân. Nhận thức và thực hiện tốt việc cấp đổi GCN chính là việc góp phần đưa các nội dung của Luật đất đai nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng trong việc tạo lập cơ sở pháp lý bảo vệ quyền về tài sản của công dân.

2. Kinh nghiệm tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN

Từ việc nghiên cứu thực tiễn hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN, có thể rút ra một số kinh nghiệm bổ ích sau đây:

Thứ nhất, muốn thay đổi quan niệm phong kiến lạc hậu về sự bất bình đẳng nam, nữ trong sử dụng đất đai trong việc cấp GCNQSDĐ chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng, chúng ta cần chỉ ra những hạn chế và hậu quả tiêu cực của quan niệm này đối với đời sống xã hội. Hoạt động tuyên truyền phải làm cho người dân hiểu và nhận thức được tại sao lại phải thực hiện việc cấp đổi GCN. Để làm được việc này, cán bộ tuyên truyền cần tập trung truyền thông cho người dân nhận thức rõ những hậu quả pháp lý tiêu cực, những rủi ro cho một bên vợ hoặc chồng không được đứng tên trong GCNQSDĐ như: họ có thể bị tước mất quyền sử dụng đất; gặp khó khăn trong việc thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn phát triển sản xuất; họ sẽ bị rơi vào tình trạng bất bình đẳng so với bên vợ hoặc chồng có tên trong GCNQSDĐ trong việc định đoạt, để thừa kế tài sản nhà, đất; GCNQSDĐ cấp cho hộ gia đình chỉ ghi tên chủ hộ không thực sự tạo điều kiện cho những thành viên khác trong gia đình thực hiện các quyền do pháp luật quy định và tạo ra sự phân biệt đối với phụ nữ hoặc người chồng không có tên trong GCNQSDĐ. Vai trò của người không có tên trong GCNQSDĐ thường bị xem nhẹ hơn.

Thứ hai, để tạo sự đồng thuận của người dân trong việc thực hiện cấp đổi GCN, hoạt động tuyên truyền cần hướng vào việc phân tích những ích lợi của việc phụ nữ và nam giới cùng đứng tên trong GCNQSDĐ. Theo đó, việc cấp đổi GCN ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực như: tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo đảm quyền cho cả người vợ và người chồng cùng được hưởng quyền và lợi ích ngang nhau trong việc sử dụng diện tích đất chung (cùng được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao; cùng được hưởng quyền lợi khi Nhà nước bồi thường trong trường hợp bị thu hồi đất…). Việc cấp đổi GCN ghi tên vợ và chồng sẽ bảo đảm cho họ cùng có quyền quyết định ngang nhau khi thực hiện các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất. Hơn nữa, nó bảo đảm cho quyền lợi của mỗi bên (đặc biệt đối với phụ nữ) đối với diện tích đất chung khi vợ, chồng ly hôn hoặc để thừa kế quyền sử dụng đất. Đây sẽ là cơ sở pháp lý ràng buộc trách nhiệm ngang nhau giữa vợ và chồng trong việc thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, để nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN và thu hút sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, cán bộ tuyên truyền cần sự dụng nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, bao gồm: 1) Mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn về chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý nhà nước về đất đai các cấp từ tỉnh, huyện, xã; các lớp bồi dưỡng về kiến thức pháp luật và kỹ năng tuyên truyền cho Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn, Trưởng bản, ấp; người đứng đầu các đoàn thể quần chúng ở cơ sở. 2) Tiến hành các đợt tuyên truyền lưu động, các buổi tuyên truyền mẫu về chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN ở cơ sở. 3) Thực hiện tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN thông qua việc biên soạn tờ rơi, tài liệu, sách cẩm nang, băng, đĩa phản ánh thực tế kết quả thực hiện thí điểm việc cấp đổi GCN ở các địa phương cũng như kinh nghiệm tổ chức thực hiện. 4) Thực hiện tuyên truyền thông qua đội ngũ tuyên truyền viên ở xã, thôn, ấp, bản, đội ngũ các nhà sư, các cha đạo, già làng, trưởng bản, trưởng họ… (các đối tượng này được tập huấn, bồi dưỡng về kiến thức pháp luật về cấp đổi GCN và kỹ năng tuyên truyền). 5) Xây dựng kế hoạch, nội dung, cung cấp băng đĩa, tài liệu, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ về tuyên truyền cho đội ngũ tuyên truyền viên để họ thực hiện việc tuyên truyền thông qua hệ thống đài phát thanh, đài truyền hình địa phương. Ngoài ra, hoạt động tuyên truyền về chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN còn được thực hiện thông qua việc lồng ghép các hoạt động sinh hoạt cộng đồng, các buổi họp thôn, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ, các buổi họp của các đoàn thể quần chúng ở cơ sở.

Thực tế cho thấy, muốn người dân tin tưởng và làm theo thì hoạt động tuyên truyền phải dựa trên những ví dụ, kết quả thực tế sinh động. Đồng bào phải được “mắt thấy, tai nghe” mới thực sự bị thuyết phục. Vì vậy, thông qua hệ thống băng đĩa, cán bộ tuyên truyền cần chuyển tải những kết quả, những kinh nghiệm thực tế của một số địa phương đã thực hiện việc cấp đổi GCN cũng như ý kiến, đánh giá, nhận xét của cán bộ trung ương, tỉnh, huyện, xã, thôn và người dân về ích lợi của việc cấp đổi GCN.

Thứ tư, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN không thể thực hiện được nếu thiếu sự phối hợp chặt chẽ, sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Bộ Tài nguyên và môi trường, sự phối kết hợp triển khai của các Sở Tài nguyên và môi trường, các Phòng Tài nguyên và môi trường ở các địa phương vì đây là các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai trực tiếp tổ chức chỉ đạo, triển khai việc đưa quy định về cấp đổi GCN đi vào cuộc sống.

Thứ năm, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN không thể thực hiện được nếu thiếu sự chỉ đạo của các cấp Uỷ đảng, sự lãnh đạo của các cấp chính quyền và sự tham gia, phối kết hợp chặt chẽ của các đoàn thể quần chúng trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến xã. Suy cho cùng, tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN là việc tuyên truyền một chủ trương, chính sách mang ý nghĩa chính trị, xã hội, kinh tế to lớn của Đảng và Nhà nước.

Thứ sáu, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN chỉ là một nội dung nằm trong tổng thể các nội dung mang tính pháp lý, kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ về cấp đổi GCN. Nó hỗ trợ cho việc triển khai các hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ về cấp đổi GCN. Vì vậy, việc triển khai hoạt động tuyên truyền phải gắn kết, tích hợp với các hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ về cấp đổi GCN. Có như vậy mới nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền.

3. Những thuận lợi và khó khăn trong triển khai hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN

3.1. Những thuận lợi

Thứ nhất, việc cấp đổi GCN nhằm thực hiện quy định Luật đất đai năm 2013. Chính vì vậy, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN cũng là hoạt động nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về Luật đất đai năm 2013 nên nó nhận được sự hưởng ứng tích cực của các địa phương.

Thứ hai, nhận thức được lợi ích to lớn, thiết thực của việc cấp đổi GCN mang lại cho công tác quản lý nhà nước về đất đai nên hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN được ngành tài nguyên và môi trường nhanh chóng triển khai thực hiện.

Thứ ba, việc cấp đổi GCN là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thực thi quyền bình đẳng nam, nữ trong sử dụng đất đai; góp phần tích cực vào công cuộc “xóa đói, giảm nghèo” và phát triển bền vững. Do đó, việc làm này nhận được sự quan tâm, giúp đỡ có hiệu quả của các cấp Uỷ đảng, chính quyền và sự tham gia tích cực của các đoàn thể quần chúng ở các địa phương. Điều này góp phần vào sự thành công của hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN.

Thứ tư, việc cấp đổi GCN mang lại những ích lợi về nhiều mặt cho người dân (đặc biệt là người phụ nữ). Việc triển khai thực hiện hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN đã nhận được sự ủng hộ, sự tham gia, hưởng ứng tích cực của đông đảo quần chúng nhân dân. Đây là một trong những nhân tố góp phần đem lại sự thành công của hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN.

3.2. Những khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản được đề cập trên đây, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN gặp không ít những khó khăn, trở ngại, cụ thể là:

Thứ nhất, nhận thức về bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại trong một bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân. Ở nước ta, do sự phát triển kinh tế, xã hội và trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng, miền nên tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” vẫn còn tồn tại trong một số bộ phân dân cư (đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa). Tại những nơi này, người phụ nữ có địa vị thấp kém hơn nam giới. Khi chết, cha mẹ không để lại tài sản nhà, đất thừa kế cho con gái; phụ nữ khi đi lấy chồng không được gia đình nhà chồng chia đất; người đàn ông đứng tên chủ sở hữu mọi tài sản trong gia đình… Với tư tưởng cam chịu, an phận; tâm lý tự ti và tập quán lạc hậu “thuyền theo lái, gái theo chồng” nên người phụ nữ không dám đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình đối với tài sản nhà, đất. Đối với những nơi này, việc triển khai hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN vấp phải sự không đồng thuận do nhận thức lạc hậu của một số người dân mà quyền lợi của họ bị ảnh hưởng. Thậm chí, nhận thức bất bình đẳng về giới còn tồn tại trong suy nghĩ của một bộ phận cán bộ ở cơ sở. Điều tương tự xảy ra đối với một số cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số- nơi mà ở đó còn tồn tại chế độ mẫu hệ: người phụ nữ là người chủ trong gia đình. Thực tế cho thấy nhận thức sai lệch về bình đẳng giới là một trở ngại lớn đối với hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN.

Thứ hai, sự hạn chế về nguồn kinh phí thực hiện hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN. Do nguồn kinh phí ngân sách sử dụng cho hoạt động này còn hạn chế nên phạm vi và đối tượng của hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN chỉ giới hạn ở một số xã, huyện nhất định cũng như chỉ có một số lượng nhất định đối tượng người dân và cán bộ được tuyên truyền về chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN.

Thứ ba, muốn thay đổi quan niệm lạc hậu về sự bất bình đẳng nam nữ trong sử dụng đất đai thì hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN phải tiến hành thường xuyên, liên tục và kiên trì trong một thời gian dài. Song, do khó khăn về kinh phí nên hoạt động này chưa tiến hành thường xuyên, liên tục. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng của hoạt động tuyên truyền.

Thứ tư, kết quả của hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN có tính trìu tượng, khó nhìn thấy không giống như kết quả cụ thể của các hoạt động khác. Hơn nữa, đây là hoạt động hỗ trợ cho các hoạt động kỹ thuật, nghiệp vụ cấp đổi GCN song lại phải được thực hiện trước tiên. Chính vì vậy, hoạt động tuyên truyền gặp một số khó khăn nếu không gắn kết với việc triển khai các nội dung khác của Dự án. Người dân còn hoài nghi, băn khoăn về hiệu quả của công tác tuyên truyền hoặc chưa hăng hái tham gia vào các hoạt động tuyên truyền do chưa nhìn thấy ngay lợi ích của hoạt động này mang lại…

Thứ năm, do sự phát triển không đồng đều về trình độ nhận thức của người dân cũng như đội ngũ cán bộ, về điều kiện phát triển kinh tế – xã hội giữa các địa phương thực hiện hoạt động tuyên truyền nên hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN cũng gặp một số khó khăn như: năng lực, trình độ và kỹ năng tuyên truyền của đội ngũ tuyên truyền viên còn hạn chế hoặc thiếu kinh nghiệm trong hoạt động tuyên truyền…

Thứ sáu, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN được triển khai thực hiện trong bối cảnh bên cạnh việc tuyên truyền, đội ngũ tuyên truyền viên ở các địa phương còn phải đảm nhiệm nhiều công việc khác nên thời gian dành cho hoạt động này bị phân tán. Hiệu quả của hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN chưa đạt như mong muốn.

4. Một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN

Để nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN góp phần nhanh chóng đưa quy định tại Luật đất đai năm 2013 đi vào cuộc sống, chúng tôi kiến nghị một số nội dung cụ thể sau đây:

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN cho người dân và đội ngũ cán bộ ở cơ sở. Công tác này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và tập trung truyền thông để người dân hiểu và tạo ra sự đồng thuận của đông đảo nhân dân trong quá trình triển khai thực hiện. Hoạt động tuyên truyền cần tập trung nhấn mạnh các nội dung cụ thể sau: đây là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đem lại nhiều ích lợi về kinh tế, xã hội cho người dân; cấp đổi GCN ghi tên một người sang GCN ghi tên vợ và tên chồng nhằm thực hiện Luật đất đai năm 2013; cấp đổi GCN ghi tên một người sang GCN ghi tên vợ và tên chồng nhằm thực hiện quyền bình đẳng nam, nữ được ghi nhận trong Hiến pháp.

Thứ hai, Bộ Tài nguyên và môi trường cần tìm kiếm thêm các nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, từ sự tài trợ của các tổ chức trong và ngoài nước để mở rộng phạm vi triển khai hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN trong cả nước.

Thứ ba, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN cần tiến hành trong mối quan hệ kết nối, tích hợp với các hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ về cấp đổi GCN để vừa hỗ trợ lẫn nhau vừa nâng cao hiệu quả công tác truyền thông.

Thứ tư, ngành tài nguyên và môi trường cần tìm kiếm nguồn kinh phí để tiếp tục chỉnh sửa, nâng cao chất lượng các tài liệu tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN và xuất bản, phát hành rộng rãi các tài liệu này trong phạm vi cả nước.

Chú thích:

(1) Năm 2004, Bộ Tài nguyên và môi trường đã thực hiện thí điểm dự án “thay đổi/cấp mới GCNQSDĐ có tên cả vợ và chồng”. Mục tiêu của dự án là: thông qua chiến dịch truyền thông nhằm tăng cường nhận thức của nhân dân địa phương về bình đẳng giới trong việc quản lý và sử dụng đất; thay đổi/cấp mới GCNQSDĐ có tên cả vợ và chồng tại 20 xã thuộc 20 tỉnh trong cả nước, xem tại: http://www.ubphunu-ncfaw.gov.vn/index.asp?lang=V&func=newsdt&catid=151&newsid=1025&MN=65.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn xin cấp sổ đỏ (sổ hồng), sang tên nhà đất

4. Thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị mất như thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất bị mất và có quyết định hủy. nếu bây giờ tìm lại giấy chứng nhận có thể xin dùng lại giấy chứng nhận cũ được không ạ ?
Em cảm ơn!

Trả lời:

Luật Minh Khuê giải đáp một số thắc mắc liên quan đến Giải đáp thắc mắc liên quan đến thủ tục cấp, đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất:

Trường hợp của bạn nếu đã bị mất và đã có quyết định hủy cho nên nếu thời điểm hiện tại đã tìm thấy sổ thì vẫn không thể sử dụng lại được mà bạn sẽ sử dụng giấy chứng nhận được cấp mới.

Thưa luật sư, Hồi tháng 5, bố mẹ tôi có chuyển tiền cho tôi mua 1 căn nhà. Do thời điểm mua tôi đã có gia đình nên khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng có tên 2 vợ chống tôi. Đến nay bố mẹ tôi muốn chỉ mình tôi đứng sở hữu trên giấy tờ nhà đất nói trên. Theo tôi biết, chỉ có cách 2 vợ chồng tôi làm hợp đồng cho tặng lại bố mẹ tôi, sau đó bố mẹ tôi làm thủ tục đứng tên trên giấy và sau cùng, bố mẹ tôi sẽ làm giấy cho tặng 1 mình tôi. Vậy xin hỏi luật sư có cách nào đơn giản hơn để thực hiện điều này? Xin cám ơn. Hoàng - Phú Nhuận

=> Bạn có thể thỏa thuận với vợ để vợ bạn hthực hiện thủ tục chyển nhượng quyền sử dụng đất sang quyền sở hữu của mình bạn. Sau đó bạn sẽ thực hiện thủ tục xin cấp lại sổ đỏ đứng tên mình bạn. Hoặc trường hợp khác, bạn có thể thỏa thuận với vợ để vợ mình viết giấy cam kết về đây là tài sản riêng của bạn chứ không phải là tài sản chung của hai vợ chồng.

Thưa luật sư, Chồng cô tôi chết năm 1999, đến năm 2002 cô tôi có mua một căn nhà được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở ( sổ hồng) năm 2004). Tuy nhiên, do không biết thủ tục làm hồ sơ quyền sở hữu căn nhà nên cô tôi có nhờ người làm giúp vì vậy trong giấy chứng nhận có thêm tên chồng của tôi đươc ghi là chết cùng với tên của cô tôi trong giấy chứng nhận ( mặc dù ngôi nhà đều hoàn toàn một mình cô tôi bỏ tiềnmua). Vậy kính nhờ quý công ty hướng dẫn cho cô tội làm thủ tục xin cấp giấy quyền sở hữu căn nhà nhưng chỉ một mình cô tôi đứng tên .Xin cám ơn quý công ty.

=> Bạn có thể thực hiện thủ tục đính chính lại thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 106 Luật đất đai 2013 như sau:

Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:

a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;

b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.

Khoản 1 Điều 86 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai có quy định:

"Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót cho Văn phòng đăng ký đất đai để đính chính. Trường hợp sai sót do lỗi của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải có đơn đề nghị để được đính chính".

Hồ sơ, bao gồm:

1. Bản sao chứng minh nhân dân.

2. Bản sao sổ hộ khẩu.

3. Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Thời gian giải quyết: không quá 10 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Chào luật sư , tôi có câu hỏi như sau . tôi có giấy chứng nhận quyền sử dụng nhưng do thời gian nên bị hư hỏng và rách . nếu tôi muốn cấp đổi lại giấy chứng nhận có được không nếu được thì trình tự thủ tục như thế nào . thời gian bao lâu chi phí ra sao ? Xin cảm ơn .

=> Theo quy định tại Điểm k Điều 99 Luật đất đai 2013 về Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất. Do đó, nếu giấy chứng nhận của bạn bị hư hỏng và rách thì có thể làm thủ tục xin cấp đổi hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Xin chào luật sư, gia đình tôi có 1 mảnh đất rộng 300m² có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1994 trong giấy ghi 200m² là đất ở 100m² là đất vườn,nay tôi muốn tách đất cho 2con tôi tức là thành 3mảnh mỗi mảnh 100m² thì có dc ko ? và phải nộp những chi phí gì ạ ?
=> Điều kiện để tách thửa đất là đất là phải đáp ứng điều kiện về diện tích tối thiểu được tách thửa. Theo đó, bạn cần xem xét quy định của UBND tỉnh về điều kiện tách thửa để xác định xem mình có được tách thửa thành 3 mảnh đất được hay không.
Nếu đủ điều kiện tách thửa, bạn sẽ thực hiện thủ tục tách thửa như sau:

Người sử dụng đất nộp hồ sơ tại Phòng Tài nguyên và môi trường;

Ngay trong ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ hoặc chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo, Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm gửi hồ sơ cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc để chuẩn bị hồ sơ địa chính

Đối với trường hợp tách thửa mà phải trích đo địa chính thì trong thời hạn không quá bảy (07) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm làm trích đo địa chính thửa đất mới tách, làm trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính và gửi đến cơ quan Tài nguyên và Môi trường cùng cấp;

Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ký Giấy chứng nhận cho thửa đất mới;

Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tờ trình, Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, ký và gửi Giấy chứng nhận cho Phòng Tài nguyên và Môi trường;

Ngay trong ngày nhận được Giấy chứng nhận đã ký hoặc chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo, Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm trao bản chính Giấy chứng nhận đối với thửa đất mới cho người sử dụng đất.

Theo đó, hồ sơ bao gồm:

+ Đơn xin tách một thửa đất thành nhiều thửa đất hoặc hợp nhiều thửa đất thành một thửa đất

+Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về mức phí, Bạn sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân do việc tách thửa thực hiện giữa tcha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân. Trong trường hợp này, hồ sơ cần có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người tiến hành tách thửa và người nhận chuyển nhượng như: Giấy khai sinh…Trường hợp của bạn phải nộp phí trước bạ. Mức phí trước bạ được tính bằng 0,5% giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng tách thửa và bạn có thể thực hiện việc tách thửa một lần.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua qua email: để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Mẫu đơn cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới 2020

5. Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay ?

Trong thời gian vừa qua, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất (sổ đỏ) tại nhiều dự án trên cả nước đã được Chính phủ và các Bộ ngành liên quan đặc biệt quan tâm, ban hành nhiều văn bản hướng dẫn tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc cấp giấy chứng nhận.

Luật sư phân tích:

1. Điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Theo quy định tại điều 99 Luật đất đai năm 2013. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

“a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật đất đai 2013;

b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;

c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;

d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;

e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;

k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất”.

b) Giấy tờ đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất , quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.”

c) Trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

Hiện nay, thủ tục cấp Sổ đỏ được thực hiện theo điều 70 của nghị định 43/2014/NĐ-CP và hướng dẫn của Thông tư 24/2014/TT-BTNMT. Theo đó:

– Chuẩn bị 01 bộ hồ sơ gồm Đơn đăng ký; một trong các loại giấy tờ:

a) Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Mẫu số 04/ĐK;

b) Một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) đối với trường hợp đăng ký về quyền sử dụng đất;

c) Một trong các giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đối với trường hợp đăng ký về quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp đăng ký về quyền sở hữu nhà ở hoặc công trình xây dựng thì phải có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng đã có sơ đồ phù hợp với hiện trạng nhà ở, công trình đã xây dựng);

d) Báo cáo kết quả rà soát hiện trạng sử dụng đất đối với trường hợp tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 theo Mẫu số 08/ĐK;

đ) Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính; giấy tờ liên quan đến việc miễn, giảm nghĩa vụ tài chính về đất đai, tài sản gắn liền với đất (nếu có);

e) Đối với đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh thì ngoài giấy tờ quy định tại các Điểm a, b và d Khoản này phải có quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an về vị trí đóng quân hoặc địa điểm công trình; bản sao quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh trên địa bàn các quân khu, trên địa bàn các đơn vị thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mà có tên đơn vị đề nghị cấp Giấy chứng nhận;

g) Trường hợp có đăng ký quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề phải có hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án nhân dân về việc xác lập quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề, kèm theo sơ đồ thể hiện vị trí, kích thước phần diện tích thửa đất mà người sử dụng thửa đất liền kề được quyền sử dụng hạn chế.

– Nộp hồ sơ tại văn phòng đăng ký đất đai thuộc UBND cấp huyện;

– Thực hiện các nghĩa vụ tài chính và nộp biên lai thuế cho bộ phận tiếp nhận;

– Đến nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo giấy hẹn.

2. Những trường hợp không được cấp sổ đỏ

Theo Điều 19, Nghị định 43/2014/CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất Đai vừa được Chính phủ ban hành, theo đó, sẽ có 7 trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận quyền sủ dụng đấy, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, gồm:

1/ Người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

2/ Người thuê, thuê lại đất của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế

3/ Người nhận khoán đất trong các nông trường, lâm trường, doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quả lý rừng đặc dụng.

4/ Người đang sử dụng đất không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

5/ Người sử sụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

6/ Tổ chức, UBND xã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng và mục đích xây dựng công trình công cộng gồm đường giao thông, công trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khi, đường dây truyền tải điện, truyền dẫn thông tin, khu vui chơi giải trí ngoài trời; nghĩa trang; nghĩa địa không nhằm mục đích kinh doanh.

7/ Các tổ chức, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất để quản lý thuộc các trường hợp quy định tại Điều 8 của Luật Đất đai

NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH PHẢI THỰC HIỆN

Với trường hợp mua bán , chuyển nhượng … thì người bán có trách nhiệm nộp thuế thu nhập cá nhân 2%

Ngoài ra , người đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải nộp lệ phí trước bạ 0,5% và chi phí đo đạc địa chính .

Theo quy định tại Thông tư số 85/2019/TT-BTCvề lệ phí địa chính:

Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương nơi phát sinh hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí, lệ phí, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định mức thu phí, lệ phí phù hợp.

1. Đối với các khoản phí

a) Phí bình tuyển, công nhận cây mẹ, cây đầu dòng, vườn giống cây lâm nghiệp, rừng giống là khoản thu để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí thực hiện công việc bình tuyển, công nhận cây mẹ, cây đầu dòng, vườn giống cây lâm nghiệp, rừng giống và bù đắp chi phí cho hoạt động thu phí.

b) Phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu (bao gồm: khu vực cửa khẩu biên giới đất liền và khu vực cửa khẩu cảng biển) là khoản thu đối với các đối tượng sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu để bù đắp chi phí duy tu, bảo dưỡng, duy trì điều kiện phục vụ hoặc tái tạo các công trình hạ tầng kỹ thuật - xã hội, công trình dịch vụ và tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu.

- Căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, mức độ bù đắp chi phí duy tu, bảo dưỡng, duy trì điều kiện phục vụ hoặc tái tạo công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu để quy định mức thu phí phù hợp.

- Khi xây dựng mức thu phí, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần tham khảo mức thu phí của các địa phương có cửa khẩu biên giới đất liền hoặc cửa khẩu cảng biển trong khu vực để xây dựng mức thu phí bảo đảm tương đồng giữa các địa phương, khu vực. Mức thu phí được xác định trên nguyên tắc cơ bản bù đắp chi phí, có tính đến chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong từng thời kỳ, đảm bảo công bằng, minh bạch và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của người dân.

- Niêm yết công khai cơ sở tính phí (trong đó cần công khai: Phạm vi dự án cảng hoặc khu vực cửa khẩu được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; tổng mức đầu tư dự án; dự kiến lưu lượng phương tiện ra, vào, hàng hóa lưu thông; thời gian hoàn vốn dự án và hiệu quả của việc thu phí), mức phí, phương thức thu, đối tượng nộp, miễn, giảm và văn bản quy định thu phí tại điểm thu và trên Trang thông tin điện tử của tổ chức thu phí.

c) Phí sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố là khoản thu đối với các đối tượng được phép sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố theo quy định của pháp luật, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng lòng đường, hè phố.

Căn cứ điều kiện về quản lý, sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố của địa phương để quy định mức thu, hình thức thu phí theo lượt, theo doanh thu, theo diện tích sử dụng cho phù hợp.

d) Phí thăm quan danh lam thắng cảnh, phí thăm quan di tích lịch sử và phí thăm quan công trình văn hóa, bảo tàng là khoản thu để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí về bảo quản, tu bổ, phục hồi và quản lý đối với danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, bảo tàng và bù đắp chi phí cho hoạt động thu phí.

Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội, quy mô, hình thức hoạt động thăm quan của từng danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, bảo tàng để quy định mức thu phí phù hợp, nhưng phải bảo đảm:

- Mức thu được áp dụng thống nhất đối với người Việt Nam và người nước ngoài.

- Đối với danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, bảo tàng được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới quy định mức thu phí bằng hoặc cao hơn mức thu phí danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, bảo tàng khác.

- Miễn, giảm phí thăm quan danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, bảo tàng đối với trẻ em, người được hưởng chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa, người khuyết tật, người cao tuổi theo quy định của pháp luật.

đ) Phí thẩm định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoạt động cơ sở thể thao, câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp là khoản thu để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí thực hiện công việc thẩm định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoạt động cơ sở thể thao, câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp và bù đắp chi phí cho hoạt động thu phí.

Căn cứ vào quy mô, loại hình hoạt động của cơ sở thể thao, câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp để quy định mức thu phí phù hợp và khuyến khích phát triển hoạt động thể thao.

e) Phí thư viện là khoản thu để bù đắp một phần hoặc toàn bộ các chi phí cần thiết cho hoạt động của thư viện khi cung cấp các dịch vụ và tiện ích phục vụ bạn đọc vốn tài liệu của thư viện và bù đắp chi phí cho hoạt động thu phí.

- Căn cứ điều kiện và phương thức cung cấp dịch vụ phục vụ bạn đọc để quy định mức thu phí khác nhau cho từng đối tượng phù hợp.

- Miễn, giảm phí thư viện đối với trẻ em, người được hưởng chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa, người khuyết tật, người cao tuổi theo quy định của pháp luật.

- Đối với các dịch vụ khác, như: dịch thuật, sao chụp tài liệu, khai thác sử dụng mạng thông tin thư viện trong nước và quốc tế, lập danh mục tài liệu theo chuyên đề, cung cấp các sản phẩm thông tin đã được xử lý theo yêu cầu bạn đọc, vận chuyển tài liệu cho bạn đọc trực tiếp hoặc qua bưu điện thực hiện giá dịch vụ.

g) Phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là khoản thu để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí thực hiện thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và bù đắp chi phí cho hoạt động thu phí.

Căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương để quy định mức thu phí phù hợp với quy mô dự án, chuyên ngành dự án hoặc mức độ phức tạp của công tác thẩm định.

h) Phí thẩm định phương án cải tạo, phục hồi môi trường và phương án cải tạo, phục hồi môi trường bổ sung (thẩm định lập lại và bổ sung) là khoản thu để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí thực hiện thẩm định phương án cải tạo, phục hồi môi trường và phương án cải tạo, phục hồi môi trường lập lại và bổ sung và bù đắp chi phí cho hoạt động thu phí.

i) Phí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là khoản thu đối với công việc thẩm định hồ sơ, các điều kiện cần và đủ đảm bảo việc thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (bao gồm cấp, cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận và chứng nhận biến động vào giấy chứng nhận đã cấp) theo quy định của pháp luật.

Căn cứ quy mô diện tích của thửa đất, tính chất phức tạp của từng loại hồ sơ, mục đích sử dụng đất và điều kiện cụ thể của địa phương để quy định mức thu phí cho từng trường hợp.

k) Phí thẩm định đề án, báo cáo thăm dò đánh giá trữ lượng, khai thác, sử dụng nước dưới đất; phí thẩm định khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển và phí thẩm định xả nước thải vào nguồn nước, công trình thủy lợi là khoản thu để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí thực hiện công việc thẩm định đề án, báo cáo thăm dò đánh giá trữ lượng, khai thác, sử dụng nước dưới đất; khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển; xả nước thải vào nguồn nước, công trình thủy lợi và bù đắp chi phí cho hoạt động thu phí.

l) Phí thẩm định hồ sơ, điều kiện hành nghề khoan nước dưới đất là khoản thu để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí thực hiện thẩm định hồ sơ, điều kiện hành nghề khoan nước dưới đất và bù đắp chi phí cho hoạt động thu phí.

m) Phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai là khoản thu đối với người có nhu cầu khai thác và sử dụng tài liệu về đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý hồ sơ, tài liệu về đất đai (như: cơ quan địa chính, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, quận, huyện) nhằm bù đắp chi phí quản lý, phục vụ việc khai thác và sử dụng tài liệu đất đai và bù đắp chi phí cho hoạt động thu phí. Phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai bao gồm cả bản đồ quy hoạch sử dụng đất, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ chuyên đề, bản đồ địa chính.

n) Phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (phí cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất) là khoản thu đối với người có yêu cầu cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bù đắp chi phí thực hiện công việc, dịch vụ cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và bù đắp chi phí cho hoạt động thu phí.

o) Phí đăng ký giao dịch bảo đảm (phí đăng ký biện pháp bảo đảm) là khoản thu bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bù đắp chi phí cho việc thực hiện công việc, dịch vụ đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và bù đắp chi phí cho hoạt động thu phí.

Căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương để quy định mức thu phí theo hồ sơ đăng ký, các trường hợp đăng ký, thửa đất hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho phù hợp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty uật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tách thửa đất ở có đất trồng cây lâu năm được không ? nếu được thì thủ tục tách ra sao ?