Trả Lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

2. Nội dung phân tích

Chào luật sư,cho tôi hỏi về vấn đề bồi thường trong vụ án hành chính, trong phiên tòa xét xử vừa rồi, tôi yêu cầu tòa án bồi thường những vấn đề này nhưng tòa án không chấp nhận, nay tôi xin hỏi những vấn đề dưới đây có được bồi thường không?? - Đơn thư tôi gởi phát nhanh, 30 đơn ngày công xăng dầu tôi đi gởi - Ngày công tôi đi triệu tập mỗi khi tòa án gọi.(15 buổi) Tôi cảm ơn luật sư nhiều.

Vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính được quy định tại Điều 6 Luật tố tụng hành chính năm 2010 được quy định như sau:

" Điều 6. Giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính

Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành chính có thểđồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trong trường hợpnày các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và pháp luật về tố tụng dân sự được ápdụng để giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trường hợp trong vụ án hành chính có yêu cầu bồi thường thiệt hại mà chưa có điều kiệnđể chứng minh thì Toà án có thể tách yêu cầu bồi thường thiệt hại để giải quyết sau bằng một vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật."

 Phạm vi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định như sau:

Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Như vậy, chi phí gửi đơn. xăng xe khi đi gửi đơn không phải là thiệt hại được bồi thường. Việc triệu tập của cơ quan có thẩm quyền là thủ tục tố tụng bắt buộc công dân phải thực hiện vì vậy cũng không được bồi thường

Rất mong được Luật sư tư vấn trường hợp này: ông B và ông A có gửi đơn toà án xử ngôi nhà C thuộc quyền sở hữu của ai?Qua xét xử tại toà được toà án tối cao Đ kết luận là nhà ông A vì có giấy tờ chứng minh nhưng khi gia đình ông A đi vắng thì ông B đã khoá cửa ngoài ngõ( có hẻm nhỏ đi vào nhà ông A). Ông A không vào nhà được vì ngoài ngõ ông B khoá lại ko cho vào? Vợ chồng ông A phải thuê ở ngoài ở hơn 1 năm nay rất tội. Vậy rất mong Luật sư tư vấn giúp. Chân thành cảm ơn.

 Trong trường hợp này, Ông A là chủ sở hữu hợp pháp của ngôi nhà trên vì vậy việc ông B có hành vi cản trở Ông A sử dụng tài sản hợp pháp của mình là trái quy định pháp luật.Theo đó, ông A có thể nộp đơn tố cáo tới cơ quan công an để được can thiệp. Theo đó, hành vi của ông B có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của bộ luật hình sự như sau:

Điều 141. Tội chiếm giữ trái phép tài sản

>> Xem thêm:  Phân tích cơ sở pháp lý phán quyết của tòa án ?

1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội chiếm giữ tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng trở lên hoặc cổ vật, vật có giá trị lịch sử, văn hoá có giá trị đặc biệt, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm."

Tại sao phải có đủ số Hội Thẩm Nhân dân khi xét xử ?

Quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2915 chỉ rõ:

" Điều 63. Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật này. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân.

Đối với vụ án có đương sự là người chưa thành niên thì phải có Hội thẩm nhân dân là người đã hoặc đang công tác tại Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em.

Đối với vụ án lao động thì phải có Hội thẩm nhân dân là người đã hoặc đang công tác trong tổ chức đại diện tập thể lao động hoặc người có kiến thức về pháp luật lao động."

Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định về cơ cấu tổ chức phiên tòa tố tụng theo mô hình pháp luật việt nam vì vậy, số lượng thẩm quán và hội thẩm nhân dân được quy định trong bộ luật nêu trên

Thưa luật sư,anh tôi vi phạm khoản 1 điều 248 tội đánh bạc đang chờ xét xử,tôi muốn xin giảm nhẹ hình phạt cho anh tôi vì anh tôi là người lần đầu vi phạm và anh tôi có bà nội là bà mẹ việt nam anh hùng có được không?Và đơn xin giảm nhẹ hình phạt có được đánh máy không?Mong luật sư giúp đỡ.

Khi có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt thì bạn cần phải làm hồ sơ gồm có đơn và những giấy tờ liên quan để chứng minh về các tình tiết giảm nhẹ gửi tòa án:

- Đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt

>> Xem thêm:  Hướng dẫn khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của pháp luật ?

- Tài liệu, chứng cứ chứng minh các tình tiết giảm nhẹ

Trong trường hợp này, một trong những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009 ) là: " s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác."

Như vậy, sau khi được xác nhận từ UBND về nội dung trên Bố bạn có thể nộp kèm theo với đơn đề nghị để đượ xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tôi có vấn đề cần tư vấn như sau: cuối tháng 10 2015 em có cho một người bạn mượn chiếc xe máy để đi chuộc điện thoại ,nhưng bạn em đã mang chiếc xe của em đi bán và không trả lại cho em sau thời gian tạm giam thì toà án đưa ra xét xử.tại phiên tòa các cơ quan thẩm quyền định giá chiếc xe em trị giá 16.000.000đ .và tòa yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho em .kết thúc phiên tòa tòa án thông báo sau 15 ngày thì nhận được tiền bồi thường .mà hiện tại đã qua 15 ngày mà em vẫn chưa nhận được số tiền đó .vậy mong luật sư tư vấn giúp em phải làm sao để sớm lấy lại tiền bồi thường ?

 Bản án quyết định về nghĩa vụ dân sự trong vụ án hình sự. Phần nội dung liên quan đến nghĩa vụ dân sự được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự như sau:

Điều 175. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong thi hành án hình sự

1. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc xây dựng chương trình giáo dục pháp luật, giáo dục công dân; phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án hình sự.

2. Chỉ đạo cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ, tiền, tài sản có liên quan đến phạm nhân là người phải thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, các nghĩa vụ dân sự khác hoặc được thi hành án dân sự."

Về vấn đề thi hành án dân sự được quy định như sau:

Điều 44. Xác minh điều kiện thi hành án

1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay.

>> Xem thêm:  Nguyên nhân một số vụ án dân sự bị hủy

Người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình.

2. Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần. Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án."

Như vậy, sau 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày theo nội dung bản án hình sự thì chấp hành viên tiến hành xác minh điều kiện thi hành án để áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án 

Dạ, xin chào luật sư! Tôi có một số câu hỏi có liên quan đến vấn đề tranh chấp quyền sở hữu nhà đất. Cụ thể vấn đề này như sau: Vào khoảng giữa năm 2015, bà tôi có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ba tôi thông qua hợp đồng mua bán với giá 40 triệu đồng nhưng trên thực tế ba tôi không cần phải trả tiền cho bà tôi vì bà tôi cho không ba tôi nhà đất và hiện tại mọi thủ tục chuyển nhượng đã hoàn tất. Nhưng do giữa bà và gia đình tôi xảy ra mâu thuẫn, bà tôi đã nhờ đến luật sư tiến hành kiện ba tôi ra tòa để đòi lại nhà đất. Tuy nhiên, trước khi chuyển nhượng cho ba tôi, bà tôi có nhờ đến một người cháu (sinh năm 1999) làm người thừa kế để bà tôi có thể làm được giấy tờ nhà. Khi chuyển nhượng cho ba tôi, mẹ của người cháu đã kí xác nhận và bà tôi dã lăn dấu tay đồng ý (tất cả mọi người điều tự nguyện). Trong giấy cam kết và hợp đồng mua bán có ghi rõ, với số tiền mua bán 40 triệu đồng, bà tôi sẽ trích 20 triệu để nuôi người cháu đến 18 tuổi. Vậy luật sư cho tôi hỏi: 1/ Ba tôi có phải chịu trách nhiệm gì người cháu đó không? 2/ Bà tôi có căn cứ, cơ sở gì để kiện ba tôi ra tòa? 3/ Trong quà trình xét xử tại tòa án sẽ có những tình huống, sự việc hay vấn đề gì phát sinh có thể gây bất lợi cho ba tôi không ạ? 4/ Kết quả của vụ kiện này sẽ như thế nào ạ? Tôi rất mong nhận được sự giải đáp từ luật sư trong thời gia sớm nhất có thể, tôi xin chân thành cám ơn luật sư ạ!

Trong giao dịch này, ba bạn vẫn được xác định là người mua. Số tiền giao dịch là 40 triệu đã được ghi nhận trong hợp đồng mua bán mặc dù trên thực tế ba bạn và bà đã thỏa thuận không lấy phí chuyển nhượng. Hợp đồng này nếu đã chứng thực hoặc công chứng thì đã có giá trị pháp lý và chỉ khi bà bạn chứng minh được yếu tố chứng minh giao dịch dân sự đó vô hiệu thì mới có thể yêu cầu ba bạn trả lại tài sản đã chuyển nhượng. Một số trường hợp được quy định làm vô hiệu hợp đồng mua bán như sau:

" Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn khởi kiện án dân sự

Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu.

Điều 130. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện

Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.

Điều 131. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu.

Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này.

Điều 132. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.

>> Xem thêm:  Mức xử phạt hành chính hành vi lấn đất ở mới nhất

Điều 133. Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Điều 134. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.

Điều 135. Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần

Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần của giao dịch vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch."

Như vậy, Nếu hoạt động chuyển nhượng trên không vô hiệu thì bố bạn phải có trách nhiệm thanh toán số tiền 40 triệu được xác định là giá chuyển nhượng đã giao kết. Theo đó, 20 triệu là số tiền bà bạn sau khi được nhận trích để nuôi cháu là quyền tự định đoạt của bà. Bố bạn không có trách nhiệm với người cháu này.

Đánh giá nội dung bản án:

Dựa trên những thông tin được cung cấp có thể thấy bố bạn phát sinh nghĩa vụ dân sự là số tiền mua bán 40 triệu chưa trả. Bà bạn không thể yêu cầu bố bạn trả lại phần tài sản đã chuyển nhượng hợp pháp về hợp đồng

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

>> Xem thêm:  Đơn khởi kiện khi mua hàng không trả tiền và thủ tục nộp đơn như thế nào ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê 

>> Xem thêm:  Quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước được quy định như thế nào ?