1. Thủ tục ly hôn có cần xin xác nhận của UBND Xã hay không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi ở thái bình hiện đang làm việc sinh sống ở tp HCM. Vợ tôi ở hưng yên vợ chồng tôi kết hôn được 5 năm nhưng khoảng thời gian sống chung không được mấy tháng .do mâu thuẫn vợ tôi bế con về nhà ngoại ,chúng tôi đã ly thân .bây giờ không thể hàn gắn được nữa tôi muốn làm thủ tục đơn phương ly hôn vậy tôi phải nộp đơn ở đâu và vợ chồng tôi không có tài sản chung có một đứa con chung 5 tuổi. Và tôi muốn dành quyền nuôi con được không ?
Mong luật sư tư vấn cho tôi!

Trả Lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

- Thủ tục yêu cầu ly hôn như sau

+ Hồ sơ yêu cầu ly hôn bao gồm:

1) Đơn xin ly hôn: Bạn có thể tham khảo mẫu của công ty Luật Minh Khuê tại đây: Mẫu Xin ly hôn đơn phương;

2) Giấy đăng ký kết hôn bản chính;

3) Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

4) Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

5) Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

6) Bản sao giấy khai sinh của con chung (nếu có).

+ Thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân dân quận ( huyện ) nơi vợ bạn cư trú

Căn cứ vào Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Nếu bạn muốn giành quyền nuôi con trên 36 tháng tuổi thì bạn phải chứng minh được bản thân có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc con tốt hơn chồng bạn. Bạn cần cung cấp cho tòa những chứng cứ kèm theo: bảng thu nhập hàng tháng, giấy tờ chứng minh thu nhập phát sinh từ các nguồn khác, cụ thể điều kiện vật chất bạn sẽ đảm bảo cho con là gì: điều kiện ăn uống, may mặc, các đồ dùng vật chất phục vụ cuộc sống của con. Bên cạnh đó bạn cần chứng minh cho Tòa án thấy bạn luôn đảm bảo tốt cho sự phát triển về mặt tinh thần của con: vui chơi giải trí, học hành, sự phát triển trí tuệ...

Nghĩa là bạn phải thỏa thuận được với chồng bạn rằng bạn có điều kiện tài chính, điều kiện trực tiếp trông nom, giáo dục, nuôi dưỡng chăm sóc con phù hợp hơn cho đứa con so với chồng của bạn. Hoặc bạn phải chứng minh được các điều kiện về tài chính, trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con của chồng bạn không còn đáp ứng đủ yêu cầu mà pháp luật quy định thì bạn mới có thể giành được quyền nuôi con.

Chào ls, ls cho tôi hỏi tý ạ, t và vợ cưới nhau năm 2015 ở với nhau được mấy tháng thỳ lục đục tình cảm, vợ t bỏ về ngoại ở ,lúc đó cô ấy mang bầu, giờ chúng tôi đả có một thằng côn trai, ko thể ở với nhau nửa chúng tôi muốn ly hôn vậy t có cách nào để có quyền nuôi con ko ạ, cô ấy nuôi con mà phụ thuộc gia đình bên đó, ko có ai có công việc ổn định, chỉ làm nông, t có việc làm ổn định, từ lúc cô ấy nuôi con tôi đi làm cô ấy ko cho t gặp con, khi t ổ nhà ra ngoại thỳ bị gia đình đóng cửa ko cho vào găp con, t yêu cầu cô ấy chụp hình con gửi cho t cô ấy ko chịu còn chửi t này nọ rồi tắt điện thoại, trong khi đó vẩn chụp hình con gửi cho anh em, họ hàng, bạn bè cô ấy, vậy xin hỏi luật sư có cách nào giúp t nuôi con dược không ạ, cảm ơn luật sư nhiều.

=> Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

"Điều 81. Việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo như quy định trên, khi ly hôn, vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau về quyền nuôi con. Trong trường hợp không thể thỏa thuận được thì Tòa án quyết định dựa trên các quy định của pháp luật như sau:

- Nếu con của bạn hiện dưới 36 tháng tuổi, thì con sẽ được giao cho bạn nuôi, trừ khi bạn không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con (không tính tới yếu tố kinh tế, bởi sau khi ly hôn, bên nào không trực tiếp nuôi con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con)

- Nếu con của bạn từ đủ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi thì Tòa án sẽ giải quyết cho bên nào đảm bảo được tốt hơn về mọi mặt cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con;

- Nếu con của bạn từ đủ 7 tuổi trở lên thì Tòa án sẽ xem xét dựa trên nguyện vọng của con.

Thưa luật sư, Tôi lấy chồng 23 năm có đăng ký kết hôn và có hai con hiện tại có 1 cháu đã xây dựng gia đình còn 1 cháu mới học lớp 7.Về nhà chồng từ năm 1993 là nhà cũ cấp 4 đến năm 2004 chúng tôi xây nhà 1.5 tầng và đến năm 2013 tôi lại xây dựng thêm lên 1.5 tầng nữa là tiền riêng của tôi. Vậy tôi xin hỏi luật sư nếu chúng tôi chia tay thì tôi sẽ chia tài sản nhà như thế nào và ngôi nhà này lại không phải do chồng tôi đứng tên mà anh trai chồng đứng tên. Tôi về nhà chồng 1993 anh trai chồng đã đi tây trước đó rồi.Thực chất là đất của nhà máy xi măng phân cho bố mẹ chồng tôi nhưng đến khi nhà máy có quyết định thanh lý thì cả hai bố mẹ tôi đều mất sớm cho nên lúc đó anh chồng đứng tên cho hợp thức hóa.Gọi là giấy tờ hợp lệ sau đó anh ấy định cư hẳn bên nước ngoài cho đến nay và ngôi nhà chỉ có gia đình tôi ở thôi.

=> Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

" Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Tuy nhiên, ngôi nhà này lại không phải do chồng chị đứng tên mà anh trai chồng đứng tênvì vậy, tài sản này không thể là tài sản chung của vợ chồng chị và sẽ không được phân chia

Luật sư cho em hỏi: Chồng em ngoại tinh em muốn đơn phương li hôn. vợ chồng e không có tài sản chung không có nợ chung. chỉ có 1 đứa con chung được 8 tháng tuổi. luật sư tư vấn cho em em có được quỳên nuôi con và nhận trợ cấp từ bố nó không ạ. và cần thủ tục gì ạ.

=> Về quyền nuôi con:

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

"Điều 81. Việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo như quy định trên, khi ly hôn, vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau về quyền nuôi con. Trong trường hợp không thể thỏa thuận được thì Tòa án quyết định dựa trên các quy định của pháp luật như sau:

- Nếu con của bạn hiện dưới 36 tháng tuổi, thì con sẽ được giao cho bạn nuôi, trừ khi bạn không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con (không tính tới yếu tố kinh tế, bởi sau khi ly hôn, bên nào không trực tiếp nuôi con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con)

- Nếu con của bạn từ đủ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi thì Tòa án sẽ giải quyết cho bên nào đảm bảo được tốt hơn về mọi mặt cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con;

- Nếu con của bạn từ đủ 7 tuổi trở lên thì Tòa án sẽ xem xét dựa trên nguyện vọng của con.

Về vấn đề cấp dưỡng:

Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định:

"Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Như vậy, nếu bạn và chồng có thể thỏa thuận được mức cấp dưỡng cho con thì Tòa sẽ chấp thuận mức cấp dưỡng mà hai vợ chồng đã thỏa thuận, nếu vợ chồng bạn không thỏa thuận được thì Tòa sẽ căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của chồng bạn và nhu cầu thiết yếu của con bạn để ra quyết định về mức cấp dưỡng sao cho phù hợp.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Không có hộ khẩu trong gia đình có được quyền hưởng di sản thừa kế không ?

2. Làm gì để được tòa án giải quyết ly hôn khi chồng đang đi tù ?

Chào luật sư Minh Khuê, Cho em hỏi bây giờ em muốn ly hôn,nhưng chồng em hiện giờ thì đang ở trong tù thì em cần những thủ tục gì để có thể ly hôn được ạ ?
Chân thành cảm ơn luật sư.

Làm gì để được tòa án giải quyết ly hôn khi chồng đang đi tù ?

Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 :

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắcbệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Trong tình huống này, do chồng bạn vi phạm pháp luật và đang chấp hành án phạt tù, tuy nhiên chưa thể dẫn ra rằng chồng bạn đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của chồng làm cho hôn nhân của hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chính vì thế, bạn cần phải có thểm căn cứ thuyết phục hơn để có quyền yêu cầu ly hôn. Nếu lý do ly hôn là chính đáng bạn nộp hồ sơ như sau:

Hồ sơ gồm:

- Đơn xin ly hôn (theo mẫu)

- Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của vợ chồng

- Bản sao sổ hộ khẩu của vợ, chồng ( có chứng thực)

- Bản sao giấy khai sinh của các con ( nếu có, có chứng thực)

- Giấy tờ về tài sản ( nếu có tranh chấp).

Trình tự giải quyết:

- Tòa án có thẩm quyền thụ lý đơn ly hôn và sau đó ủy thác cho Tòa địa phương - nơi có trại giam mà chồng bạn đang thụ án để lấy lời khai, ý kiến của …vv;

- Tòa án sẽ tiến hành xử ly hôn vắng mặt người đang thụ án tù.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Bài viết tham khảo thêm: Mẫu đơn xin ly hôn Hướng dẫn cách viết đơn ly hôn đơn phương ?

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế mới nhất và Phân chia di sản thừa kế ?

3. Hạn chế ly hôn của chồng trong trường hợp nào ?

Thưa luật sư Minh Khuê. Vợ chồng em kết hôn 4 năm. Sau 1 thời gian em có bầu và hiện giờ chồng em lại đang có quan hệ với người khác. Và sau khi sinh xong chồng em sẽ ly hôn em mặc dù em thì không chấp nhận ly hôn. Mong luật sư tư vấn cho biết mình nên làm gì và quyền lợi mẹ con em khi ly hôn ?
Và trong trường hợp em không ký đơn, không có mặt tại toà, không đưa giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn gốc thì chồng em có thể đơn phương ly hôn không ạ?
Em cám ơn!

Tư vấn nơi nộp hồ sơ ly hôn và thủ tục ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

- Thứ nhất, theo như bạn nêu thì chồng bạn đang có ý định ly hôn đơn phương ngay sau khi bạn sinh cháu thứ 2. Trong trường hợp của bạn thì bạn cần lưu ý là:

Khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 :

"Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Do vậy, nếu chồng bạn yêu cầu tòa án ly hôn đơn phương trong thời gian bạn vừa mới sinh con như vậy thì sẽ không được tòa án thụ lý giải quyết.

- Thứ hai, nếu hết thời gian 12 tháng sau khi bạn sinh con, chồng bạn vẫn có yêu cầu ly hôn mà bạn không ký đơn, không có mặt tại toà, không đưa giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn gốc thì chồng bạn vẫn có thể làm thủ tục ly hôn đơn phương. Các giấy tờ mà bạn không đưa như bạn nêu chồng bạn hoàn toàn có thể xin xác nhận tại UBND xã.

Về thủ tục ly hôn :

Hồ sơ cần thiết để chuẩn bị xin ly hôn đơn phương bao gồm:

- Đơn xin ly hôn đơn phương (Theo mẫu của Tòa án)

- Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

- Bản sao chứng thực sổ hộ khẩu, giấy chứng minh thư nhân dân.

- Bản sao chứng thực giấy khai sinh của con chung ( trường hợp không có con chung thì không cần giấy tờ này ).

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), Đăng ký xe; sổ tiết kiệm…(trường hợp không có tài sản chung thì không cần giấy tờ này).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục ly hôn đơn phương và giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi ?

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

4. Không đăng ký kết hôn có cần ly hôn với bạn gái ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi với bạn gái chung sống với nhau như vợ chồng được ba năm nay. Từ năm 2012 đến nay. Chúng tôi không có đăng ký kết hôn. Hiện nay tôi muốn ly hôn với bạn gái tôi. Hôm rồi tôi được kết nạp Đảng, bạn gái tôi quậy tôi không được kết nạp Đảng. Nay tôi muốn ly hôn với bạn gái tôi có nộp đơn tại tòa án không ? Hay là tự thỏa thuận chia tay để cưới vợ khác ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Phuong

Không đăng ký kết hôn có cần ly hôn với bạn gái ?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trước hết, việc hai bạn chung sống như vợ chồng mà không đăng ky kết hôn thì sẽ không phát sinh quan hệ hôn nhân giữa hai bạn. Hiện tại bạn muốn chia tay bạn gái thì trước tiên, hai bạn nên tự thỏa thuận để chia tay. Nếu không thỏa thuận được thì bạn có thể làm đơn yêu cầu ly hôn. Khi đó, tòa án thụ lý vụ án để giải quyết và tuyên bố không công nhận hai bạn là vợ chồng.

Mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, ngày 03/01/2001, hướng dẫn thi hành Nghị quyết 35/2000/QH10, ngày 09/06/2000 của Quốc hội “về việc thi hành Luật HN&GĐ của Quốc hội:

“Về việc thi hành Luật HN&GĐ quy định cụ thể về trường hợp chung sống như vợ chồng mà không đăng ký muốn chia tay như sau: đối với trường hợp nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật HN&GĐ, họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu một trong các bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng.

Bạn chuẩn bị hồ sơ như sau:

- Giấy chứng nhận quá trình chung sống của hai bạn.

- Chứng minh thư nhân dân của hai bạn (Bản sao có chứng thực).

- Giấy khai sinh của các con (Bản sao có chứng thực).

- Đơn yêu cầu đơn phương ly hôn.

Về quan hệ tài sản và nghĩa vụ của hai bạn với các con (nếu có) sẽ được giải quyết theo Điều 14, 15, 16 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Dịch vụ luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 .

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

5. Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn ?

Chào luật sư, Vợ chồng tôi kết hôn từ năm 2010 có 1 cháu nhỏ 28 tháng, nhưng chúng tôi đã ly thân từ trước khi tôi sinh con và chồng tôi không hề có trách nhiệm đóng góp nuôi con từ đó tới giờ, thậm chí chưa gặp mặt con. Chồng tôi hộ khẩu Hà Nội, tôi hộ khẩu TP.HCM, hiện tại cả hai đều sống và làm việc tại thành phố.
Trường hợp của tôi có thể nộp đơn xin ly hôn tại Tp. HCM được không? Nếu không bắt buộc phải nộp tại nơi chồng tôi cư trú thì tôi có thể xin xử vắng mặt không? Vì con tôi còn nhỏ, không thể đi đi lại lại để tham gia mọi buổi xét xử, hòa giải... Nếu xử vắng mặt tôi có bị bất lợi gì không? Vợ chồng tôi không có mâu thuẫn về tài sản chung, và tôi cũng tin mình sẽ giành được quyền nuôi con nhưng cũng rất sợ chồng tôi cố tình gây khó dễ vì qua một số lần trao đổi qua điện thoại tôi nhận thấy chồng tôi cũng hiểu được không cứu vãn được hôn nhân nhưng chồng tôi không tự nguyện chấp nhận ly hôn và còn đòi nuôi con.
Và do ly thân cũng đã lâu nên tôi không biết địa chỉ tạm trú, không có giấy tờ gì từ phía chồng tôi (CMND, Hộ khẩu/ giấy đăng ký tạm trú). Tôi chỉ biết nơi làm việc của chồng tôi ?
Luật sư tư vấn và cho tôi lời khuyên làm cách nào tốt nhất. Cám ơn luật sư.

Toá án nào có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất,Điểm a, khoản 1, Điều 35, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định : “Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này”.

Như vậy do chị là người yêu cầu nên chị phải nộp đơn ly hôn ở toà án nhân dân cấp huyện nơi chồng chị đang cư trú, làm việc.

Thứ hai, Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con"

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác.

Bên cạnh đó Tòa án còn xem xét đến các yếu tố sau đây để đưa ra quyết định:

Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập… mà mỗi bên dành cho con, yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của chan mẹ;

Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm dành cho con, điều kiện cho con vui chơi giải trí, trình độ học vấn… của cha mẹ.

Như vậy Tòa án hoàn toàn có cơ sở để giao con cho chị nuôi.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn phân chia tài sản sau ly hôn theo quy định của pháp luật ? Trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn ?