Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Kính gửi luật sư Công ty luật Minh Khuê!

Đầu tiên, tôi muốn thông tin được bảo mật và tôi xin trình bày vấn đề của mình như sau. Ngày 27 tháng 3 năm 2020, tôi chính thức về nhà chồng. Lúc này tôi đang mang thai đươc 3 tháng và thời điểm này chồng tôi chỉ mới bắt đâù đi làm. Ở nhà chồng tôi còn có mẹ chồng và em chồng. Trong khoảng thời gian sống chung, tôi không được sự quan tâm từ mẹ chồng, bà ấy chỉ lo cho con trai út, không cần biết đến tình hình của tôi như thế nào. Cảm thấy rất buồn và khó chịu, tôi thương cho em bé trong bụng, bé không nhận được sự quan tâm. Ngay cả lúc tôi qua nhà mẹ ruột, bà cũng không qua thăm hỏi. Đến lúc tôi sinh bé và ở cữ, bà cũng chỉ qua cho có lệ, không mua đồ gì cho đứa cháu mới ra đời. Thái độ quá dửng dưng. Tôi không thể chấp nhận được.

Đỉnh điểm của sự việc là lúc tôi gần hết 1 tháng ở cữ, trước đó tôi đã có nói với chồng là ra ở riêng vì cảm thấy không hợp và nếu ở chung thì chồng tôi sẽ phải lo hết cho cả nhà và không ai chịu chủ động làm việc. Tôi không đồng ý nên có tranh cãi với chồng, sau đó mẹ chồng tôi cắt ngang và có lời lẽ xúc phạm tôi, lúc đó chồng tôi chỉ im lặng mà không có lời bênh vực hay ăn ủi. Tôi về thấy không được tôn trọng và về cảm thấy không thể nào tin tưởng vào người này nữa. Tôi đã đề nghị ly hôn ngay sau đó nhưng anh không đồng ý. Giờ tôi chỉ muốn kết thúc mối quan hệ này. Thật quá đáng sợ! Tôi có một số thắc mắc về cách làm thủ tục như sau, mong luật sư tư vấn giúp tôi:

1. Tôi và chồng đăng ký kết hôn ở quận 11 (nơi chồng tôi đăng ký hộ khẩu ), tôi muốn nộp đơn cho toà án quận 11 được không? Do sau khoảng thời gian tôi bỏ đi, tôi chỉ biết là gia đình nhà chồng đã dọn đi nhưng không rõ cụ thể là ở đâu.

2. Tôi có đọc sơ qua về các loại giấy tờ khi làm đơn, trong đó phải có CMND và hộ khẩu của chồng, do tôi đã không còn qua lại với chồng nên không thể lấy được. Vậy tôi chỉ có thể nộp các giấy tờ của tôi (Đơn đăng ký kết hôn, giấy khai sinh của bé, CMND) theo đúng quy định của luật pháp hay không?

3. Tôi muốn bỏ qua các bước hoà giải, vì cơ bản tôi không còn tình cảm với người này và không muốn mất nhiều thời gian. Vì tôi còn phải đi làm và lo cho bé, nay bé của tôi đã được 9 tháng tuổi. Vậy có được toà chấp nhận không?

Trân trọng,

Phương Quỳnh

TRẢ LỜI:

CƠ SỞ PHÁP LÝ

- Bộ luật dân sự 2015;

- Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Luật hôn nhân và gia đình 2014;

- Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn quy định trong phần thứ hai “thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi theo luật sửa đổi Bộ luật tố tụng dân sự do hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao ban hành;

- Các văn bản pháp luật khác;

NỘI DUNG TƯ VẤN

Luật hôn nhân và gia đình 2014 định nghĩa rất rõ: Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Luật Minh Khuê sẽ dựa trên Luật hôn nhân và gia đình để trả lời từng câu hỏi của Qúy khách như sau:

Câu hỏi 1: Tôi và chồng đăng ký kết hôn ở quận 11 (nơi chồng tôi đăng ký hộ khẩu ), tôi muốn nộp đơn cho toà án quận 11 được không? Do sau khoảng thời gian tôi bỏ đi, tôi chỉ biết là gia đình nhà chồng đã dọn đi nhưng không rõ cụ thể là ở đâu.

Trả lời:

Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”

Theo quy định này, Qúy khách có thể yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Vể thẩm quyền giải quyết đơn ly hôn:

Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

“Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.”

Trường hợp này, Tòa án quận/huyện/thành phố nơi người chồng của Qúy khách đang cư trú là nơi có thẩm quyền giải quyết. Do đó, Qúy khách phải xác định nơi cư trú của người chồng để nộp đơn theo quy định.

Mặt khác theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao tại khoản 6, điều 9 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP quy định “Đối với trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện có ghi đầy đủ cụ thể và đúng địa chỉ của người bị kiện, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị quyết này và Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị quyết này nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện, cho Toà án, nhằm mục đích giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện, thì được coi là trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ. Toà án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung.”

Trừ trường hợp, người chồng không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho Qúy khách nhằm mục đích giấu địa chỉ, trốn tránh Qúy khách thì lúc này Tòa án quận 11 sẽ phải giải quyết theo quy định (nếu người chồng Qúy khách vẫn có hộ khẩu tại đó).

Kết luận: Trong trường hợp của Qúy khách, qua thông tin Qúy khách cung cấp Luật Minh Khuê hiểu rằng hiện tại Qúy khách không biết nơi cư trú của người chồng chứ không phải do người chồng thường xuyên thay đổi nơi cư trú nhằm trốn tránh Qúy khách. Vì vậy, trường hợp này Qúy khách cần thu thập thêm thông tin, xác định nơi ở cụ thể của người chồng.

Câu hỏi 2. Tôi có đọc sơ qua về các loại giấy tờ khi làm đơn, trong đó phải có CMND và hộ khẩu của chồng, do tôi đã không còn qua lại với chồng nên không thể lấy được. Vậy tôi chỉ có thể nộp các giấy tờ của tôi (Đơn đăng ký kết hôn, giấy khai sinh của bé, CMND) theo đúng quy định của luật pháp hay không?

Trả lời:

Khoản 7 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

Điều 70. Quyền, nghĩa vụ của đương sự

Đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng. Khi tham gia tố tụng, đương sự có quyền, nghĩa vụ sau đây:

7. Đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản.

Như vậy, khi không thể cung cấp được sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân của chồng, Qúy khách có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý sổ hộ khẩu cung cấp thông tin, xuất trình về sổ hộ khẩu và chứng minh nhân dân của người chồng theo quy định.

Câu hỏi 3. Tôi muốn bỏ qua các bước hoà giải, vì cơ bản tôi không còn tình cảm với người này và không muốn mất nhiều thời gian. Vì tôi còn phải đi làm và lo cho bé, nay bé của tôi đã được 9 tháng tuổi. Vậy có được toà chấp nhận không?

Trả lời:

Điều 52 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.

Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

“Điều 205. Nguyên tắc tiến hành hòa giải

1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

2. Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình;

b) Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.”

Như vậy, khi đơn ly hôn được gửi đến Tòa án, dù đơn phương ly hôn hay thuận tình ly hôn thì cũng đều phải tiến hành hòa giải tại Tòa trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

“Điều 206. Những vụ án dân sự không được hòa giải

1. Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.

2. Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.

“Điều 207. Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được

1. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.

2. Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng.

3. Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.

4. Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.”

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềTư vấn về ly hôn đơn phương”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê