1. Thủ tục ly hôn khi vợ không có giấy đăng ký tạm trú?

Kính thưa tổng đài tư vấn, tôi xin hỏi câu hỏi sau: Tôi tên là P.T.Đ, thường trú tại Thành phố Kon Tum Tôi kết hôn với chị T (hộ khẩu chị ở Thành phố Hồ Chí Minh), có đăng ký kết hôn tại nơi tôi cư trú (thành phố Kon Tum) vào năm 2007. Chúng tôi sống tại tôi cư trú (thành phố Kon Tum), trong thời gian sống cùng nhau, tôi chưa chuyển khẩu vợ và đăng ký tạm trú cho vợ ở địa phương.

Chúng tôi có chung 1 đứa con gái, giấy khai sinh đăng kí tại Địa phương. Đến năm 2011 chúng tôi xảy ra mâu thuẫn, vợ tôi bế con vào Sài Gòn và không trở về cho đến nay. Thỉnh thoảng tôi có điện thoại thăm con và chu cấp tiền cho con tôi. Tôi lên toàn án làm thủ tục xin ly hôn đơn phương thì họ yêu cầu phải có giấy đăng kí tạm trú của vợ tôi từ năm 2007- 2011,nhưng thời gian vợ tôi sống cùng tôi thì chưa có đăng kí tạm trú. Công an phường xác nhận cho vợ sống cùng tôi từ năm 2007- 2011, từ năm 2011 thì không còn cư trú tại địa phương cũng không được tòa án chấp nhận. Khi vợ tôi mang con theo đi cũng cầm luôn giấy khai sinh của con tôi.

Nay tôi muốn làm thủ tục xin ly hôn đơn phương tôi phải làm như thế nào? Vì vợ tôi không đồng ý ly hôn.

Xin cảm ơn luật sư đã tư vấn và hỗ trợ !

>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Đồng thời theo quy định tại "Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...."

Trong trường hợp này, nếu anh có căn cứ chứng minh vợ anh vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ, làm cho hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài đời sống hôn nhân được thì anh hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án được xác định như sau:

“Điều 39. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;...”

Đồng thời, theo quy định của Điều 40 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 của Quốc hội:

1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống

3. Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.”.

Do đó, trong trường hợp anh dự định ly hôn đơn phương, do anh có thể xác định nơi vợ anh đang sinh sống, nên việc giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện nơi vợ anh đang sinh sống (tại Thành phố Hồ Chí Minh).

Theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 58, điểm a, khoản 1 Điều 59 BLTTDS, anh có nghĩa vụ “cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

Do đó anh cần cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc vợ anh đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh cho Tòa án.

Thủ tục ly hôn đơn phương như sau:

* Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

- Đơn ly hôn đơn phương

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con.

Về giấy khai sinh của con: pháp luật không yêu cầu nộp bản chính giấy khai sinh nên anh sẽ nộp bản sao có chứng thực giấy khai sinh của con.

Nếu anh không có bản sao giấy khai sinh của con thì khi anh nộp hồ sơ cho Tòa án, bạn cần kèm theo 1 đơn giải trình về sự việc không thể bổ sung được một số loại giấy tờ vì vợ anh đang giữ. Qua đó, tòa án xem xét và thụ lý đơn, trong quá trình thụ lý và giải quyết tòa án sẽ yêu cầu vợ anh bổ sung các loại giấy tờ cần thiết.

>> Xem thêm:  Xin tư vấn về thủ tục ly hôn ở tỉnh Hà Nam ? Quyền chia tài sản tặng cho khi ly hôn ?

2. Khi ly hôn tài sản sẽ được chia như thế nào?

Chào Luật sư, Tôi lấy chồng đến nay đã được 10 năm, hiện tại mâu thuẫn đến đỉnh điểm nên tôi đã làm ly hôn và đang đợi được giải quyết. Tôi và chồng sống chung với bố mẹ chồng, 10 năm qua tôi đã bỏ rất nhiều công sức tạo lập nên những tài sản gia đình nhà chồng. Không biết khi ly hôn tài sản này sẽ được giải quyết như thế nào ạ?

Trả lời:

Điều 61 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trường hợp của bạn do không nói rõ số tài sản nằm trong khối tài sản chung của gia đình bao gồm những gì và công sưc đóng góp ra sao nên chúng tôi không tư vấn cụ thể được. Vì vậy, chúng tôi sẽ chia làm hai trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì được chia căn cứ vào công sức đóng góp để duy trì, phát triển khối tài sản đó. Trong trường hợp này pháp luật tôn trọng thỏa thuận của các bên, nếu hai bên không thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản thì bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trường hợp 2: Nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định theo từng phần thì tài sản đó sẽ được trích ra từ khối tài sản chung để chia theo quy định của pháp luật ( Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014).

Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản vợ chồng khi ly hôn như sau:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng......

>> Xem thêm:  Muốn thay đổi quyền trực tiếp nuôi con sau ly hôn thực hiện như thế nào ?

3. Ly hôn khi chồng thờ ơ, bỏ bê con cái?

Thưa luật sư: trong trường hợp chưa ly hôn người vợ thờ ơ với con cái hay bỏ bê con cái vậy khi ly hôn có được nuôi dạy con không?. Tôi xin cảm ơn!

Ly hôn chồng có được nuôi con không khi vợ bỏ bê con cái ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định :

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con

Trường hợp hai bạn không thể thỏa thuận được về ai là người trực tiệp nuôi con thì tòa án sẽ quyết định giao con cho một người trực tiếp nuôi dưỡng, dựa trên các yếu tố về tinh thần và vật chất dành cho con. Trong đó có xét đến các trường hợp sau:

Theo đó nếu trường hợp nếu con bạn dưới 36 tháng tuổi thì về nguyên tắc sẽ do người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng trừ khi người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con thì trong trường hợp này bạn có thể trình bày với tòa là vợ bạn bỏ bê con cái, nhân cách sống không tốt không đủ điều kiện để nuôi con, không dành tình cảm cho con nhiều.

Trường hợp con bạn trên 7 tuổi thì phải hỏi ý kiến của con.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Ly hôn và giành quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

>> Xem thêm:  Kết hôn ở Malaysia thì ly hôn ở Việt Nam được không ?

4. Nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng sau ly hôn?

Em và chồng em sắp li hôn chồng em luôn chửi mắng e là ở nhà không làm ra tiền, ăn bám trong khi đó em ở nhà nuôi dạy con và chăn nuôi làm vườn nữa, giờ đây mâu thuẫn giữa em và bố mẹ chồng xảy ra chồng em không biết đúng sai thế nào cũng chửi mắng nặng nhẹ, đòi li dị. Em muốn hỏi rằng khi li dị em và con có được chia tài sản không?
Khi cưới bên ngoại cho em một cây vàng, bên nội cho tám chỉ rưỡi vàng em bán và gửi tiết kiệm bằng sáu mươi triệu. Ông bà nội cho hai mươi triệu thì vợ chồng em đã mua xe máy bằng hai mươi hai triệu.Ông bà cho năm mươi triệu làm vốn thì chồng em trước khi lấy em đã tiêu hết năm triệu còn mười lăm triệu được tính bằng ba chỉ vàng trong tổng số tám chỉ rưỡi. Vợ chồng em có làm được mấy sào mía chưa bán.
Vậy em xin hỏi khi li dị e sẽ được chia tài sản thế nào? Em có phải trả lại số tiền cho ông nội cho cháu hay không?

Kết quả hình ảnh cho chia tài sản của vợ chồng sau ly hôn

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất bạn và con có được phân chia tài sản không?

Theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 tài sản chung của vợ chồng là tài sảndo vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân như vậy kể cả trường hợp bạn chỉ ở nhà chăm con không đi làm ở ngoài thì toàn bộ tài sản do vợ hay chồng hay cả hai vợ chồng làm ra trong thời kì hôn nhân đều được xác định là tài sản chung của hai người và đã là tài sản chung thì sau khi ly hôn sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật. Tài sản này là tài sản chung của hai người nên nếu muốn phân chia cho con hay không sẽ dựa trên sự thỏa thuận của cả hai về việc chia cả tài sản cho con pháp luật không bắt buộc phải phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân cho con cái.

"Điều 33 Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Thứ hai phân chia tài sản như thế nào?

Căn cứ theo Điều 59 LHNGĐ về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn đó là :

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng...."

Trường hợp của bạn tài sản chung trước hết sẽ là hai sào mía chưa bán và chiếc xe máy đã mua, đối với tiền và vàng được gia đình bên nội và bên ngoại cho cần phải xác định xem là cho riêng từng người hay cho chung hai vợ chồng nếu cho chung hai vợ chồng tức là tài sản chung của hai vợ chồng mà hai người không tự thỏa thuận được thì được chia đôi tuy nhiên dựa trên các yếu tố quy định tại khoản 2 Điều 59 LHNGĐ tòa án sẽ phân chia tài sản. Nếu số tiền và vàng trên được cho riêng vợ hay chồng thôi thì sẽ được xác định là tài sản được tặng cho riêng của vợ chồng theo quy định tại Điều 43 LHNGĐ đối với tài sản riêng này sẽ không cần chia cho người còn lại sau khi ly hôn mà được xác định thuộc quyền sở hữu riêng của vợ hoặc chồng.

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

>> Xem thêm:  Chưa làm thủ tục chuyển khẩu về nhà chồng muốn ly hôn thì có ảnh hưởng gì không ?

5. Có thể thay đổi quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn không?

Thưa Luật sư, xin hỏi: Tôi và vợ tôi đã ly hôn được 1 thời gian, khoảng 5 năm. Lúc ly hôn con còn bé nên tôi đồng ý cho vợ nuôi. Nhưng hiện cháu đã lớn tôi muốn giành lại quyền nuôi cháu thì phải làm như thế nào?
Xin Luật sư tư vấn.

Trong trường hợp nào có thể thay đổi quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Khi hai vợ chồng ly hôn nếu con chung dưới 36 tháng tuổi thì thường Tòa án sẽ quyết định cho người mẹ trực tiếp nuôi con. Trong trường hợp muốn thay đổi quyền trực tiếp nuôi con thì căn cứ theo quy định sau:

Căn cứ theo điều 84, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.
4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.
5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.

- Như vậy việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây: Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

Thủ tục thay đổi người trực tiếp nuôi con:

- Đơn khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con;

- Chứng minh thư, sổ hộ khẩu người khởi kiện (bản sao công chứng)

- Giấy khai sinh của con (bản sao)

- Quyết định của Tòa án (Bản sao)

- Các tài liệu chứng minh cho yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là có căn cứ và hợp pháp

Nộp lên Tòa án nhân dân người đang trực tiếp nuôi con cư trú.

Hướng dẫn viết đơn khởi kiện giành quyền trực tiếp nuôi con:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày….. tháng ……năm 2018

ĐƠN KHỞI KIỆN

(Về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng sau khi ly hôn)

Kính gửi: Toà án nhân dân………………………………………………….

Người khởi kiện: Nguyễn Thị C

Địa chỉ:………………………………………………………………………………

Số điện thoại:………………………………………………………………………...

Địa chỉ thư điện tử:…………………………………………………………………

Người bị kiện:………………………………………………………………………

Địa chỉ:……………………………………………………………………………..

Số điện thoại:……………………………………………………………………

Yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

Tôi và Ông Phạm Văn A là vợ chồng. Năm 2014, vợ chồng tôi đã ly hôn theo đúng quy định của Pháp Luật, cụ thể: Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số:……/2016/QĐST-HNGĐ ngày……..tháng…….năm 2014 của Tòa án nhân dân………………………....ra quyết định:

“ Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa tôi và chồng tôi là Anh Phạm Văn A.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về con chung: Sau khi ly hôn, đối với con chung Phạm Văn B, sinh ngày…./../2005 giao cho anh Phạm Văn A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Phạm Văn A tự nguyện không yêu cầu chị Nguyễn Thị C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng. Chị Nguyễn Thị C được quyền năm nom con chung, không ai được cản trở chị C thực hiện quyền này.”

Thời gian đầu sau khi ly hôn theo Quyết định của Tòa án nhân dân………………………………………………nêu trên, Ông Phạm Văn A - chồng cũ của tôi là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Văn C - con chung. Tôi vẫn thường xuyên hỏi thăm cháu, đến chơi với cháu, đưa cháu đi chơi và mua quà cho cháu để cháu không bị thiếu thốn tình cảm của mẹ. Mặc dù tôi và Ông Phạm Văn A đã ly hôn nhưng trách nhiệm và nghĩa vụ của chúng tôi với hai con chung vẫn còn, vợ chồng tôi không muốn bố mẹ ly hôn nhau mà con cái bị thiếu thốn tình cảm của một trong hai người, cho nên vẫn cùng nhau chăm lo cho hai con.

Tuy nhiên, khoảng những tháng cuối năm 2017, chồng cũ tôi không còn lo lắng, quan tâm, chăm sóc, giáo dục cho cháu. Mặt khác, thời gian gần đây, cháu thường xuyên gọi điện cho tôi qua mạng xã hội Zalo, cháu đã nhắn tin và gọi điện cho tôi, lần nào cháu nói chuyện với tôi cháu cũng khóc và nói nhớ mẹ, muốn ở với mẹ.

Biết được nguyện vọng của con mình, tôi rất lo lắng và mong muốn cháu về ở với tôi vì hiện nay tôi vẫn đang sống một mình, tôi có đủ điểu kiện và thời gian để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu

Tôi đã tìm hiểu và được biết pháp luật có quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH 13 ban hành ngày 19 tháng 06 năm 2014, cụ thể như sau:

“ Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ”

Bằng đơn này, tôi kính đề nghị Quý Tòa xem xét và giải quyết tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn giữa tôi và Ông Phạm Văn A - chồng cũ của tôi và yêu cầu Ông Phạm Văn A thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung.

Rất mong QúyTòa xem xét và giải quyết cho yêu cầu của tôi và cho cháu được đứng trước tòa tham gia và tự đưa ra ý kiến của mình.

Tôi xin chân thành cám ơn.

Người khởi kiện

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Giành quyền nuôi cả 3 đứa con sau khi ly hôn ? Thủ tục xin ly hôn vắng mặt ?