1. Thủ tục ly hôn thực hiện ở đâu ? Thời gian, án phí ly hôn ?

Thưa luật sư, Tôi làm đơn ly hôn nhưng không gửi nơi nào ?chỗ làm cách nhà 35km nen đi về nhà,nhưng hộ khẩu thì ở chỗ làm.như vậy tôi gửi lên thị xã chỗ nhà ở chung được không?
Cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

Giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn sẽ theo trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự còn giải quyết yêu cầu ly hôn đơn phương giải quyết theo thủ tục của 1 vụ án dân sự theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi năm 2011 (Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015). Cụ thể như sau:

- Đối với trường hợp thuận tình ly hôn:

+ Sau khi vợ/chồng gửi hồ sơ xin ly hôn đến tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi 1 trong 2 vợ chồng cư trú, trong thời hạn 5 ngày làm việc tòa án sẽ kiểm tra đơn và gửi thông báo nộp tạm ứng án phí.

+ Sau khi nhận được thông báo tạm ứng án phí, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp biên lai tiền tạm ứng án phi cho Tòa án.

+ Trong thời hạn 15 ngày làm việc Tòa án tiến hành mở phiên hòa giải. Nếu Hòa giải không thành, xét thấy 2 bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

+ Trong thời 7 ngày làm việc từ ngày hòa giải không thành (không thay đổi quyết định về việc ly hôn), nếu các bên không thay đổi ý kiến Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

- Đối với trường hợp ly hôn đơn phương:

+ Thụ lý đơn ly hôn (đơn khởi kiện): Sau khi nhận được đơn từ nguyên đơn, sau 5 ngày làm việc Tòa án phải xem xét có thụ lý đơn hay không. Nếu hồ sơ hợp lệ thì Tòa án gửi thông báo cho nguyên đơn đóng tiền tạm ứng án phí, Tòa án ra quyết định thụ lý đơn ly hôn đơn phương từ thời điểm nguyên đơn nộp biên lai đã đóng tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 167 và Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi 2011.

+ Hòa giải: Theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì hòa giải tại Tòa án là thủ tục bắt buộc trước khi đưa vụ án ra xét xử. Nếu hòa giải thành thì tòa án lập biên bản hòa giải thành và sau 7 ngày mà các đương sự không thay đổi về ý kiến thì Tòa án ra quyết định công nhận hòa giải thành và quyết định này có hiệu lực ngay và không được kháng cáo kháng nghị. Nếu hòa giải không thành Tòa án cũng phải lập biên bản hòa giải không thành sau đó ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 183, 186, 187,188, 195 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi 2011

+ Phiên tòa sơ thẩm: Sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử các bên được Tòa án gửi giấy triệu tập và được thông báo rõ về thời gian, địa điểm mở phiên Tòa sơ thẩm. Theo đó các bên phải có mặt, nếu không có mặt thì áp dụng theo quy định tại Điều 199 và Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi 2011
Thời gian giải quyết vụ án tùy thuộc vào việc giải quyết các nội dung quan hệ vợ chồng. Thông thường, thời hạn chuẩn bị xét xử sẽ từ 4 đến 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án; thời hạn mở phiên tòa sẽ từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Như vậy, nếu thuận tình ly hôn, thời gian sẽ rút ngắn hơn.

Trong trường hợp thuận tình ly hôn, bạn nộp đơn tại Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi vợ/chồng cư trú hoặc làm việc. Trong trường hợp đơn phương ly hôn, bên yêu cầu ly hôn sẽ nộp tại Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi đã kết hôn tháng 6 năm 2012. Chúng tôi có 1 con gái sn 03.07.14. Một năm trở lại đây tình cảm vợ chồng chúng tôi xảy ra rất nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm rất lớn không thể hàn gắn được. Tôi muốn làm đơn xin ly hôn nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu. Chúng tôi đều đi làm xa nhà ở trọ nên rất mong chuyên gia tư vấn cho tôi về thủ tục, cách thức nộp đơn ly hôn một cách đầy đủ và nhanh chóng nhất. Còn nữa nếu tôi làm đơn, con tôi dưới 3t và tôi có công việc ổn định thì tôi có được quyền nuôi con không. Quả thật đó là điều không mong muốn nhưng sống với một người đàn ông vũ phu, gia trưởng và ích kỷ cả đời thì không những tôi mà cả con tôi đều khổ. Con tôi sẽ không thể phát triển bình thường được. Rất mong nhận được sự tư vấn của chuyên gia Xin trân trọng cảm ơn chuyên gia.

Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con"

Trong trường hợp của bạn, vợ chồng bạn sẽ thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con. Trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ xem xét, quyết định trên cơ sở bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con. Một số căn cứ có thể được xem xét như: điều kiện sống từ lúc cháu sinh ra đến khi ly hôn; đạo đức, lối sống có ảnh hưởng đến cuộc sống của cháu con sau này; điều kiện về kinh tế có thể bảo đảm cuộc sống cho con; điều điều kiện về chỗ ở và các điều kiện khác.

Thưa luật sư, cho e hỏi: em và chồng đã không còn ở với nhau 4 năm nhưng vẫn chưa ly hôn. Chúng em hiện có bé trai 5 tuổi rưỡi em đang nuôi dưỡng. Trong quá trình gửi đơn ly hôn e bận phải đi làm xa nhà nên e rút đơn thuận tình ly hôn lại mấy lần cho đến bây giờ vẫn chưa giải quyết được thủ tục ly hôn ,cách đây 1 năm em quen người khác và lỡ có thai ,em sinh em bé ra có thể lấy tên mẹ được không?

Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

Điều 88. Xác định cha, mẹ
1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Theo đó, về mặt pháp luật, em bé được coi là con chung của hai vợ chồng. Trong trường hợp người cha không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn về trình tự thủ tục và mẫu đơn ly hôn ?

2. Con tròn 3 tuổi khi ly hôn quyền nuôi sẽ thuộc về ai ?

Thưa Luật sư, vợ chồng tôi lấy nhau hơn 3 năm, có được 1 bé trai tính đến 31/7/2016 này được 3 tuổi. Trước đây vì vợ chồng mâu thuẫn, chồng tôi đã dẫn con về quê (Quãng Ngãi) mà không có sự đồng ý của tôi, vì tôi bất lực nên chấp nhận, kiềm nén vì nhớ con.Vợ chồng sống xa nhau một thời gian, vì thương chồng con nên tôi đã cố gắng. Đến bây giờ cuộc sống vợ chồng khó khăn, mâu thuẫn càng ngày nhiều. Ông bà nội dẫn cháu lên chơi, dù vậy vợ chồng tôi vẫn không có tiếng nói chung, tất cả vì tiền bạc, gặp khó khăn là xảy ra chuyện, tôi không đòi hỏi, tiết kiệm chi tiêu mọi thứ trong gia đình, vợ chồng cãi nhau, chồng tôi vẫn đánh tôi trước mặt con và ông bà, có lúc cầm giao đòi giết tôi.
Tôi rất mệt mỏi, 1 lần nữa tôi quyết định kết thúc mọi thứ, tôi đã dẫn con đi, nhưng vẫn để cha và ông bà gặp cháu, không cấm gì cả, chồng tôi đã xin lỗi và hứa không bao giờ như vậy nữa. Vì chủ quan nên chồng tôi đã bắt con dẫn về quê, mẹ chồng và chồng đã nói dối để dẫn cháu đi. Tôi đang kiếm công việc, khi có công việc ổn định tôi sẽ làm đơn ly hôn để dẫn con về. Tôi xin hỏi với số tuổi của con và tình trạng như vậy tôi có thể làm đơn ly hôn không và tôi có thể được nuôi con không? Và giấy tờ kết hôn và giấy khai sinh của con chồng tôi đã giữ tất cả. Chồng tôi làm lương 10tr, nhưng rất phung phí, không đủ tiêu xài cho cuộc sống của bản thân, ông bà nội ở nhà cũng già rồi không đi làm, nhà ở gần trường nên giữ xe ở nhà thôi, có lúc vợ chồng tôi gửi tiền về cho. Gia đình chồng tôi không có gì cả. Luật sư có thể góp ý về vấn đề ly hôn của tôi không ạ? Tôi chỉ cần được quyền nuôi con và không cần gì cả, vợ chồng tôi không có tài sản gì cả.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thủ tục ly hôn thực hiện ở đâu ? Thời gian giải quyết bao lâu ? mất bao nhiêu tiền án phí ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân qua điện thoại, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp của bạn, nếu bạn và chồng bạn cùng đồng thuận về việc ly hôn, và thỏa thuận được với nhau về vấn đề chia tài sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con thì Tòa án sẽ công nhận thuận tình ly hôn cho vợ chồng bạn theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân gia đình năm 2014:

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

Trong trường hợp, bạn muốn ly hôn, nhưng chồng bạn không đồng ý ly hôn. Bạn có thể nộp đơn lên Tòa án và yêu cầu đơn phương ly hôn. Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy, Pháp luật cho phép vợ/chồng đơn phương ly hôn trên cơ sở xem xét các căn cứ mà bên đơn phương xin ly hôn đưa ra. Cụ thể là các căn cứ chứng minh: "Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được"

Tình trạng hôn nhân của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần;

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hòa giải nhiều lần;

- Vợ chồng không chung thủy với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn nêu trên. Nếu thực tế cho thấy vợ chồng đã được nhắc nhở, hòa giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Theo những quy định trên, bạn cần chứng minh cho Tòa án hôn nhân của bạn rơi vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn nhan không đạt được.

Quyền nuôi dưỡng con cái sau ly hôn được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân, gia đình năm 2014:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy việc nuôi con sẽ do vợ chồng thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Vào thời điểm hiện tại, con của bạn dưới 36 tháng tuổi nên sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.

Thủ tục ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con.

- Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi thường trú của người ký đơn xin ly hôn.

Tuy nhiên trong trường hợp của bạn thì mọi giấy tờ kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh của con đều do chồng bạn giữ thì bạn có thể làm như sau:

+ Về hộ khẩu: Liên hệ với công an cấp phường, xã nơi bạn thường trú xác nhận rằng bạn có hộ khẩu thường trú khẩu thường trú tại địa phương. Bạn có thể làm một đơn xin xác nhận hộ khẩu thường trú riêng hoặc có thể nhờ công an xác nhận ngay vào đơn xin ly hôn.

+ Về giấy Đăng ký kết hôn: Liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi bạn đăng ký kết hôn trước đây để xin cấp bản sao.

+ Về khai sinh: Liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi đăng ký khai sinh cho con trước đây để xin cấp bản sao.

Khi liên hệ với các cơ quan chức năng để làm các giấy tờ nói trên, bạn có thể nói rõ lý do chồng bạn cầm hết giấy tờ và bạn muốn ly hôn nhưng chồng bạn không đồng ý để các cơ quan chức năng, kể cả tòa án biết để các cơ quan này giúp đỡ bạn. Khi nộp đơn cho tòa án, nếu vẫn thiếu giấy tờ nào đó theo yêu cầu của tòa án mà bạn không thể bổ sung được thì bạn cứ xin tòa nhận đơn, trong quá trình thụ lý và giải quyết tòa án sẽ yêu cầu chồng bạn bổ sung sau.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Xin tư vấn về thủ tục ly hôn ở tỉnh Hà Nam ? Quyền chia tài sản tặng cho khi ly hôn ?

3. Ly hôn ở đâu để không phải đi lại nhiều lần ?

Chào luật sư Minh Khuê. Luật sư cho tôi hỏi ạ: vợ chồng tôi ly thân hơn 2 năm rồi, mà giờ tôi muốn ly hôn. Cụ thể là hiện tại tôi không có giấy tờ gì của bên chồng. Tôi hộ khẩu ở Gia Lai, đăng ký kết hôn ở Bắc nơi chồng tôi có hộ khẩu. Luât sư tư vấn giúp tôi làm sao tôi không phải ra Bắc giải quyết nhiều lần ? Tôi không có gì tranh chấp gì cả.
Xin cảm ơn luât sư.

Ly hôn ở đâu để không phải đi lại nhiều lần ?

Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định:

"Điều 35 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:

a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật này;

c) Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của Bộ luật này;

d) Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này.

3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam..."

Thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ :

"Điều 39.Thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ:

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

b) Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết.."

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định :

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

Nếu vợ và chồng xin thuận tình ly hôn (tức là cả 2 cùng thỏa thuận giải quyết) thì thỏa thuận lựa chọn tòa án Huyện ở nơi đăng ký kết hôn hoặc nơi tạm trú của vợ chồng được giải quyết đều được.

Trường hợp vợ chồng không thống nhất được việc lựa chọn tòa án giải quyết hoặc vợ chồng không thống nhất với nhau về việ ly hôn phân chia tài sản và nuôi con thì thẩm quyền giải quyết là tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc. Nguyên đơn là người chủ động gửi đơn ly hôn. Trong trường hợp vợ chồng không tranh chấp thì bạn không phải đi lại nhiều lần.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Bài viết tham khảo thêm: Có thể ly hôn mà không cần ra tòa hay không ?

>> Xem thêm:  Muốn thay đổi quyền trực tiếp nuôi con sau ly hôn thực hiện như thế nào ?

4. Tư vấn ly hôn khi chưa đăng ký kết hôn ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Vợ chồng tôi có làm đám cưới nhưng chưa đăng ký kết hôn. Vợ chồng tôi có 1 con gái 4 tuổi, cháy mang họ bố, bây giờ vợ chồng tôi muốn chia tay nhưng gia đình chồng và chồng muốn dành quyền nuôi con.

Tôi không muốn cho chồng nuôi con, vậy giờ tôi phải làm thế nào?

Tôi xin trân thành cám ơn!

Người gửi: Canh Ha Ha

Con tròn 3 tuổi khi ly hôn quyền nuôi sẽ thuộc về ai ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

"Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con".

Theo đó, việc giải quyết con chung của hai bạn, sẽ giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con, như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đôií với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Do vậy, bạn có thể yêu cầu Tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi bạn và chồng đang cư trú để giải quyết vấn đề này.

Trân trọng cám ơn!

>> Xem thêm:  Kết hôn ở Malaysia thì ly hôn ở Việt Nam được không ?

5. Cha mẹ bắt ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

Chào Luật sư. Em có một vài câu hỏi liên quan đến luật Hôn nhân và gia đình. Em và chồng em kết hôn được 5 năm. Và có 1 cháu 5 tuổi. Việc kết hôn được tiến hành đúng và đầy đủ thủ tục pháp luật. Được chính quyền điạ phương và gia đình 2 bên đồng ý và chứng kiến.
Nhưng sau 5 năm chung sống cùng ông bà trong một mái nhà đã xảy ra rất nhiều mâu thuẫn dẫn đến bất hòa. Cụ thể là giữa chồng em và ông bà. ( ông bà là ba mẹ em. Vì chồng em ở rể). Thay vì sống chung không hợp thì ba mẹ em nên tạo điều kiện cho vợ chồng em ra ở riêng, nhưng đằng này ông bà lại ép bọn em ly hôn. Nhưng vợ chồng em vẫn yêu thương nhau và không hề có ý múôn ly hôn. Bố em nhiều lần mượn cớ say xỉn về nhiếc móc và xúc phạm bọn em. Và còn nói với em là nếu em không muốn ly hôn chồng thì hãy ra đi theo chồng nhưng không cho em bât kỳ tài sản gì. Và rồi em đã theo chồng về nhà chồng. Sau một thời gian bố mẹ em gọi điện cho bố mẹ chồng em rằng em mà ở đấy sẽ đến giết em. Đòi sẽ phá nhà bố mẹ chồng em. Và còn hù dọa rất rất nhiều cái khác nữa. Sau đó nữa phòng của vợ chồng em ở nhà ba mẹ em còn bị bố em phá cửa. Hình cưới của 2 vợ chồng cũng bị ông cắt xé , đập nát và ném ra ngoài. Sau nhiều lần hòa giải của cả hai bên gia đình đều không được kết quả gì.
Em rất mệt mỏi và đau khổ. Em phải làm sao đây ạ. Ba mẹ em làm như vậy là đã phạm vào luật nào ạ. Rất mong luật sư giải đáp thắc mắc. Và phải làm sao để giữ được hạnh phúc gia đình ạ ?
Em xin chân thành cảm ơn.

Luật sư trả lời:

Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

“1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.

Theo quy định nói trên thì người được quyền yêu cầu ly hôn là vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng. Khi vợ đang mang thai và đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng, chồng không có quyền được yêu cầu ly hôn.

Cha, mẹ, người thân thích khác chỉ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Theo quy định tại điểm e, khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, “cưỡng ép ly hôn” là một trong các hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình.

Đối chiếu quy định của pháp luật viện dẫn ở trên, vợ chồng bạn hoàn toàn bình thường, rất yêu thương nhau nên việc bố mẹ vợ của bạn ép buộc vợ chồng bạn phải ly hôn là trái pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 110/2009/NĐ-CP ngày 10/12/2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, người có hành vi “Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác” sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đến 300.000 đồng

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chưa làm thủ tục chuyển khẩu về nhà chồng muốn ly hôn thì có ảnh hưởng gì không ?