1.Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là như thế nào ?

>> Xem thêm: Mẫu đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm: Vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là vật hoặc tiền có thể là công cụ, phương tiện phạm tội cũng có thể là thông qua phạm tội mà có hoặc là do mua, bán, chuyển nhượng hoặc có thể là những vật do Nhà nước cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, lưu hành. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là một biện pháp tư pháp hỗ trợ cho hình phạt để đạt được mục đích của hình phạt. Khi xét xử vụ án hình sự, Tòa án ra bản án và phải ghi trong phần quyết định của bản án việc xử lý những vật, tiền liên quan trực tiếp đến việc thực hiện tội phạm được các cơ quan tiến hành tố tụng thu giữ, kê biên trong quá trình tố tụng để quyết định sung công quỹ Nhà nước hay trả lại cho chủ sở hữu hoặc tiêu hủy. Biện pháp tư pháp tịch thu những vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm chỉ do Tòa án quyết định, các cơ quan khác không có quyền áp dụng biện pháp này

Căn cứ pháp lý theo điều 47 Bộ luật hình sự 2015 quy định :

Điều 47. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

1. Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với:

a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;

b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội;

c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.

2. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

3. Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu.

2. Quy định của luật như sau

>> Xem thêm: Mẫu đơn bãi nại vụ án hình sự, giảm nhẹ hình phạt mới nhất 2021

Việc xử lý với tiền, vật trực tiếp liên quan đến tội phạm được giải quyết cụ thể:

Thứ nhất: Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Đây là những công cụ, phương tiện mà người phạm tội đã sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, như: dao, súng, xe mô tô của người phạm tội sử dụng trong các vụ cướp tài sản, tiền mà người phạm tội sử dụng trong đánh bạc, đưa hối lộ mà có.

Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc đổi do đổi chác, mua bán những thứ ấy mà có là những vật hoặc tiền có được do việc thực hiện tội phạm như tham ô, trộm cắp, cướp, lừa đảo hoặc do sự mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có.

Vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành là những vật mà người phạm tội sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc là đối tượng của việc thực hiện tội phạm, những vật này thuộc loại nhà nước cấm lưu hành như: Văn hóa phẩm đồi trụy, vũ khí quân dụng, ma túy, chất cháy, chất nổ, chất độc, chất phóng xạ.

Thứ hai: Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Có nghĩa là những vật, tiền này là của người khác và xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, đã bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép. Trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

>> Xem thêm: Tù chung thân có được giảm xuống thành tù có thời hạn không? Mẫu đơn xin giảm án phạt tù ?

Thứ ba: Trường hợp vật, tiền thuộc tài sản của người khác nếu người này có lỗi trong việc để cho người khác sử dụng vào việc thực hiện tội phạm thì có thể bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Trường hợp này luật quy định “có thể bị tịch thu”, được hiểu tùy vào từng vụ án, với loại tiền hoặc vật cụ thể Tòa án quyết định biện pháp xử lý có tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hay không. Khi quyết định vấn đề này, Tòa án cần nghiên cứu kỹ hình thức lỗi của người có tiền hoặc vật để người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm.

Nếu chủ sở hữu là người có lỗi cố ý hoặc vô ý thì ngoài việc có thể bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, hành vi của chủ sở hữu có thể là đồng phạm với vai trò giúp sức (nếu lỗi cố ý) hoặc có thể cấu thành một tội phạm độc lập khác (nếu là lỗi vô ý).

Ví dụ: A biết B mượn súng (loại súng tự chế) để đi cướp tài sản nhưng A vẫn cho B mượn súng để đi cướp ngân hàng C. Khi thực hiện hành vi cướp ngân hàng C thì B bị bắt giữ, trường hợp này ngoài việc khẩu súng A cho B mượn sẽ bị tịch thu, A còn bị xử lý trách nhiệm hình sự là đồng phạm với B về tội Cướp tài sản với vai trò là người giúp sức.

3.Áp dụng biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm làm nhục người khác

1. Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội làm nhục người khác (máy tính, điện thoại,…) thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của người phạm tội; vật hoặc tiền do phạm tội mà có (tiền công làm nhục người khác thuê,…) hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có thì bị tịch thu (khoản 1 Điều 47 BLHS 2015).

*Vật, tiền là đối tượng xem xét tịch thu nêu trên cũng đồng thời là vật chứng được quy định tại Điều 89 BLTTHS 2015 nên việc xử lý vật, tiền này cũng được thực hiện theo quy định, hướng dẫn về xử lý vật chứng trong vụ án hình sự.

Vật bị tịch thu không có giá trị, không sử dụng được hoặc hết hạn sử dụng thì bị tiêu hủy; những vật bị tịch thu có giá trị hoặc tiền bị tịch thu thì sung ngân sách nhà nước (khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015) (Tham khảo thêm về bảo quản và xử lý tài sản là vật chứng tại mục I Thông tư liên tịch 06/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTC-BTP).

>> Xem thêm: Thời gian giải quyết vụ án hình sự là bao lâu ? Điều kiện miễn trách nhiệm hình sự là gì ?

2. Đối với công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội hoặc tiền thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà được trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (khoản 2 Điều 47 BLHS 2015). Trừ trường hợp cá nhân, tổ chức nêu trên có lỗi trong việc để người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm thì có thể bị tịch thu sung ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy (khoản 3 Điều 47 BLHS 2015).

Lưu ý: Vật, tiền là đối tượng xem xét tịch thu mà có tranh chấp về quyền sở hữu thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự (khoản 4 Điều 106 BLTTHS 2015). Nếu kết quả giải quyết xác định vật, tiền thuộc các trường hợp 1 nêu trên thì bị tịch thu, nếu thuộc trường hợp 2 thì có thể tịch thu hoặc trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

3. Cơ quan có thẩm quyền quyết định tịch thu sung ngân sách, tịch thu tiêu hủy hoặc trả lại vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (khoản 1 Điều 106 BLTTH 2015):

- Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra;

- Viện kiểm sát nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố;

- Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử;

- Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử.

>> Xem thêm: Điều kiện để được giảm án, đặc xá quy định mới nhất năm 2021 ?

4. Những vướng mắc áp dụng biện pháp tư pháp tịch thu tiền, vật trực tiếp liên quan đến tội phạm

>> Luật sư tư vấn pháp Luật Hình sự gọi: 1900.6162

Trong thực tiễn việc áp dụng biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm còn vướng mắc, bất cập; có những quan điểm, cách hiểu khác nhau, dẫn đến áp dụng chưa đúng, sai đối tượng; điều đó làm giảm ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp này và gây thiệt hại cho những người có liên quan.

Thứ nhất: Đối với những tội phạm được thực hiện do lỗi vô ý, như vụ án giao thông, hiện nay giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự còn có những quan điểm khác nhau giữa tịch thu hay không tịch thu phương tiện gây tai nạn giao thông.

Ví dụ: Phan Ngọc P điều khiển xe mô tô 77C1.81158, do không chú ý quan sát, đi sai làn đường đã tông vào xe mô tô do anh S điều khiển chở theo chị B. Hậu quả làm cho anh S chết trên đường đi cấp cứu, chị B bị thương tỷ lệ thương tật 31 %.

P bị điều tra, truy tố, xét xử về tội: ‘‘Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ’’ (Điều 260 BLHS). Sau tai nạn P đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại, chi phí mai táng, tiền tổn thất tinh thần cho gia đình anh S số tiền 120.000.000 đồng; bồi thường chi phí điều trị cho chị B số tiền 40.000.000 đồng. Vụ án trên có những quan điểm khác nhau về việc xử lý xe mô tô do P điều khiển là phương tiện gây tai nạn.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Cần tịch thu xe mô tô do P là chủ sở hữu điều khiển đã gây tai nạn làm chết 01 người, bị thương 1 người; xe mô tô là phương tiện dùng vào việc phạm tội, do đó áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS tịch thu sung quỹ nhà nước phương tiện này.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Hành vi của P điều khiển xe mô tô đi sai làn đường, không chú ý quan sát, gây tai nạn giao thông hậu quả làm chết 01 người, bị thương 01 người với lỗi vô ý. Sau khi tai nạn và trước khi mở phiên tòa, P đã thỏa thuận bồi thường xong toàn bộ thiệt hại, chi phí mai táng, tiền tổn thất tinh thần cho bị hại S và bồi thường xong thiệt hại, chi phí điều trị cho bị hại B, gia đình người bị hại không có ý kiến gì về bồi thường thiệt hại. Vì vậy, không tịch thu xe mô tô 77C1.81158, mà trả lại xe mô tô cho P.

Đồng ý với quan điểm thứ hai: không tịch thu đối với phương tiện đã gây tai nạn mà phải trả lại cho chủ sở hữu, khi P thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại, các nghĩa vụ khác mà bản án đã tuyên; trường hợp nếu P chưa thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại, án phí có thể tạm giữ xe mô tô để đảm bảo thi hành án. Khi P thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ khác sẽ trả lại xe cho P, bởi hành vi phạm tội của P gây ra hậu quả chết 1 người, bị thương 1 người với lỗi vô ý, điều luật quy định là “dùng” vào việc phạm tội, chủ sở hữu trước khi gây tai nạn hoàn toàn không có ý định thực hiện hành vi phạm tội nên không thể áp dụng biện pháp tư pháp là tịch thu phương tiện được.

Thứ hai: Xác định công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; vật, tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có, để áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS giữa các Tòa án chưa thống nhất, xác định không đúng phương tiện dùng vào việc phạm tội, nhầm lẫn giữa khái niệm vật, tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có. Việc áp dụng của cơ quan tiến hành tố tụng mang tính tùy nghi, có trường hợp người phạm tội bị tịch thu có trường hợp lại không bị tịch thu.

Ví dụ: Vụ án thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 15/3/2019, Lê Văn T sau khi hết giờ làm việc tại Công ty, T điều khiển xe mô tô về nhà. Trên đường đi về nhà do cần tiền tiêu xài, T quan sát thấy nhà anh N không đóng cửa, T nảy ý định và thực hiện hành vi trộm cắp 1 điện thoại di động, 1 máy tính lap top Dell và 3 triệu đồng. Khi T vừa ra khỏi cổng thì bị phát hiện và bị bắt giữ. Cơ quan điều tra đã thu giữ 1 điện thoại đi động, 1 máy tính laptop Dell, 3 triệu đồng và chiếc xe mô tô. Xe mô tô được xác định là phương tiện phạm tội, là tài sản chung của vợ chồng T. Trường hợp này Tòa án có áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS để tịch thu xe mô tô sung vào ngân sách nhà nước hay không.

Vụ án thứ hai: Tối ngày 28/7/2019, Nguyễn Anh M có ý định trộm cắp tài sản bán kiếm tiền tiêu xài. Khoảng 21 giờ M điều khiển xe mô tô từ nhà đến khu vực trước cổng trường THPT H, thấy không có người, M lẻn vào lấy trộm 3 máy tính laptop Acer đem ra ngoài chuẩn bị chở đi thì bị nhân viên bảo vệ trường H phát hiện bắt giữ. Nguyễn Anh M bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản”. Xe mô tô là tài sản chung của vợ chồng M, được xác định là phương tiện phạm tội. Trường hợp này Tòa án có áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hay không.

>> Xem thêm: Hình phạt tù là gì ? Khi nào được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

Qua hai vụ án trên, có những quan điểm khác nhau về việc xử lý xe mô tô. Có quan điểm cho rằng: Đối với vụ án thứ nhất, người chồng sử dụng xe đi làm sau đó trên đường về nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Người vợ hoàn toàn không biết và không có lỗi trong vụ án này. Do đó, ở vụ án thứ nhất không tịch thu xe mô tô sung vào ngân sách nhà nước. Vì nếu tịch thu sung ngân sách nhà nước sẽ vi phạm quyền tài sản của người vợ. Đối với vụ án thứ hai, người chồng có ý định trộm cắp tài sản đã điều khiển xe từ nhà đi tìm địa điểm để thực hiện hành vi trộm cắp. Do đó, trong vụ án thứ hai người vợ cũng có lỗi trong việc quản lý tài sản. Nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS tịch thu xe mô tô sung vào ngân sách nhà nước.

Quan điểm tác giả: Xe mô tô trong hai vụ án trên đều được xác định là phương tiện phạm tội. Mặc dù là tài sản chung của vợ chồng, nhưng người chồng đã sử dụng làm phương tiện để trộm cắp tài sản nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS 2015 và khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015 tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trong trường hợp xe mô tô là tài sản chung, là sinh kế quan trọng của hai vợ chồng, người chồng sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản, nếu tịch thu xe dẫn đến người vợ không có phương tiện làm ăn sinh sống thì không tịch thu xe, đảm bảo tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật.

Thứ ba, trường hợp tài sản chung của vợ chồng là xe ô tô đã đem thế chấp ngân hàng (giấy tờ xe ô tô do ngân hàng quản lý) nhưng bị cáo sử dụng xe ô tô vào việc phạm tội, xử lý như thế nào, tịch thu hay không tịch thu xe ô tô là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Vấn đề này còn những quan điểm, cách hiểu khác nhau.

Bất cập trong áp dụng biện pháp tịch thu sung vào ngân sách nhà nước khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

Tuy nhiên, xét ở góc độ hợp lý, cần phải cân nhắc thêm vấn đề này vì những lý do sau: Thứ nhất, mặc dù quyền tặng cho, hay từ bỏ quyền sở hữu là quyền của chủ sở hữu, nhưng nếu cho phép người phạm tội được hưởng lợi từ việc chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản thì việc làm này đã vô tình khuyến khích việc thực hiện tội phạm; Thứ hai, nếu không tịch thu tài sản do thu lợi bất chính mà có sẽ làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật hình sự, làm giảm hiệu quả của đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy, tác giả cho rằng, tài sản thu lợi bất chính từ việc phạm tội cần phải được tịch thu sung vào ngân sách của Nhà nước.

5. Một số kiến nghị cần điều chỉnh

Để khắc phục những vướng mắc, bất cập khi áp dụng biện pháp tư pháp ‘‘Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm’’ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền cần có văn bản hướng dẫn những vấn đề sau:

Thứ nhất, đối với những tội phạm thực hiện do lỗi vô ý, như vụ án giao thông khi chủ sở hữu phương tiện đã thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ khác thì không tịch thu đối với phương tiện gây đã tai nạn mà phải trả lại cho chủ sở hữu.

Thứ hai, đối với công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; vật, tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có trường hợp nào không bị tịch thu, trường hợp nào tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Thứ ba, trường hợp tài sản chung của vợ chồng là xe ô tô đã đem thế chấp ngân hàng (giấy tờ xe ô tô do ngân hàng quản lý) bị cáo sử dụng xe ô tô vào việc phạm tội, xử lý như thế nào.

Thứ tư, cần có quy định trong mọi trường hợp tài sản hoặc tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội cần phải bị tịch thu sung vào ngân sách của Nhà nước, như thế mới giải quyết triệt để vụ án, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về trách nhiệm hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: thế nào là phạm tội chưa đạ?

Trả lời:

Căn cứ theo điều 15 Luật hình sự 2015 quy định :

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Câu hỏi: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm ?

Trả lời:

Căn cứ theo điều 16 luật hình sự 2015 quy định :

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Câu hỏi: Che giấu tội phạ là gì ?

Trả lời:

Căn cứ theo điều 18 luật hình sự 2015 quy định :

1. Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

2. Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.