1. Khái niệm

Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là (Hành vì) mua, trao đổi, nhận hoặc giúp cho việc mua bán, trao đổi tài sản mình biết rõ là tài sản do hành vi phạm tội của người khác mà có (do trộm cắp tài sản, tham ô tài sản, cướp tài sản...).

Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lí xã hội cũng như hoạt động tư pháp trong điều tra, truy tố, xét xử tội phạm.

Trong luật hình sự Việt Nam, hành vi này đã được quy định là tội phạm trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985). Trong Pháp lệnh trừng trị các tôi xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân năm 1970 đều có điều luật quy định về tội này, Trong Bộ luật hình sự năm 1985 Và năm 1999, tội này được quy định thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng cùng với hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.

2. Đối tượng tác động của tội

Đối tượng tác động của tội này là tài sản do (người khác) phạm tội mà có. Đó có thể là bất kì tội phạm nào được quy định trong Bộ luật hình sự mà kết quả trực tiếp của nó là chủ thể có được tài sản một cách bất hợp pháp.

3. Lỗi

Lỗi của người phạm tội là cố ý, thể hiện ở chỗ là chủ thể phải biết rõ tính chất của tài sản mà mình tiêu thụ (tài sản do hành vi phạm tội mà có).

Cần chú ý, hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội ở tội này được thực hiện không có sự hứa hẹn trước với người có tài sản do phạm tội mà có. Do vậy, hành vi tiêu thụ không có tác động đến việc thực hiện tội phạm của người có tài sản do phạm tội mà có. Đây là điểm khác so với hành vi giúp sức trong đồng phạm. Hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có sự hứa hẹn trước là hành vi có tác động đến việc thực hiện tội phạm của người có tài sản do phạm tội mà có và do vậy, bị coi là hành vi giúp sức trong đồng phạm.

Hình phạt chính được quy định cho tội này có mức tối đa là 10 năm tù. Hình phạt bổ sung của tội này có thể là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản.

4. Quy định pháp luật

Theo quy định tại Điều 323 – Bộ luật hình sự năm 2015 về Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau:

“1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

d) Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

5. Phân tích quy định

Thứ nhất: Điều luật quy định hai tội gồm:

– Tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.

– Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Thứ hai: Các yếu tố cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có:

Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội phạm này có các dấu hiệu sau:

– Có hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có. Đây là hành vi nhận giữ tài sản của người khác và biết rõ tài sản này do người đó phạm tội (thông thường là các tội về chiếm đoạt) mà có được mặc dù không có hứa hẹn trước với người giữ tài sản.

Ví dụ: Một người quen gửi một chiếc xe gắn máy và biết rõ đây là xe lấy trộm được và người phạm tội đã đồng ý giữ hộ mà không báo với cơ quan có thẩm quyền.

– Có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đây là hành vi chuyển dịch quyền sở hữu tài sản như bán, trao đổi…tài sản mà mình biết rõ tài sản đó là do người khác phạm tội mà có (mặc dù không hứa hẹn trước).

Ví dụ: Nhận bán hộ một người bạn một chiếc xe gắn máy và biết rõ là xe này là do người đó trộm cắp mà có được và đồng ý đem đi bán chiếc xe đó.

Cần lưu ý: Các hành vi nêu trên phải có điều kiện là:

+ Không có sự hứa hẹn trước với người giao tài sản là sẽ chứa chấp hoặc sẽ tiêu thụ tài sản của ngưòi đó.

+ Khi nhận tài sản hoặc tiêu thụ tài sản thì mới biết rõ là do người giao tài sản phạm tội mà có được tài sản đó.

+ Căn cứ để xác định người phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngưòi khác phạm tội mà có phải “do phạm tội mà có” chứ không phải căn cứ vào giá trị tài sản mà họ chứa chấp, tiêu thụ. Nếu người có được tài sản đó nhưng không phải là do phạm tội mà do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác mà có, hoặc có hành vi của người có tài sản đó thiếu một trong các yếu tố cấu thành tội phạm thì chưa gọi là tài sản do phạm tội mà có.

Khách thể:

Hành vi nêu trên xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

Mặt chủ quan:

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Chủ thể:

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ nguòi nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Thứ ba: Về hình phạt.

Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành bốn khung, cụ thể như sau:

– Khung một (khoản 1)

Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Khung hai (khoản 2)

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

d) Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

– Khung ba (khoản 3)

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

– Khung bốn (khoản 4)

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên.

– Hình phạt bổ sung (khoản 5)

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể, ngưòi phạm tội còn có thể bị:phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.