Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10

Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009

Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11

Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13

Bộ luật hình sự năm 2015

Nghị quyết 109/2015/QH13 thi hành Bộ luật hình sự

Nghị định số 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Thông tư số 166/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính : Quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn và bào chữa cho bị can, bị cáo, người phạm tội trong các vụ án hình sự

2. Nội dung tư vấn:

Mình có mua online qua mạng quần áo và gửi đi 750. 000 Nhưng bị lừa họ không gửi hàng cho mình! Mà hình như số tài khoản là của một bên thứ ba! Thực ra số tiền không nhiều, mình muốn bỏ qua nhưng nghĩ lại có thể tội phạm cứ nhởn nhơ và lừa nhiều người khác nữa! Xin tư vấn giúp mình vấn đề nảy xử lý thế nào, mình cũng khá ngại các thủ tục. Xin nhớ văn phòng luật sư tư vấn
Luật sư ơi cho e hỏi e bị lừa mất 8tr500 nghì vì lạp thẻ cho họ .Ho nt bảo bạn đã chúng thưởng từ trương trinh tri ân khách hàng do honda và facebook tài chợ và họ bảo e thanh toán phí làm hồ sơ nhận tiền và phần thưởng e lap 1500 thẻ xong họ lại bao lạp thêm tiền thuế 5% nữa là 7100 nghìn e cả tin lên mất e có tất cả đầu số đt và địa trỉ của chúng e muốn tố giác tội lừa đảo thỳ làm thế nào?có lên tố giác ko?nếu tố giác bắt dk tội phạm e có dk hoàn lại số tiền họ lưa e ko???nếu tố giác e có ảnh hưởng gì ko?mong luật sư tư vấn giup e với??? 

Điều 139 Bộ luật Hình sự quy định như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
 1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.
Điều 140 Bộ luật Hình sự quy định:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

>> Xem thêm:  Luật sư và cơ quan tố tụng: Loay hoay tìm tiếng nói chung

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này”

Dấu hiệu để phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) và tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140) chính là hành vi khách quan của tội phạm:

Cả 2 tội trên người phạm tội đều có thủ đoạn "gian dối" và hành vi "tự nguyện giao tài sản" (dựa trên sự tín nhiệm) của nạn nhân. Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện thủ đoạn gian dối là khác nhau:

- Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139): Thủ đoạn gian dối xuất hiện ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản. (Xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt).

- Đối với tội lạm dụng tín nhiệm (Điều 140): Việc giao và nhận hoàn toàn ngay thẳng dựa trên hợp đồng (vay, mượn, thuê..) và sự tín nhiệm (người quen biết..). Sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc đánh tráo, hoặc gian dối là bị mất…Không trả lại tài sản do không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, cầm đồ… 

Như vậy, trong trường hợp này, nếu họ có những hành vi như đã phân tích ở trên thì họ hoàn toàn cấu thành nên tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định như sau:

"Điều 76. Xử lý vật chứng

>> Xem thêm:  Chứng cứ luật sư đưa ra thường bị tòa xem nhẹ, vì sao?

1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

2. Vật chứng được xử lý như sau:

a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ;

b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;

c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;

d) Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật;

đ) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.

4. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự."

Như vậy, trong trường hợp này, tài sản vẫn sẽ trả lại cho bạn.

>> Xem thêm:  Tội quảng cáo gian dối theo luật hình sự

Hiệu lực về thời thời gian. Mục 3 có nói "Điều luật xóa bỏ một tội phạm,..........có lợi cho tội phạm thì được áp dụng với những hành vi phạm tội trước khi Bộ luật có hiệu lực thi hành. Vậy, những người đang chịu án phạt thì có được áp dụng không? Ví dụ: Tội Tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mức cũ cao nhất là chung thân, giờ chuyển xuống mức cáo nhất là 20 năm, thì những người đang thụ án tù chung thân có được chuyển xuongs khung phatj là 20 năm như Luật mới không? Xin trân trọng cảm ơn.

Điểm g Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 109/2015/QH13 quy định

"g) Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2016, thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trong trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c khoản này; "

Như vậy, tù chung thân không được chuyển sang khung phạt 20 năm.

Xin chào cty luật minh khuê..e xin hỏi về thủ tục xóa án tích.nhờ cty tu vấn dùm e voi. Hiện tại e đang làm trong nghành công an,mà gio e đang quen bạn gái của e có chút vấn đề về lí lịch e,sự việc là bố cô ấy thời thanh niên có tham gia vào việc đánh nhau và bị bắt vì tội không tố giác tội phạm,bị kết án 1 năm tù cách đây 23 năm về trước.. vậy tu thời điểm đó tới h có phải làm đon xóa án tích hay các co quan đã xóa rồi ạ. Nhờ cty tu vấn jiup e

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bố bạn gái bạn bị kết án tù 23 năm trước, do đó đối chiếu theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 thì nếu như bố bạn gái bạn chưa thực hiện việc xóa án tích thì án của bố bạn gái bạn vẫn còn. Do đó, trong trường hợp này, bạn nên yêu cầu bố bạn gái bạn thực hiện thủ tục xóa án tích. 

luật sư cho e hỏi. bạn em có kinh doanh bình đựng rượu inox trên mạng, gần đây bị công an phòng chống tội phạm công nghệ cao bắt và gán vào tội kinh doanh hàng k đăng ký, k rõ nguồn gốc, k nộp thuế, sủ dụng hình ảnh người nổi tiếng để quảng cáo trên fanpage. cho em hỏi tội như vậy giải quyết như thế nào ạ? mức phạt ra sao ạ? vì chỉ là sinh viên buôn bán thôi liệu có đc nhẹ tội? Đã gửi từ iPhone của tôi

Do bạn không nêu rõ cụ thể vấn đề của bạn là như thế nào, ví dụ: đã bị xử phạt hành chính hay chưa, hàng có số lượng bao nhiêu,... do đó chúng tôi không thể trao đổi chính xác với bạn được. Trong trường hợp này, bạn có thể căn cứ theo các quy định của Điều 159, Điều 161 Bộ luật Hình sự, Nghị định 155/2013/NĐ-CP, Nghị định 166/2013/NĐ-CP để xác định xem mình sẽ bị xử lý thế nào.

câu 1: A 19 tuổi vì có mâu thuẫn nên cầm gậy đánh chị B 43 tuổi, làm chị B bị thương tích 33%.vậy đối tượng điều chỉnh luật hình sự việt nam chính là quan hệ giữa A và B cụ thể là A phải bồi thường cho B 25 triệu đồng.? câu 2: Quan hệ pháp luật hình sự chính là các quan hệ xã hội bị xâm hại bởi tội phạm? vậy đó là dúng hay sai ạ ? em mong được hồi đáp sớm!

Câu 1: Sai Đối tượng điều chỉnh là quan hệ xã hội giữa nhà nước và người phạm tội.

Câu 2: Đúng

nhờ làm rõ ví dụ về tội phạm hoàn thành cho em hiểu với ạ

Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm.

Có thể được hiểu là: Khi tội phạm hoàn thành thì hành vi phạm tội đã có đủ các dấu hiệu phản ánh đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của loại tội đó. Với quan niệm về tội phạm hoàn thành như vậy, luật hình sự Việt Nam khẳng định: Thời điểm tội phạm hoàn thành không phụ thuộc vào việc người phạm tội đã đạt được mục đích của mình hay chưa. Khái niệm tội phạm hoàn thành không dùng để chỉ thời điểm người phạm tội đạt được mục đích của mình, khi tội phạm hoàn thành thì cũng có thể người phạm tội đã đạt được đã đạt được mục đích của mình nhưng cũng có thể chưa đạt được mục đích đó. Nói tội phạm hoàn thành là hoàn thành về mặt pháp lý – tức tội phạm đã thỏa mãn hết các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Tội phạm khi đã hoàn thành về mặt pháp lý, có thể cũng dừng lại không xảy ra nữa trong thực tế nhưng cũng có thể tiếp tục xảy ra. Ngược lại, tội phạm tuy đã dừng lại nhưng có thể chưa hoàn thành.

Ví dụ: Tội giết người là cấu thành vật chất nên tội phạm hoàn thành khi chết người đã xảy ra.

>> Xem thêm:  Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Chào luật sư ! Cháu tên lê năm nay 22 tuổi. Cháu đã có gia đình và ly hôn rồi. Vợ cháu được quyền nuôi con cháu có trách nhiệm cấp dưỡng. Nhưng sau 1 thời gian vợ cháu không nuôi con nữa mà bỏ theo người yêu. Cháu đã ra đề nghị gia đình bên ngoại cho cháu được đem con về nuôi nhưng gia đình ngoại không đồng ý vì vợ vẫn một mực nói muốn nuôi con. Trong khi con cháu chưa được 3 tuổi nên cháu không thể tranh chấp được. Và bây giờ vợ cũ cháu bị bắt vì liên quan tới tội phạm buôn ma túy đá. Vậy thưa luật sư bây giờ cháu có thể tranh chấp quyền nuôi con được không ạ. Nếu như cháu tranh chấp thì cần những giấy tờ gì. Điều kiện nuôi dưỡng thì bên cháu cũng bằng bên ngoại. Kể cả vật chất,tinh thần,gần trường gần chợ. Nếu bên ngoại vẫn cố chấp không cho cháu đem con về nuôi thì có bị phạm pháp không. Mong luật sư tư vấn giúp cháu.. cháu xin cảm ơn!

Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.
4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.
5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ."

Như vậy, trong trường hợp này, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cho mình nếu như bạn có căn cứ chứng minh vợ mình không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Ví dụ: bản án của Tòa,...

yếu tố cấu thành tội phạm theo điều 229 luật hình sự: vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng

 Các yếu tố cấu thành tội phạm

Chủ thể: Chủ thể của tội phạm này tuy không phải là chủ thể đặc biêt, nếu là chủ thể đặc biệt thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 của điều luật.

Khách thể: Tội vi phạm quy định về xây dựng là tội phạm xâm phạm đến sự an toàn về xây dựng mà cụ thể là sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản trong quá trình khảo sát, thiết kế, thi công, sử dụng nguyên liệu, vật liệu, máy móc, nghiệm thu công trình hoặc trong các lĩnh vực khác.

Mặt khách quan:

Hành vi khách quan: Người phạm tội phạmquy định về xây dựng có thể thực hiện một trong các hành vi sau đây:

Vi phạm các quy định về khảo sát: Khi xây dựng một công trình dù là lớn hay nhỏ thì công việc khảo sát bao giờ cũng là công việc đầu tiên, khảo sát đúng là tiền đề cho thiết kế chính xác. Khảo sát như là sự khởi đầu của quá trình xây dựng. Thực tế có không ít công trình do vi phạm các quy định về khảo sát nên dẫn đến chất lượng công trình kém, thậm chí bị sụp đổ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Vi phạm các quy định về khảo sát là khảo sát không đúng, không đầy đủ các quy định của Nhà nước về khảo sát. Ví dụ: Khi khảo sát để xây dựng cầu X, Nguyễn Văn H đã không khảo sát đầy đủ nên đã cung cấp các thông tin sai lệch về kết cấu địa tầng lòng sông dẫn đến thiết kế các trụ cầu không đảm bảo kỹ thuật hậu quả xảy ra làm cho cầu X bị nứt khi đưa vào sử dụng phải gia cố, khắc phục gây thiệt hại trên 2 tỷ đồng.

Vi phạm các quy định về thiết kế

>> Xem thêm:  Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới

Sau khảo sát là khâu thiết kế công trình, nói chung công việc này do các kiến trúc sư đảm nhiệm. Tuy nhiên, đối với các công trình nhỏ của cá nhân hoặc các công trình không yêu cầu kỹ thuật cao thì việc thiết kế thường do chính chủ đầu tư thực hiện. Dù là kiến trúc sư hay do chủ đầu tư thiết kế mà vi phạm các quy định về thiết kế màgây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về xây dựng.

Vi phạm các quy định về thiết kế là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của Nhà nước về thiết kế. Ví dụ: Khi thiết kế Nhà văn hoá tỉnh H.T, kiến trúc sư Bùi Văn C đã tính toán sai các dữ kiện kết cấu của dầm chịu lực nên công trình vừa hoàn thành thì trần nhà bị sập toàn bộ, gây thiệt hại hàng tỷ đồng.

Vi phạm các quy định về thi công

Tiếp theo khâu thiết kế, thì thi công là một khâu vô cùng quan trọng, vì suy đến cùng một công trình dù có thiết kế đẹp, các thông số kỹ thuật đều bảo đảm an toàn, nhưng nếu thi công không đúng với thiết kế thì công trình cũng không thể đảm bảo; những công trình bị xuống cấp, bị hư hỏng, thậm chí chưa đưa vào sử dụng đã bị đổ, bị sập chủ yếu là do khâu thi công; những người tổ chức thi công hoặc trực tiếp thi công đã bớt vật tư, thiết bị.
Vi phạm các quy định về thi công là thi công không đúng với thiết kế đã được phê duyệt như: việc trộn bê tông không đúng quy trình kỹ thuật, không bảo đảm chất lượng; việc hàn các mối hàn không bảo đảm kỹ thuật…

Vi phạm các quy định về sử dụng nguyên liệu, vật liệu

Trong quá trình thi công một công trình, căn cứ vào thiết kế, đơn vị thi công phải tuân thủ các quy định về việc sử dụng nguyên liệu, vật liệu đã được xác định trong bản thiết kế, việc thay đổi nguyên liệu, vật liệu phải được sự đồng ý của bên thiết kế và chủ đầu tư; nếu bên thi công tự ý thay đổi việc sử dụng nguyên liệu,vật liệu là vi phạm và do việc thay đổi đó mà gây ra hậu quả thì người quyết định việc thay đổi đó phải chịu trách nhiệm. Biểu hiện của hành vi này là bớt vật tư, thiết bị (sắt thép, xi măng…), thay thay thế vật tư, thiết bị chất lượng xấu hơn so với thiết kế ( dùng sắt phi 10 thay cho sắt phi 15, dùng xi măng mác 400 thay cho xi măng mác 500…)

Vi phạm các quy định về sử dụng máy móc

Trong xây dựng, nhất là đối với các công trình lớn theo quy định một số hạng mục cần phải thi công bằng máy móc như cần cẩu, máy trộn bê tông, máy đầm… xã hội càng phát triển, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào xây dựng càng cao thì việc sử dụng máy móc để xây dựng càng phát triển; máy móc dần dần thay thế lao động thủ công là một tất yếu.

Hành vi vi phạm các quy định về sử dụng máy móc là việc sử dụng máy móc trong khi thi công không đúng quy định như: theo quy định thì việc trộn bê tông phải trộn bằng máy trộn bê tông nhưng người phụ trách thi công lại quyết định trộn bằng tay; quy định là phải dùng máy đầm mặt đường nhưng lại đầm bằng tay…

Vi phạm các quy định về nghiệm thu công trình

>> Xem thêm:  Hình phạt đối với hành vi cung cấp mạng cá độ bóng đá ăn tiền ?

Nghiệm thu công trình là khâu kết thúc của quá trình xây dựng. Nếu công trình xây dựng đúng khảo sát, đúng thiết kế, đúng thi công không vi phạm gì về xây dựng thì việc nghiệm thu không có vấn đề gì. Tuy nhiên, những công trình xây dựng kém chất lượng, thậm chí bị hư hỏng nặng, bị sụp đổ…là do khâu nghiệm thu đã bỏ qua các vi phạm trong quá trình khảo sát, thiết kế, thi công nên đã không phát hiện được những vi phạm. Vi phạm các quy định về nghiệm thu công trình không phải là hành vi trực tiếp gây ra những thiệt hại do hành vi vi phạm các quy định về xây dựng, mà là hành vi thiếu trách nhiệm trong khâu nghiệm thu nên để lọt những vi phạm trong xây dựng dẫn đến những thiệt hại cho xã hội.

Vi phạm các quy định về nghiệm thu công trình là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định về nghiệm thu công trình như: công trình không bảo đảm chất lượng, không đúng với thiết kế nhưng vẫn nghiệm thu…

Vi phạm các quy định khác về xây dựng

Khi liệt kê các hành vi vi phạm về xây dựng, nhưng vì thực tế trong xây dựng còn có thể có những hành vi vi phạm trong lĩnh vực xây dựng mà không thể liệt kê hết được nên nhà làm luật đã quy định có tính chất dự phòng để tránh tình trạng lọt tội.

Vi phạm các quy định khác về xây dựng là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của Nhà nước về xây dựng ngoài các hành vi vi phạm vềtrong các lĩnh vực khảo sát, thiết kế, thi công, sử dụng nguyên liệu, vật liệu, máy móc, nghiệm thu công trình.

Hậu qủa là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này; nếu hành vi vi phạm các quy định về xây dựng mà chưa gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thì chưa cấu thành tội phạm.

- Mặt chủ quan: Lỗi vô ý.
Hình phạt

- Phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm khi phạm tội thuộc khoản 1 Điều này.

- Phạt tù từ ba năm đến mười năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 Điều này.

- Phạt tù từ tám năm đến hai mươi năm khi phạm tội thuộc khoản 3 Điều này.

>> Xem thêm:  Có hay không sự vi phạm nghĩa vụ thanh toán khi các bên đã có thỏa thuận mới ?

Ngoài ra còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật Hình sự.

>> Xem thêm:  Giao cấu với người 16 tuổi trở lên có vi phạm pháp luật hình sự không ?