Sắc lệnh xác định thẩm quyền xét xử của toà án nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đối với mọi công dân và người nước ngoài thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam và quy định sự phân công thẩm quyền các toà án và các nhân viên trong các toà án do Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà kí ban hành ngày 17.4.1946.

Sắc lệnh thể chế hoá tính thần Sắc lệnh số 13 ngày 24.01.1946 về tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán. Có thể nói Sắc lệnh này là một trong những bước tiến quan trọng trong việc thiết lập hệ thống tư pháp của nước Việt Nam dân chủ chủ cộng hoà sau khi giành được độc lập. Sắc lệnh là cơ sở pháp lí ổn định thống nhất trong phạm vi toàn quốc để ngành toà án có thể xét xử các vụ án trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, thương sự ở các cấp độ, mức độ vi phạm cũng như ở những tính chất và đối tượng khác nhau, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp tổ chức, công dân; góp phần quan trọng trong việc bảo vệ an ninh trật tự an toàn xã hội.

Sắc lệnh gồm 3 chương với 46 điều. Điều thứ 1 và Điều thứ 2 quy định phạm vi điều chỉnh của Sắc 6 “trong toàn cõi Việt Nam các Toà án In thu = tểy goi! đối với mọi 7g, bất cứ quốc tịch nào". Tiếp sau đó là Chương thứ phốt, Quy định về thẩm quyển các toà án, gồm 4 tiết với 11 điều (từ Điều thứ 3 đến Điều thứ 13). Tiết thứ nhất quy định về ban tư pháp xã (Điều thứ 3 và Điều thứ 4), trong đó để cập đến thẩm quyền, chức năng của ban tư pháp xã. Tiết thứ nhì quy định về toà án sơ cấp, gồm 5 điều (từ Điều thứ 5 đến Điều thứ 9), đề cập đến thẩm quyền xét xử trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, thương sự, kể cả thủ tục chung thẩm lẫn sơ thẩm và những vấn đề khác có liên quan của toà án sơ cấp. Tiết thứ ba quy định về toà án đệ nhị cấp, gồm 3 điều (từ Điều thứ 10 đến Điều thứ 12), đề cập đến thẩm quyển xét xử sơ thẩm và chung thẩm của toà án đệ nhị cấp cũng như các vấn để khác có liên quan trong các lĩnh vực xét xử hình sự, dân sự, thương sự. Tiết thứ tư quy định về toà thượng thẩm (Điểu thứ 13), đề cập đến thẩm quyền xét xử của toà thượng thẩm như xét xử những việc kháng cáo án sơ thẩm của các toà đệ nhị cấp... Chương thứ nhì gồm gồm 4 tiết, 28 điều, quy định việc phân công giữa các nhân viên trong toà án. Tiết thứ nhất (Điều thứ 14) đề cập tới việc phân công trong ban tư pháp xã và nhiệm vụ tư pháp cảnh sát của ban này. Tiết thứ hai (Điều thứ 18, Điều thứ 16) quy định về nhiệm vụ, thẩm quyền của thẩm phán sơ cấp như thi hành các mệnh lệnh của biện lí và các toà án khác uỷ thác cho, nhiệm vụ điều tra về mặt hình... Tiết thứ ba (gồm 4 mục, 18 điều) quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các nhân viên trong toà án đệ nhị cấp. Trong đó Mục A quy định về nhiệm vụ của chánh án, gồm 2 điều (Điều thứ 17 và Điều thứ 18). Mục B quy định về nhiệm vụ của dự thẩm, gồm 2 điều (Điều thứ 19 và Điều thứ 20). Mục C quy định về nhiệm vụ của biện lí, gồm 14 điều (từ Điều thứ 21 đến Điều thứ 35), trong đó ý 1) quy định các vấn đề về nhiệm vụ tư pháp cảnh sát (Điều thứ 21); ý 2) quy định về nhiệm vụ công tố, gồm 11 điều (Điều thứ 22 đến Điểu thứ 32), bao gồm các vấn đề về thi hành quyền công tố trước toà án đệ nhị cấp, thể thức thi hành nhiệm vụ công tố của biện lí, quyền kháng cáo những mệnh lệnh của dự thẩm; nhiệm vụ đem tất cả các vật chứng cùng đòi các nhân chứng để toà án căn cứ đó xét xử, có quyền yêu cầu toà thi hành mọi phương cách để làm rõ sự thật...

Mục D quy định nhiệm vụ của phó biện Ií (Điều thứ 33), trong đó đề cập đến quyền điều khiển và kiểm soát của biện lí đối với các ông phó biện lí... Mục Ð quy định về cách phân công trong tòa án khi không có đủ thẩm phán (Điều thứ 34 và Điều thứ 35). Tiết thứ tư quy định về toà thượng thẩm, gồm hai mục và 6 điều (từ Điều thứ 36 đến Điều thứ 41). Mục A quy định về nhiệm vụ của chánh nhất như cứ 6 tháng một lần có nhiệm vụ cắt đặt các hội thẩm vào các phòng trong toà thượng thẩm, có quyền ấn định ngày, tháng và giờ các phiên toà... Mục B quy định nhiệm vụ của chưởng lí, phó chưởng lí và tham lí, gồm 5 điều (từ Điều thứ 37 đến Điều thứ 41) trong đó quy định các vấn đề như chưởng lí điều khiển, phân phát công việc cho các phó chưởng lí và tham lí; chưởng lí và các thẩm phán ở trong công tố viện có quyền phát ngôn ở những phiên toà hộ và hình toà thượng thẩm, về những việc hệ trọng và khó khăn, phó chưởng lí hay tham lí, sau khi đã xét phải trình chưởng lí bút lục và lời kết luận của mình về những việc đó; trong quản hạt tòa thượng thẩm của mình, chưởng lí phải trông nom việc thi hành các đạo luật, sắc lệnh và quy tắc hiện hành... Chương thứ ba quy định về tổng tắc, gồm 5 điều (từ Điều thứ 42 đến Điều 46), trong đó đề cập đến các vấn đề về các nguyên tắc, thời hiệu và hiệu lực... của Sắc lệnh. V7 dụ: Sắc lệnh quy định những luật lệ hiện hành vẫn giữ nguyên như cũ, trừ những điều khoản trái với Sắc lệnh này cùng trái với chủ quyền và chính thể dân chủ cộng hoà của nước Việt Nam.