Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, phục hồi điều tra là gì ?

Theo từ điển Tiếng Việt, đình chỉ là một động từ chỉ việc một sự việc hoặc một hành động nào đó tự dưng ngừng/dừng lại hoặc bị tác động để ngừng/ dừng lại trong một thời gian nhất định hoặc dừng lại vĩnh viễn.Theo đó:

Tạm đình chỉ điều tra là việc hoạt động điều tra vụ án hoặc bị can bị tạm ngừng lại vì những lý do khách quan theo quy định pháp luật mà phải tạm ngừng hoạt động điều tra và chưa đưa ra được kết luận cuối cùng về vụ án. Việc tạm đình chỉ điều tra có thể dẫn đến các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Hết thời hạn tạm đình chỉ và lý do tạm đình chỉ không còn, Cơ quan điều tra được tiếp tục thực hiện hoạt động điều tra để đưa ra kết luận cuối cùng, phục vụ cho giai đoạn tố tụng tiếp theo - giai đoạn truy tố.

Trường hợp 2: Hết thời hạn tạm đình chỉ mà có căn cứ để đình chỉ điều tra thì hoạt động điều tra có thể bị đình chỉ theo quy định pháp luật.

Đình chỉ điều tra là việc hoạt động điều tra vụ án bị dừng lại vĩnh viễn (trừ trường hợp có căn cứ khôi phục điều tra) khi có các căn cứ để đình chỉ theo quy định pháp luật. Đình chỉ điều tra cũng là một trong các hình thức kết thúc điều tra.

Phục hồi điều tra, đây là một hoạt động khá đặc biệt trong giai đoạn tố tụng. Phục hồi điều tra là việc Cơ quan điều tra khôi phục, tiếp tục việc điều tra đang bị tạm đình chỉ hoặc đã bị đình chỉ khi có các căn cứ phục hồi điều tra theo quy định.

2. Thủ tục tạm đình chỉ điều tra

2.1. Căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ điều tra

Căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ điều tra được quy định tại khoản 1 Điều 229 Bộ luật Tố tụng Hình sự gồm:

a) Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án. Trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra;

b) Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra;

c) Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả.

 

2.2. Thủ tục ra quyết định tạm đình chỉ điều tra

Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra: Cơ quan điều tra đang thụ lý, điều tra vụ án hình sự.

Trình tự ra quyết định tạm đình chỉ điều tra:

Bước 1: Ra soát, kiểm tra lại căn cứ tạm chỉ điều tra

Khi có căn cứ tạm đình chỉ điều tra theo quy định, Điều tra viên và Kiểm sát viên phổi hợp ra soát các tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm việc ra quyết định tạm đình chỉ điều tra có căn cứ hợp pháp.

Bước 2: Xử lý các vấn đề liên quan đến bị can(nếu có) theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can hoặc tạm đình chỉ điều tra đối với bị can.

Trách nhiệm thực hiện: Cơ quan điều tra đang thụ lý, điều tra vụ án.

Bước 3: Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra và mở sổ theo dõi và quản lý các vụ án, bị can tạm đình chỉ điều tra.

- Riêng đối với trường hợp tạm đình chỉ điều tra theo căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 229 nêu trên, thời điểm để Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ khi Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tâm thần hoặc khi cơ quan có thẩm quyền kết luận tình trạng bệnh hiểm nghèo của bị can.

- Trường hợp ra quyết định đình chỉ điều tra đối với từng bị can trong vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can được thực hiện như sau:

+) Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can và quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can;

+) Sau đó lập hồ sơ tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can; hồ sơ gồm các quyết định tố tụng, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án có liên quan đến bị can tạm đình chỉ. Quyết định tố tụng, tài liệu, chứng cứ phải là bản gốc hoặc bản sao y bản chính. Việc sao y thực hiện theo quy định của các bộ, ngành có liên quan.

Bước 4: Gửi, thông báo quyết định tạm đình chỉ điều tra

Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định tạm đình chỉ điều tra cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ.

3. Thủ tục ra quyết định đình chỉ điều tra

3.1. Căn cứ để ra quyết định đình chỉ điều tra

Theo quy định tại Điều 230 Bộ luật Tố tụng Hình sự, các căn cứ để ra quyết định đình chỉ điều tra gồm:

- Đối với các vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc đại diện của người bị hại mà người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu khởi tố.

- Có các căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự gồm: Không có sự việc phạm tội; Hành vi không cấu thành tội phạm; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã được đại xá; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác và trường hợp người bị hại tự nguyện rút yêu cầu khởi tố nêu trên.

- Có căn cứ về việc người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo quy định tại Điều 16 Bộ luật Hình sự.

- Có căn cứ về việc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự.

- Trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự.

Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

3.2. Thủ tục ra quyết định đình chỉ điều tra

Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều traThủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Bước 1: Ra soát, kiểm tra lại căn cứ tạm chỉ điều tra

Khi có căn cứ đình chỉ điều tra theo quy định, Điều tra viên và Kiểm sát viên phổi hợp ra soát các tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm việc ra quyết định tạm đình chỉ điều tra có căn cứ hợp pháp. Sau đí báo cáo với Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Nếu không có căn cứ thì tiếp tục điều tra. Nếu có căn cứ đình chỉ thì thực hiện các bước tiếp theo.

Bước 2: Ra quyết định đình chỉ điều tra

Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định điều tra và thực hiện các trách nhiệm sau: hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), xử lý vật chứng, những vấn đề khác có liên quan.

Bước 3: Thông báo, gửi cho Viện kiểm sát theo quy định.

Đối với biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế do Viện kiểm sát phê chuẩn, Cơ quan điều tra phải có văn bản thông báo để Viện kiểm sát quyết định việc hủy bỏ.

4. Quy định về phục hồi điều tra

Việc phục hồi điều tra được thực hiện theo quy định tại Điều 235 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2020 như sau:

Hoạt động điều tra đang bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ được phục hồi nếu:

- Có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra thì Cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra.

- Và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2020/TTLT như sau:

3. Việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này căn cứ vào quy định tại Điều 27, Điều 28 Bộ luật Hình sự và phân loại tội theo khoản, điều của Bộ luật Hình sự ghi trong quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can. Trường hợp quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can chỉ ghi điều luật, không ghi khoản và quá trình điều tra chưa chứng minh làm rõ được hành vi phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản nào của điều luật đó thì việc xác định thời hiệu căn cứ vào khung hình phạt trong cấu thành cơ bản của điều luật đó.

4. Đối với vụ án đang tạm đình chỉ điều tra có một trong các căn cứ đình chỉ điều tra theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 32/1999/NQ-QH10 ngày 21/12/1999 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 1999 (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 32/1999), Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 33/2009), Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 41/2017) mà còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì cơ quan có thẩm quyền điều tra trao đổi bằng văn bản với Viện kiểm sát trước khi ra quyết định phục hồi điều tra vụ án, tiến hành ngay các hoạt động tố tụng để điều tra, xác minh các căn cứ đình chỉ, ra kết luận điều tra và ra quyết định đình chỉ điều tra.

- Nếu vụ án bị tạm đình chỉ điều tra nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan có thẩm quyền điều tra trao đổi bằng văn bản với Viện kiểm sát trước khi ra quyết định đình chỉ điều tra mà không phải ra quyết định phục hồi điều tra.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Các thông tin trên có giá trị tham khảo. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê