1. Nhu cầu tìm kiếm các nguyên tắc mới

Hệ thống thương mại đang đối mặt với những thách thức về chính trị và pháp lý khi nó mở rộng quy mô để bao hàm cả những vấn đề có liên quan đến sự điều hành đối nội.

Những lĩnh vực mới của quy tắc thương mại, đáng chú ý nhất là hiệp định TRIPS, đặt ra thách thức cho những nguyên tắc tiềm ẩn của hệ thống thương mại. Không chỉ khó khuôn định quy tắc thương mại vào các lĩnh vực dựa trên các nguyên tắc “cũ” mà đã thường xuất hiện những va chạm giữa sự điều hành quốc nội đáng mong ước với những đòi hỏi của hệ thống thương mại.

Các nguyên tắc pháp lý dẫn dắt GATT trong sự tồn tại nửa thế kỷ của định chế này có thể sẽ không còn đầy đủ cho chương trình nghị sự hiện nay, đặc biệt là những khía cạnh chồng chéo với chính sách đối nội. Sự kiềm chế quốc tế đối với những chính sách đối nội có thể cần phải được đặt căn bản trên những giả thuyết khác hẳn với những giả thuyết đã dẫn dắt việc tiếp cận các biện pháp áp dụng ở biên giới. Quan niệm về sự đối xử tối huệ quốc đối với các nhà cung cấp chẳng hạn có thể phải có ý nghĩa khác. Sự nhấn mạnh đến chính sách điều hành đối nội có thể sẽ dịch chuyển sự không phân biệt đối xử sang phía phân biệt đối xử có thể biện minh được. Nhiệm vụ của các thể chế đa phương có lẽ là đòi hỏi sự biện minh đó phải được thực hiện một cách minh bạch và có thể thay đổi được - và khái quát hóa những cơ sở hợp pháp của sự phân biệt đối xử. Quan niệm về đối xử quốc gia vốn rất hữu ích để ngăn ngừa tình trạng phân biệt đối xử đối với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu vào thị trường nội địa, cũng cần phải thay đổi. Nó cần phải được bổ sung bằng việc thừa nhận nguyên tắc về chủ quyền quốc gia để khẳng định trách nhiệm tối hậu của các quốc gia đối với sức khỏe và hạnh phúc của công dân của họ. Phân biệt đối xử giữa sản phẩm nội địa và sản phẩm nhập khẩu có lẽ sẽ giữ vai trò thiết yếu trong việc cung cấp các quy định đối nội nhằm bảo vệ người tiêu dùng chống lại các nhà cung cấp dịch vụ. Phần lớn luật về sở hữu trí tuệ đều đặt tiền đề trên sự phân biệt đối xử cao độ giữa những người có quyền sở hữu trí tuệ và những người không có quyền đó. Và cuối cùng, quy chế tối huệ quốc và đối xử quốc gia cũng cần được định nghĩa lại trong những trường hợp như vừa nêu.

2. Các nguyên tắc trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, môi trường, tiêu chuẩn lao động

Liệu sự chỉnh lý các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định GATT như vừa đề nghị trên đây đã đủ để điều hành hệ thống thương mại ngày nay hay không? Khi vấn đề là sự điều hành thương mại ở biên giới thì sự không phân biệt đối xử có liên quan tới sự giúp đỡ tự do hóa thương mại về nông sản, hàng dệt may, và nhiều dịch vụ khác. Khi mà mục tiêu là sự điều hành nội địa - như trong một số hình thức dịch vụ, các quy định về an toàn và sức khỏe, quyền sở hữu trí tuệ, các tiêu chuẩn lao động và môi trường - thì những nguyên tắc này không còn đầy đủ nữa. Thay vì vậy những nguyên tắc như tính phổ quát, tính nhất quán, và tính minh bạch trở nên có ích hơn. Ở một số lĩnh vực như thế, những cam kết gắn bó với tính nhất quán đưa đến một thỏa thuận toàn cầu về các tiêu chuẩn thích hợp, như trong trường hợp quyền sở hữu trí tuệ hoặc bảo vệ môi trường, và mối quan tâm về sự phân bổ thích hợp trong các quốc gia chi phí đáp ứng những tiêu chuẩn đó. Và ở nhiều quốc gia và về nhiều vấn đề, (chẳng hạn như sở hữu trí tuệ và bảo vệ môi trường, bảo vệ lao động), những thay đổi pháp lý cơ bản sẽ không còn đầy đủ nữa: các thể chế quốc gia sẽ cần phải được tạo ra để bảo đảm sự thực thi đầy đủ các biện pháp điều hành.

3. Quá trình phát triển hội nhập khu vực sự và sự ra đời các nguyên tắc

Nỗ lực tạo ra những nguyên tắc phối hợp sự điều hành nội địa và tránh xung khắc với các mục tiêu chính sách thương mại có một lịch sử trong quá trình phát triển sự hội nhập khu vực. Đặc biệt Cộng đồng châu Âu EC đã đối mặt với nhiều vấn đề như thế này ngay trong chương trình “thị trường nội bộ” của họ vào những năm 1985-1992. Một số quan niệm tỏ ra hữu ích trong trường hợp đó cũng có thể phù hợp với sự phát triển các quy tắc thương mại đa phương. Những quan niệm này bao gồm các nguyên tắc về chủ quyền và tính phụ thuộc, cố gắng xác định tầm vóc của các quy tắc siêu quốc gia; sự công nhận lẫn nhau về quy định, kết quả xét nghiệm hoặc chứng nhận của các nước khác; những thỏa thuận khung không xác định rõ các hành động pháp lý chính xác nhưng đồng ý về một khung mẫu cho hành động của quốc gia; và sự gần đúng của những quy định nhằm giảm thiểu các xung đột nổi lên từ các tiêu chuẩn khác nhau ở các quốc gia khác nhau mà không đòi hỏi một tính phổ quát khó khăn hơn về mặt chính trị dẫn tới một sự hài hòa hoàn toàn.

4. Bộ công cụ pháp lý cho các hạn chế thương mại khác nhau

BẢNG 5.1 Bộ công cụ pháp lý cho các hạn chế thương mại khác nhau

Các công cụ với các Mục tiêu Chính sách Thương mại

Các công cụ vỡi các Mục tiêu Chính sách Đối nội

Các công cụ vận hành ở biên gid (chủ yếu là hàng hóa)

Giảm thuế nhập khẩu Tự do hóa cơ chế hạn ngạch

Quy chế tối huệ quốc (MFN)

Đối xử quốc gia

Công nhận lẫn nhau

Những giả định ưu tiên cho các tiêu chuẩn quốc tế, hạn chế thương mại ở mức thấp nhất hoặc dựa trên tiêu chuẩn khoa học

Các công cụ vận hành sau biên glcí (cả hàng hóa và dịch vụ)

Quyền của tồ chức Đối xử quốc gia Ưu đãi đầu tư Trợ cấp

Sự hài hòa hóa hoặc sự tiên cận câc tiêu chuẩn

Tính minh bạch trong việc thiết lập tiêu chuẩn

Các đòi hỉẩ thực thi hiêu quả

Bảng 5.1 đề xuất những nội dung của bộ công cụ pháp lý có thể được sử dụng khi các vấn đề thương mại dịch chuyển dần từ những vấn đề tự do hóa nơi biên giới trước đây sang những vấn đề hội nhập mới mẻ hơn đòi hỏi những biện pháp phía sau biên giới. Quy chế tối huệ quốc và đối xử quốc gia tỏ ra rất tốt để xử lý các vấn đề cũ, các nguyên tắc về sự hài hòa và tính gần đúng, tính minh bạch và sự thực thi có hiệu quả có lẽ thích hợp hơn cho việc dẫn dắt quy tắc của WTO vào các vấn đề sau biên giới. Những sự dịch chuyển như vậy đưa hệ thống thương mại xa dần từ sự điều hành thương mại sang việc thiết lập một thị trường toàn cầu với những chính sách đối nội thân thiện với thương mại và có thể dự đoán được. Việc các quốc gia đi xa đến đâu về hướng này vẫn còn là vấn đề mở, song mức độ thành công hay thất bại một phần sẽ hướng tới việc các quy tắc toàn cầu trong các địa hạt này đã định hình đến đâu các hên minh chính trị nội địa tham gia vào việc hoạch định chính sách thương mại, nhất là ở các nước thành viên hùng mạnh nhất của tổ chức WTO. Những vấn đề mới cũng đưa những tay chơi mới (chẳng hạn như các nhà hoạt động môi trường, các nhà cung cấp dịch vụ) vào bàn mặc cả nội địa và làm gia tăng vai trò nổi bật của các tay chơi khác (chẳng hạn các nhà sản xuất sở hữu trí tuệ và các nghiệp đoàn lao động) trong khuôn khổ GATT/WTO. xử lý hoặc không xử lý vấn đề sự nổi bật lên của các nhóm này sẽ quyết định mức độ mà họ ủng hộ hoặc phản đối WTO và sứ mệnh của nó. Ngoài sự khác biệt Bắc-Nam đã có sẵn trong các vấn đề môi trường, lao động, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và các vấn đề khác, cũng thật khó nhìn thấy tất cả các vấn đề này được xử lý sao cho thỏa mãn được các nhóm lợi ích ở Hoa Kỳ và EU trong quãng thời gian ngắn hạn. Và tiến trình dân chủ hóa ở các nước đang phát triển cũng không làm cho nhiệm vụ này được dễ dàng hơn.

5. Chức năng của hệ thống thương mại đa phương

Với việc ký kết Hiệp định GATT, hệ thống thương mại đa phương đã chính thức được khai sinh. Đây là hệ thống thương mại có phạm vi toàn cầu với sự tham gia của các nước và các nền kinh tế của các châu lục. Khác với thương mại khu vực và thương mại song phương, được điều chỉnh bởi các quy tắc được quy định trong các hiệp định Thương mại khu vực và song phương, hệ thống thương mại đa phương được điều chỉnh bởi các quy tắc được quy định trong GATT trước đây và trong các hiệp định của WTO ngày nay. Hệ thống thương mại đa phương có các chức năng cơ bản sau:

– Xóa bỏ sự phân biệt đối xử. Việc xóa bỏ sự phân biệt đối xử này được bảo đảm bằng quy tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT) được quy định trong Hiệp định GATT năm 1947 và trong các hiệp định của WTO. Không phân biệt đối xử đặc biệt có lợi cho các nước đang phát triển và kém phát triển, là những nước có vị thế yếu trên trường thương mại quốc tế.

– Ràng buộc các nước Thành viên trong một khuôn khổ chung bởi các quy tắc tự do hóa thương mại. Thực tế từ năm 1947 đến nay hệ thống thương mại đa phương đã vận hành theo xu hướng này thông qua việc các Thành viên của WTO thống nhất cắt giảm các rào cản thương mại và mở cửa thị trường.

– Giải quyết các tranh chấp thương mại. Trước Chiến tranh Thế giới lần thứ II, chủ nghĩa bảo hộ hoành hành dẫn đến nguy cơ không thể giải quyết được một cách hiệu quả các tranh chấp thương mại. Hệ thống thương mại đa phương, do vậy, có chức năng kiểm soát các tranh chấp thương mại phát sinh trong hệ thống. Trên thực tế, việc thực thi các cam kết trong khuôn khổ của GATT và nhất là WTO đã xây dựng những cơ chế có hiệu quả để thực hiện chức năng này.

– Hỗ trợ phát triển. Hệ thống thương mại đa phương tạo ra những cơ chế phù hợp để mang lại lợi ích và các cơ hội phát triển cho các Thành viên, đặc biệt là các Thành viên đang phát triển và kém phát triển. Tham gia vào hệ thống thương mại đa phương, các Thành viên đang phát triển và kém phát triển sẽ có cơ hội được hưởng những đối xử bình đẳng và cả những quy định có tính đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang và kém phát triển. Điều đó sẽ tạo ra những động lực mới cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước này.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)