Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” (Điều 8). “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” (Điều 53).

Do vậy, nghiên cứu về phản biện, giám sát xã hội là một việc làm hợp chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và rất có ý nghĩa trong điều kiện phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở nước ta hiện nay. Chúng tôi xin đề cập đến một số vấn đề lý luận cơ bản về phản biện xã hội và các giải pháp để bảo đảm việc thực hiện phản biện xã hội có hiệu quả.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900 6162

 

1. Khái niệm phản biện xã hội

Phản biện là hoạt động đưa ra các lập luận, chứng cứ, phân tích, đánh giá về một vấn đề nào đó (như các đề án kinh tế, các dự án xã hội, các dự án luật…) nhằm đánh giá, chứng minh tính hợp lý hay không hợp lý, từ đó có thể khẳng định, góp ý, bổ sung hoặc phản bác một phần hoặc cả phương án, dự án, kế hoạch.

Phản biện khác với việc thiết kế, xây dựng trước hết ở chủ thể và mục đích. Cùng một đối tượng, như đề án xây dựng một cây cầu chẳng hạn, chủ thể xây dựng đề án phải phác họa đề án rồi phân tích, thuyết minh để thuyết phục các chủ thể khác (có thẩm quyền hoặc công luận trong trường hợp cần thiết) về tính “có lý” của đề án mà mình đã phác thảo. Trái lại, chủ thể phản biện đương nhiên phải là cá nhân hoặc tổ chức khác không xây dựng đề án (thường là những chủ thể có tính chất khác với chủ thể xây dựng, để nhìn nhận, đánh giá ở góc độ khác) và phải trên cơ sở đề án do cơ quan xây dựng phác thảo. Quá trình phân tích, lập luận đánh giá sự phù hợp hay không phù hợp và phải có mục đích công nhận sự cần thiết, tính hợp lý hoặc bác bỏ (một phần hoặc toàn bộ) đề án do cơ quan xây dựng phác thảo. Giữa thiết kế, xây dựng và phản biện có mối quan hệ mật thiết. Để thiết kế, xây dựng một chủ trương, đường lối hay một đề án tốt nhất và hợp lòng dân rất cần sự phản biện, nhất là phản biện xã hội. Phản biện là phương cách quan trọng để bảo đảm và dung hòa lợi ích giữa các nhóm xã hội.

Phản biện và thẩm định, thẩm tra có nhiều điểm chung: cùng phân tích, lập luận và đánh giá vấn đề. Tuy nhiên, các hoạt động này có sự khác nhau cơ bản. Phản biện thường nhằm vào điểm yếu, hạn chế, chỗ sai; còn sự đánh giá trong thẩm định, thẩm tra thường cân bằng cả chỗ đúng và chỗ sai hơn. Ngoài ra, việc thẩm định, thẩm tra thường do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành, còn phản biện thì không nhất thiết như vậy.

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, phản biện có thể chia thành nhiều loại. Nếu căn cứ vào phạm vi tiến hành, có thể chia thành phản biện rộng, phản biện hẹp; căn cứ vào tính chất, có thể chia thành phản biện khoa học, phản biện đại chúng; phản biện chính thức, phản biện không chính thức; phản biện nhà nước, phản biện xã hội…

Như vậy, phản biện xã hội là một loại phản biện nhằm phân biệt với phản biện nhà nước, đó là phản biện mang tính xã hội. Nếu phân tích về ngữ nghĩa thì, ở đây, “xã hội” đóng vai trò tính từ để bổ nghĩa cho danh từ phản biện. Cách hiểu thuật ngữ “xã hội” ở đây là để phân biệt với “nhà nước”, tương tự như quy định của một số điều của Hiến pháp 1992[2]. Nếu nhìn nhận ở một góc độ khác – phản biện xã hội đối với chủ trương, chính sách, đề án, quyết định của Đảng – thì phản biện xã hội có thể được hiểu là phản biện “ngoài Đảng”.

Theo quan sát của chúng tôi, cách hiểu về thuật ngữ này trên các diễn đàn còn chưa thống nhất do tính đa nghĩa của thuật ngữ “xã hội”. Một cách hiểu tương đối phổ biến hiện nay coi phản biện xã hội là phép cộng của tất cả các loại phản biện[3]. Đây là do cách hiểu từ “xã hội” theo nghĩa rộng: bao hàm tất cả các thiết chế (do con người thành lập) và các cá nhân “cộng” lại. Điều này không sai, nhưng cách hiểu như vậy là quá rộng.

Do vậy, trước khi bàn bạc về nội dung, phương thức và các vấn đề cụ thể của phản biện xã hội, thiết nghĩ nên thống nhất, “khoanh” nội hàm của thuật ngữ phản biện xã hội. Nếu không, có thể dẫn đến việc tiếp cận vấn đề quá rộng, thậm chí có tác giả còn đồng nhất phản biện xã hội (với tính chất một loại hoạt động của con người) với khái niệm “tương phản” trong thiên nhiên[4]. Chúng tôi cho rằng, nên thống nhất cách hiểu phản biện xã hội nhằm phân biệt với phản biện nhà nước, nằm “ngoài” Nhà nước như phân tích ở trên, vì đây cũng là cách hiểu được thể hiện trong Báo cáo chính trị Đại hội X của Đảng: “Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội. Các cấp ủy đảng và cấp chính quyền có chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân; thường xuyên lắng nghe ý kiến của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phản ánh với Đảng, Nhà nước những vấn đề mà nhân dân quan tâm, tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật”[5], và cũng là cách hiểu theo cách diễn đạt của nhiều điều trong Hiến pháp như đã phân tích.

Tóm lại, phản biện xã hội đối với các vấn đề của Nhà nước là phản biện “ngoài Nhà nước”[6], nhằm phân biệt với các hoạt động phản biện của Nhà nước – một hoạt động nội tại của Nhà nước nhằm đảm bảo tính chính xác, phù hợp khi Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách.

Với cách hiểu như vậy, theo chúng tôi, phản biện xã hội không bao gồm phản biện của Quốc hội, Hội đồng nhân dân như một số tác giả quan niệm[7]. Bản thân phản biện xã hội có thể được chia thành: phản biện khoa học (ví dụ, do các nhà khoa học hoặc các tổ chức khoa học thực hiện), phản biện đại chúng (chẳng hạn lấy ý kiến đóng góp của công chúng), chứ không phân biệt phản biện xã hội với phản biện khoa học như một số tác giả[8].

2. Mục đích, ý nghĩa của phản biện xã hội

Phản biện xã hội có mục đích, ý nghĩa cơ bản sau:

Thứ nhất, phát huy dân chủ, lắng nghe tiếng nói của người dân (và các thiết chế của nhân dân) từ phía Nhà nước (các cấp, các ngành…) trong việc ra các quyết định, nhất là các vấn đề trọng đại của quốc kế dân sinh, hoặc liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Jean Jacques Rouseau, nhà khai sáng kiệt xuất từng viết: “Trước khi dựng lâu đài lớn, nhà kiến trúc thăm dò xem đất có chịu nổi trọng lượng của lâu đài hay không. Nhà lập hiến (lập pháp -NV) thông minh không bắt tay ngay vào việc soạn thảo luật; trước đó ông xem xét dân chúng là người tiếp nhận luật có thích ứng được với luật không”[9]. Tiếp cận vấn đề một cách đơn giản nhất cũng thấy rằng, việc thêm nhiều người, nhiều tổ chức cùng xem xét, bàn bạc, đánh giá, vấn đề sẽ được nhìn nhận toàn diện hơn. Cũng như dân gian có câu “ba ông thợ da bằng ông Gia Cát”.

Thứ hai, phản biện xã hội là phương thức quan trọng để đạt được đồng thuận xã hội. Xã hội, cộng đồng là tập hợp của nhiều cá nhân. Dân chủ là khi quyết định các công việc chung, tiếng nói của mỗi cá nhân được lắng nghe, được tiếp nhận. Tuy nhiên, khó có thể có quyết định nào “chiều” được ý kiến của tất cả mọi người, vì các ý kiến đó nhiều khi khác nhau. Nếu không có tự do trong tranh luận, chân lý khó có thể được tiếp cận. Do vậy, dân chủ gắn liền với thảo lun, tranh luận, phản biện. Và thảo luận – tranh luận – phản biện là quá trình đi tìm sự đồng thuận. Do vậy, phản biện là hoạt động cần thiết trong thực hành dân chủ. Một Nhà nước của dân, do dân và vì dân thì Nhà nước phải đi tìm sự đồng thuận của nhân dân trong việc ra các quyết định. ở phương Tây có câu châm ngôn: "một hạt cát không làm nên sa mạc, nhưng sa mạc được làm nên bởi những hạt cát". Bà Nguyễn Thị Xuân Mỹ – Chủ tịch Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam (nguyên Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Trung ương) có lý khi coi phản biện xã hội là “làm rõ mặt trái để làm sáng tỏ mặt phải”[10]. Mỗi con người, mỗi chủ thể có “lăng kính” nhìn nhận với “chiết suất” khác nhau. Tiếp cận, đánh giá vấn đề một cách đa diện, nhiều chiều là phương thức quan trọng có tác dụng hạn chế, phòng ngừa việc quyết định chủ quan, một chiều hoặc mang tính áp đặt. Albert Einstein, cha đẻ của Thuyết tương đối lừng danh đã từng nói "Chúng ta không thể giải quyết vấn đề với cùng một cách suy nghĩ khi tạo ra nó”.

Thứ ba, phản biện xã hội sẽ là phương thuốc hữu hiệu để chữa trị các căn bệnh của người cầm quyền, như nạn tham nhũng, tệ bè phái, dối trá, lối sống cơ hội… – những căn bệnh dường như rất khó loại trừ ở bất cứ chế độ chính trị -xã hội nào[11]. Tính chất phản biện sẽ như những liều vắc xin có tác dụng phòng ngừa, hạn chế sự tha hóa quyền lực, hoặc sự độc đoán, chuyên quyền – xu thế mang tính tất yếu của người nắm giữ quyền lực. Chẳng phải bản thân nhà nước, để tránh việc độc đoán, chuyên quyền, cũng cần phải phân định lập pháp, hành pháp, tư pháp để cân bằng, đối trọng, kiểm tra chéo đó hay sao?

Thứ tư, dân chủ có nghĩa là nhân dân tường tận các hoạt động của Đảng, Nhà nước và Đảng, Nhà nước tường tỏ suy nghĩ, trăn trở của người dân. Vì vậy, ý Đảng, lòng dân thống nhất của một thời đấu tranh oanh liệt, đã tạo nên sức mạnh vô biên mà kẻ thù không tin đó là sự thật. Phản biện xã hội sẽ là “kênh” trao đổi thông tin hữu hiệu giữa các thiết chế quyền lực với nhân dân tạo ra sức mạnh dân tộc trong điều kiện mới.

3. Định hướng và giải pháp để thực hiện phản biện xã hội có hiệu quả

a. Định hướng lâu dài

Về định hướng mang tính tổng thể, căn bản và lâu dài, việc đặt ra mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền như Hiến pháp ghi nhận hiện nay là một điều kiện quan trọng mang tính nền tảng cho việc xây dựng xã hội dân chủ, trong đó bao hàm phản biện và giám sát xã hội. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một trong hai mặt của một vấn đề: dân chủ xem xét dưới góc độ của nhà nước, thì nhà nước phải là nhà nước pháp quyền, nếu nhìn nhận dưới góc độ xã hội thì xã hội đó phải là xã hội dân sự. Suy cho cùng, dân chủ là mọi quyết định của các cơ quan, tổ chức, các thiết chế quyền lực trong xã hội phải tính đến nguyện vọng, ý chí, lợi ích của các nhóm xã hội. Do vậy, việc đặt ra mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền thường mới chỉ nhìn nhận dưới góc độ tổ chức bộ máy nhà nước. Nói cách khác, điểm nhấn khi nói về Nhà nước pháp quyền là việc thiết kế, xây dựng các thiết chế, các định chế nhà nước, chưa phải là việc đánh giá tổ chức, vận hành của bộ máy nhà nước như thế nào (nhất là trong điều kiện ở nước ta hiện nay). Đương nhiên, Nhà nước, các cơ quan nhà nước cũng đã xây dựng một hệ thống các cơ quan và nội quy, quy chế hoạt động để tự bản thân mỗi cơ quan, đơn vị kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động và thậm chí kiểm tra chéo lẫn nhau trong các hệ thống, các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, suy cho cùng, thì đó cũng là những hoạt động trong “nội bộ” Nhà nước, còn sự tiếp nhận, đánh giá của xã hội đối với Nhà nước như thế nào? Có đúng là do dân, vì dân không? Hay mức độ do dân, vì dân trong các quyết sách của Nhà nước đến đâu, thì phải để cho nhân dân (xã hội) phản biện, đánh giá. Muốn vậy, phải xây dựng xã hội dân sự. Xã hội dân sự sẽ đánh giá tổ chức, vận hành của Nhà nước một cách rất khách quan, toàn diện theo những tiêu chí của các nhóm xã hội khác nhau, vì tính đa nguyên của các nhóm xã hội, thậm chí của từng cá nhân là bản chất của xã hội dân sự. Chẳng phải Lê -nin đã từng nói rằng, hãy để cho người nông dân suy nghĩ trên mảnh đất, luống cày của họ? Giáo sư Tương Lai cho rằng, xã hội dân sự có vai trò “đối quyền” của quyền lực nhà nước[12]. Xét về góc độ triết học, đó là hai mặt “đối lập nhưng tồn tại thống nhất” trong sự vận hành dân chủ, có có quan hệ biện biện chứng, không tách rời nhau như bóng với hình, bổ sung, tương hỗ lẫn nhau. Phép biện chứng ở đây là, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân: nhân dân giao quyền cho Nhà nước nhưng không mất quyền; Nhà nước được nhận quyền nhưng không được tiếm quyền (của nhân dân); Nhà nước cai quản xã hội bằng chế độ pháp quyền, nhân dân phản biện và kiểm soát quyền lực Nhà nước bằng xã hội dân sự. Do vậy, định hướng xây dựng xã hội văn minh dân sự bên cạnh mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền chính là điều kiện cần và đủ cho việc xây dựng xã hội dân chủ. Nhà nước pháp quyền cần được xây dựng trên cơ sở của xã hội văn minh dân sự, ngược lại, xã hội văn minh dân sự chỉ có thể vận hành khi nhà nước pháp quyền hiện diện – một chế độ nhà nước có đủ khả năng “cầm trịch” cuộc chơi vốn công bằng và sòng phẳng của xã hội văn minh dân sự.

Do vậy, cùng với xây dựng Nhà nước pháp quyền, cần đặt ra mục tiêu xây dựng xã hội văn minh dân sự. “Đừng sợ xã hội dân sự”[13], đừng coi xã hội dân sự là đối lập với Nhà nước[14].

b. Các giải pháp cụ thể

Để có những điều kiện mang tính nền tảng thúc đẩy sự phát triển của một xã hội dân sự – “bà đỡ” cho phản biện xã hội ở nước ta, theo chúng tôi, cần chú trọng những giải pháp:

Thứ nhất, cần nhanh chóng ban hành “Luật về hội”. Đây sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc định hình xã hội dân sự. Cùng với quyền ngôn luận, quyền báo chí, quyền hội họp, quyền biểu tình, thì quyền lập hội là những quyền cơ bản của con người, không những trong các văn kiện quốc tế[15], mà trong các bản Hiến pháp nước ta đều trịnh trọng ghi nhận[16]. Những quyền này là những quyền cơ bản nhưng mang tính sơ đẳng để đảm bảo vai trò của mỗi cá nhân trong xã hội. Mỗi cá nhân đều có quyền thể hiện những điều mà mình nghĩ, có quyền liên kết với nhau trên cơ sở chính trị, xã hội, tôn giáo, văn hóa… Tuy nhiên, nếu chỉ là những cá nhân đơn độc, bị xé lẻ, bị cô lập thì tiếng nói, sự phản biện của họ đối với Nhà nước bị hạn chế và họ cũng không thể tự làm chủ xã hội, nếu chỉ bằng sự nỗ lực đơn lẻ của từng cá nhân. Thông qua quyền lập hội, các tổ chức xã hội được thành lập và đó là tiếng nói có tổ chức của những người dân được tập hợp lại với nhau để phản biện, kiểm soát Nhà nước, cùng Nhà nước và các thiết chế chính trị khác trong hệ thống chính trị, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, như trong thời kỳ đấu tranh cách mạng, nhân dân – Đảng – Nhà nước đã cùng đồng tâm hiệp lực. Đảng, Nhà nước cần thực sự tôn trọng tính xã hội của các tổ chức này.

Thứ hai, nếu chúng ta thực sự cầu thị, thực sự tôn trọng các ý kiến khác nhau trên nền tảng lợi ích dân tộc, thì báo chí và phương tiện truyền thông cần “tách” khỏi Nhà nước. Nói cách khác, Nhà nước không nên trực tiếp “ôm” báo chí (và các phương tiện truyền thông khác) mà quản lý bằng luật pháp. Nó là “của” xã hội, bởi lẽ nhân dân chỉ trao cho Nhà nước ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, còn nhánh “quyền thứ tư” này nhân dân giữ lại. Mặt khác, chế độ “kiểm duyệt” đối với báo chí và các phương tiện truyền thông cần phải được xem xét, tiến tới loại bỏ, vì nó là tiếng nói của nhân dân, là phương tiện để nhân dân phản biện và giám sát Nhà nước và các thiết chế quyền lực khác.

Thứ ba, để phản biện xã hội đa dạng về phương pháp, hình thức có hiệu quả, việc xây dựng hành lang pháp lý cho các quyền: quyền tự do ngôn luận, quyền hội họp, quyền biểu tình là rất cần thiết. Chúng ta đã nói nhiều đến phản biện xã hội, đến vai trò của phản biện xã hội trong việc phát huy dân chủ. Có lẽ, đây là điều không cần bàn cãi. Phản biện xã hội có nhiều hình thức và mức độ thể hiện khác nhau. Biểu tình là một trong những hình thức thể hiện đó và đây là hình thức thể hiện sự phản kháng của một bộ phận xã hội. Họ muốn phản bác, hoặc sửa đổi đối với một chủ trương, chính sách, quyết định của Nhà nước và yêu cầu Nhà nước xem xét lại vấn đề đó. Rõ ràng, đó là một trong những khả năng bình thường xảy ra của phản biện xã hội và quan trọng hơn, đó là một quyền hết sức cơ bản, hết sức chính đáng của người dân[17].

Thứ tư, một việc làm không kém phần quan trọng là phải ban hành “Luật về quyền được thông tin” của người dân. Để công dân làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội; để các tổ chức xã hội phản biện về chủ trương, chính sách, đề án; để chức năng giám sát xã hội đối với Đảng, Nhà nước có hiệu quả; nếu chúng ta thực tâm muốn chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền…, thì không thể không thực hiện việc thông tin cho xã hội, cho công dân. Đó phải là trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan nhà nước. Nếu không, hiệu quả của phản biện xã hội và giám sát xã hội sẽ không cao.

Thứ năm, như đã phân tích, định hướng, chủ trương của Đảng, Nhà nước về phản biện xã hội là rõ ràng, có lẽ không cần nói thêm. Tuy nhiên, từ chủ trương đến thực tiễn, từ lời nói đến việc làm có khi là một khoảng cách khá xa. Tiến sĩ Trần Đăng Tuấn, tác giả của khá nhiều bài viết về phản biện xã hội rất tinh tường và “tâm lý” khi đưa ra nhận định, đại ý rằng: Người ta thường hay tán dương tranh luận dân chủ (chung chung), nhưng lại thường không thích cá nhân (cụ thể) hay tranh luận, phản đối mình (mặc dù có thể mình sai), nhất là những người dưới quyền[18] và hãy để ý đến một hiện tượng “rất thật” khác: Quan sát nghị trường, dễ dàng nhận thấy: i) Hoạt động chất vấn mang tính “truy kích” thường chỉ có ở các đại biểu vào “giai đoạn thoái trào”, không còn nằm trong “cơ cấu”, hoặc các đại biểu “không quan chức”; và ii) Đối tượng bị chất vấn thường chỉ là một số Bộ trưởng “thường thường”, ít khi là các đối tượng “nhạy cảm”.

Từ vấn đề rất thực tế và “phổ thông” này, suy nghĩ lối tư duy giản đơn, chúng ta có thể thấy: i) phản biện: từ lời nói đến việc làm không phải là việc dễ dàng; ii) việc thực hiện phản biện, nếu chỉ trông cậy vào lương tâm, sự nhiệt tình là cần thiết, nhưng chưa đủ.

Do đó, trước mắt cần phải xây dựng cơ chế, nhất là cơ chế pháp lý thật cụ thể về phản biện xã hội theo hướng: Một là, cần phải có văn bản quy phạm pháp luật (tốt nhất là Luật của Quốc hội) quy định cụ thể về đối tượng, phương thức, quy trình, cách thức tiếp thu ý kiến… về phản biện xã hội. Việc quy định như thế nào: trong một đạo luật về phản biện xã hội hay trong từng quyết định, đường lối, chủ trương, đề án… của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện phản biện xã hội – điều đó thuộc về kỹ thuật lập pháp; Hai là, phải khắc phục tình trạng “hô hào” chung chung: trên cơ sở luật của Quốc hội (hoặc văn bản pháp lý khác), phải đưa phản biện xã hội vào nội quy, quy chế của từng bộ, từng ngành, từng cấp, từng cơ quan, đơn vị; Ba là, trong giai đoạn hiện nay, nói đến phản biện xã hội, dù muốn hay không, không thể không nói đến vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Hướng tư duy về vai trò của Mặt trận cần đổi mới: nếu như trước đây, trong thời kỳ đấu tranh cách mạng, thì sứ mệnh giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc đặt lên hàng đầu. Lúc này, đồng thuận xã hội để cùng Đảng, Nhà nước hợp thành một khối thống nhất để đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Vì thế, Nhà nước cần có trách nhiệm “nuôi dưỡng” Mặt trận, nhất là trong những ngày còn “chập chững”. Khác với trước đây, trong tiến trình dân chủ hóa ngày nay, Mặt trận chuyển từ vai trò “thuốc tăng lực” sang vai trò “chất đề kháng” đối với Nhà nước. Muốn vậy, cần đảm bảo tính độc lập của Mặt trận. Cần khắc phục tính chất “nhà nước hóa” Mặt trận và các đoàn thể xã hội (G.S Tương Lai cho rằng, tình trạng “nhà nước hóa” đó thể hiện trong mối liên kết dọc với cơ cấu tổ chức, phương thức điều hành và kinh phí họat động[19]). Mặt khác, đến nay Mặt trận đã vững vàng. Đó là những lý do để Nhà nước “buông” Mặt trận và bản thân Mặt trận cũng nên chủ động “thoát” khỏi Nhà nước về ngân sách. Đã đến lúc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và tất cả các tổ chức phi Chính phủ cần đổi mới theo hướng tự chủ về tài chính. Đảng, Nhà nước cần tôn trọng tính xã hội của các tổ chức đó, trả lại nó những gì đúng với bản chất của nó.


[1] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 44.

[2] Ví dụ, Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam,…, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (Điều 4). “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…” (Điều 30).

[3] Xem: Tr?n éang Tu?n, Ph?n bi? n xã h?i: m?t s? v?n d? chung, T? p chí Cộng s?n, s? 17 (tháng 9-2006), tr. 38-43 và Tr?n éang Tu?n, Phuong th?c th?c hi?n ph?n bi? n xã h?i, T? p chí C?ng s?n, s? 23 (tháng 12-2006), tr. 23-32; ho?c xem các ý ki? n phát bi?u trong H?i ngh? v? i các v? nguyên là lãnh d? o é? ng, Nhà nu? c, các v? lão thành cách m?ng, nhân si, trí th? c và lãnh đạo các tổ chức thành viên nhằm góp phần hoàn thiện "Đề án ph?n bi? n xã h?i c?a MTTQ Vi?t Nam" (Ban Thu? ng tr?c UBTU MTTQ Vi?t Nam t? ch?c trong hai ngày 3 và 4-7/2007) – http://www.mattran.org.vn/TinMoi/8.htm.

[4] Chẳng hạn, trong nhận định “Hãy nhìn xung quanh, ta sẽ thấy đâu cũng có sự phản biện. Một cánh đồng lúa xanh êm đềm chứng minh có một vẻ đẹp khác ngoài vẻ đẹp của núi non hùng vĩ. Người chơi bon sai bậc thượng thừa giật mình trước một thế cây tự nhiên trong mé núi không ai để ý”; Xem Trần Đăng Tuấn, Phản biện xã hội, http://vietnamnet.vn/chinhtri/chongthamnhung/2006/08/600075/. Có lẽ, tác giả muốn mượn hình ảnh tương phản trong thế giới tự nhiên để nói rằng phản biện xã hội là hoạt động mang tính tự nhiên (quy luật). Chúng tôi chia sẻ với cách tư duy đó. Tuy nhiên, theo chúng tôi, hai vấn đề này có bản chất khác nhau.

[5] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 124.

[6] Thêm nữa, phản biện xã hội đối với các vấn đề của Đảng là phản biện “ngoài Đảng”. Tuy nhiên, do đặc thù của hệ thống chính trị nước ta, khó có thể tách rời riêng biệt hệ thống tổ chức của Đảng với bộ máy nhà nước, nên “ngoài Nhà nước” cũng đồng thời là “ngoài Đảng” và “ngoài Đảng” cũng có thể được hiểu đồng thời là “ngoài Nhà nước”. Do vậy, đối với nước ta hiện nay, nếu hiểu theo nghĩa rộng hơn (có tính đến đặc thù của hệ thống chính trị) phản biện xã hội có thể được hiểu là phản biện“ngoài Đảng, ngoài Nhà nước” và chúng tôi cho rằng, quy định của Văn kiện của Đảng trong trích dẫn trên được hiểu theo cách này.

[7] Xem: Trần Đăng Tuấn, Phương thức thực hiện phản biện xã hội, bđd, tr. 23-32.

[8] Xem: Trần Đăng Tuấn, Phản biện xã hội: một số vấn đề chung, bđd, tr. 38-43.

[9] Xem: Jean Jacques Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1992, tr. 77 (Bản dịch của Hoàng Thanh Đạm).

[10] Phát biểu tại Hội nghị với các vị nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các vị lão thành cách mạng, nhân sĩ, trí thức và lãnh đạo các tổ chức thành viên nhằm góp phần hoàn thiện "Đề án phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam" (Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam tổ chức trong hai ngày 3 và 4-7/2007)- http://www.mattran.org.vn/TinMoi/8.htm.

[11] Nhìn nhận, đánh giá về nước ta hiện nay, có tác giả cho rằng: “Chúng ta đừng tự cho mình là sạch sẽ một cách lý tưởng mà không dám đụng đến những ung nhọt của mình..”, “Chúng ta đang là một cơ thể nhiều bệnh. Đó là tham nhũng, bè phái, dối trá…”. Xem: Đặng Phong (Quang Thiện ghi), Thuyền nhỏ phải lựa dòng, báo Tuổi trẻ chủ nhật, 17/12/2006).

[12] G.S Tương Lai, Xã hội dân sự và mấy vấn đề của các tổ chức xã hội, Tạp chí Khoa học pháp lý (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, số 4 (41)/2007, tr, 8.

[13] Cách dùng từ của GS.TS Đặng Ngọc Dinh, ‘đừng sợ xã hội dân sự’, vnexpress (online ngày 21/5/2006).

[14] Xem ”Xã hội dân sự không đối lập với nhà nước”, VietNamNet ngày 12/6/2006.

[15] Điều 20 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người; Điều 22 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị .

[16] Hiến pháp 1992 quy định tại Điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

[17] Trừ Hiến pháp 1946, tất cả các bản Hiến pháp sau này của nước ta đều quy định về quyền biểu tình của công dân. (Điều 25, Hiến pháp 1959; Điều 67, Hiến pháp 1980; Điều 69, Hiến pháp 1992). Đặc biệt, Điều 67, Hiến pháp 1980, cách quy định rất “xã hội dân sự” là “ Công dân có quyền… tự do biểu tình…”

[18] Trần Đăng Tuấn, Phản biện xã hội, http://vietnamnet.vn/chinhtri/chongthamnhung/2006/08/600075/

[19] G.S Tương Lai, Xã hội dân sự và mấy vấn đề của các tổ chức xã hội, Tạp chí Khoa học pháp lý (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, số (41)/2007, tr.10.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 111, THÁNG 11 NĂM 2007 - TS. VŨ VĂN NHIÊM – Đại học Luật TPHCM

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)