Chào quý khách! cảm ơn quý khách hàng đã gửi câu hỏi về hộp thư tư vấn của chúng tôi, Vấn đề quý khách đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

I. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật lao động 2012

- Nghị định 122/2015/NĐ-CP mức lương tối thiểu vùng người lao động theo hợp đồng lao động

II. Nội dung

Em làm cty TNHH tin học Gia Bảo, được 3 năm, công ty không kí hợp đồng lao động và không đóng BHXH cho e. Đến thời điểm 3 tháng trước đây công ty bảo với em tạm ngừng hoạt động thời gian và cho em nghỉ việc, nhưng không trả lương 2 tháng trước đó. Chủ công ty thì không còn liên lạc được nữa. Cho e hỏi trường hợp này em phải làm sao để lấy được tiền lương ạ. Cảm ơn luật sư nhiều ạ.

Khoản 1 Điều 201 BLLĐ 2012 quy định như sau:

"1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

>> Xem thêm:  Môi giới việc làm có phải ngành nghề kinh doanh có điều kiện ?

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng"

Như vậy, tranh chấp giữa bạn và công ty là về thanh toán tiền lương, vì vậy, trước khi khởi kiện bạn phải tiến hành thủ tục hòa giải tại Hòa giải viên lao động. Nếu như hòa giải không thành thì bạn có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Bạn cần lưu ý thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo quy định của BLLĐ như sau:

Điều 202. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

2. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Ngoài ra, bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi của chủ công ty khi đã vi phạm Điều 18 Khoản 1 BLLĐ về nghĩa vụ giao kết hợp đồng và việc trậm thanh toán lương cho NLĐ. Hành vi của chủ lao động tùy theo mức độ sẽ bị xử lý theo quy định tại Khoản 3 Điều 13 tại Nghị định 95/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động được sửa đổi, bổ sung bởi Nghi định 88/2015/NĐ-CP.

"3. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Trả lương không đúng hạn; trả lương thấp hơn mức quy định tại thang lương, bảng lương đã gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc ban đêm, tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định của pháp luật; trả lương không đúng quy định cho người lao động khi tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động, trong thời gian tạm đình chỉ công việc, trong thời gian đình công, những ngày người lao động chưa nghỉ hàng năm theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

>> Xem thêm:  Năm 2020, Công ty sẽ bị phạt bao nhiêu tiền khi không nộp thang lương, bảng lương ?

d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên."

Hi Luật sư, Tôi là T, tôi muốn hỏi luật sư về việc Công ty tôi vừa nghỉ không chịu trả tiền lương tháng trước cho tôi. Tôi đã làm ở công ty được gần 4 tháng và chưa ký kết với Công ty bất kỳ hợp đồng lao động nào. Do có công việc mới tôi đã viết Mail xin nghỉ với giám đốc. Đến ngày nhận lương tôi không nhận được lương. Khi hỏi lại thì giám đốc bảo không trả lương tháng đó vì nghỉ đột ngột. Tôi muốn hỏi luật sự theo luật tôi có được nhận lương tháng đó không. Nếu công ty không trả tôi phải làm gì Thanks!

Trường hợp của bạn, công ty đã vi phạm nghĩa vụ giao Kết HĐLĐ trước khi nận NLĐ vào làm. Mặc dù, hai bên không tiến hành giao kết hợp đồng nhưng phía công ty có nghia vụ vẫn phải thanh toán tiền lương cho bạn, ứng với công việc bạn đã làm ở công ty. Vì giữa bạn và công ty chưa giao kết hợp đồng lao động nên không có cơ sở để xác định về thời gian báo trước để thôi việc tại công ty. Trong trường hợp này, sai phạm trước hết từ phía công ty đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bạn, bạn có quyền xin thôi việc mà không cần phải tuân thủ các quy định về thủ tục khi đơn phươg chấm dứt hợp đồng lao động. Theo đó, công ty vãn phải trả lương đầy đủ ứng với công việc bạn đã làm.

Để đảm bảo quyền lợi cho mình, bạn cần yêu cầu công ty thanh toán đầy đủ tiền lương đúng hạn cho mình, nếu công ty không thực hiện bạn có quyền làm đơn gửi ra phòng Lao động, thương binh và xã hội nơi công ty có trụ sở để yêu cầu hòa giải viên lao động giải quyết theo quy định tại Điều 201 BLLĐ. 

Nếu như hòa giải không thành thì bạn có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Bạn cần lưu ý thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo quy định của BLLĐ và các quyền lợi của mình như trường hơp tư vấn ở trên.

Xin phép cho e hỏi e đang làm trắc đạc cho một công ty tư chưa ký hợp đồng. Hiện tại em đã xin nghỉ ở công ty đó nhưng họ vẫn chưa thanh toán hết tiền lương cho em. Tính tới thời điểm hiện tại đã gần 1 năm e có gọi điện hỏi thì người ta bảo chưa có. Vậy luật sư cho e hỏi e có thể kiện công kia được không và cụ thể như thế nào ?

Trường hợp của bạn, công ty cũng vi phạm các nghĩa vụ như hai trường hợp ở trên, cách thức để giải quyết tranh chấp cũng thực hiện như hai trường hợp đã tư vấn ở trên.

Tôi có thuê nhân viên làm việc bán thời gian nhưng không ký hợp đồng , tôi chưa thể xoay kịp tiền lương cho nhân viên nên trễ lương , một số nhân viên đồi kiện tôi ra toà giải quyết ,vậy cho tôi hỏi nhân viên có thể kiện tôi được không ?. Và có một số nhân viên tôi có ký hợp đồng nhưng là hợp đồng bán thời gian ,tôi trễ lương nhưng nhân viên tự ý nghỉ ngang thì có kiện tôi được không ? Kính mong luật sư giải đáp , xin cảm ơn!

Điều 96 BLLĐ quy định như sau:

Điều 96. Nguyên tắc trả lương

Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.

Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng lao động bản cập nhật mới nhất năm 2020

Như vậy, pháp luật cho phép bạ được chậm lương 01 tháng nhưng phải thanh toán thêm lãi suất cho nhân viên. Nếu như bạn chậm lương nhân viên đã hơn 01 tháng thì bạn đã vi phạm pháp luật lao động về nghĩa vụ trả lương

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 201 BLLĐ đã trích dẫn ở trên thì tranh chấp này giữa bạn và nhân viên buộc phải qua thủ tục hòa giải tại hòa giải viên lao động. Nếu hòa giải không thành thì họ mới có quyền khởi kiện bạn ra tòa. Tuy nhiên, hành vi chậm trả lương cho nhân viên của bạn đã vi phạm quy định pháp luật lao động về nghĩa vụ trả lương và sẽ bị phạt hành chính nếu bị nhân viên tố giác. Mức phạt được quy định tại Khoản 3 Điều 13 tại Nghị định 95/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động được sửa đổi, bổ sung bởi Nghi định 88/2015/NĐ-CP:

"3. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Trả lương không đúng hạn; trả lương thấp hơn mức quy định tại thang lương, bảng lương đã gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc ban đêm, tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định của pháp luật; trả lương không đúng quy định cho người lao động khi tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động, trong thời gian tạm đình chỉ công việc, trong thời gian đình công, những ngày người lao động chưa nghỉ hàng năm theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên."

Chào luật sư, Tôi là T, nhân viên văn phòng, lương tháng 8 vừa rôi tôi được nhận mức lương cơ bản là 4.446.000đ với 27 ngày công thực tế. Tôi có 1 câu hỏi là: luật lao động hiện nay la chỉ áp dụng 26 ngày công cho bao nhiêu đó tiên cơ bản hay la nếu tháng nào có ngày 31 vao ngày thường tức 27 ngày công thi cũng bao nhiêu đó tiền lương cơ bản. Hay là ngày công thứ 27 được tính riêng..? Cảm ơn.luật sư.

Lương cơ bản do người sử dụng lao động đặt ra, là cơ sở để tính tiền công, tiền lương thực lĩnh của người lao động trong chính doanh nghiệp đó. Trong doanh nghiệp thực tế thì lương cơ bản là lương để đóng bảo hiểm, không tính các khoản phụ cấp, trợ cấp khác. Lương cơ bản không được thấp hơn lương tối thiểu, và đối với lao động đã qua học nghề thì phải được cộng thêm 7% lương tối thiểu nữa. 

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1, Điều 90, Bộ luật Lao động 2012 quy định về "Tiền lương" thì:

>> Xem thêm:  Phải làm gì khi người sử dụng lao động chậm trả tiền lương ?

"1. Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận.

Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.

Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định."

Căn cứ theo Điều 3 nghị định 122/2015/NĐ-CP về mức lương tối thiểu vùng người lao động theo hợp đồng lao động( áp dụng năm 2016) thì 

"Điều 3. Mức lương tối thiểu vùng

1. Quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với doanh nghiệp như sau:

a) Mức 3.500.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.

b) Mức 3.100.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II.

c) Mức 2.700.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III.

d) Mức 2.400.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV."

>> Xem thêm:  Tư vấn về quy định của pháp luật về hợp đồng lao động ?

Điều 5. Áp dụng mức lương tối thiểu vùng

1. Mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 3 Nghị định này là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương, trong đó mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận phải bảo đảm:

a) Không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động chưa qua đào tạo làm công việc giản đơn nhất;

b) Cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động đã qua học nghề quy định tại Khoản 2 Điều này.

Như vậy, lương cơ bản sẽ dựa trên mức lương tối thiểu vùng để tính. Mà mức lương tối thiểu vùng được quy định dựa trên 01 tháng làm việc. Theo đó, nếu tháng đó có 27 ngày làm việc thì vẫn tính như tháng có 26 ngày làm việc, tức ngày công thứ 27 không được tính riêng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Bộ phận tư vấn Luật Lao động - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Lương giáo viên tiểu học dạy hợp đồng được quy định như thế nào ?

>> Xem thêm:  Hết thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động có được giải quyết ?