1. Tố cáo tội phạm lừa đảo qua mạng ở đâu ?

Thưa Luật sư, tôi có đọc được một tin tuyển dụng trên mạng, theo đó, tôi sẽ có 1 công việc là nhân viên bán xăng. Khi tôi gọi điện liên lạc với người đăng tin thì nhận được lời hẹn đến địa chỉ số 9 ngõ 73 đườngH.T.B để làm việc trực tiếp. Tiếp đó, người phỏng vấn yêu cầu nộp 800.000 tiền phí (gần giống như đặt cọc) và hẹn tôi sẽ gọi điện thông báo lịch phỏng vấn và ký hợp đồng.
Theo như tin đăng và người đó nói thì sẽ gọi lại sau 1 ngày nhưng tôi phải chờ và liên lạc tới 4 ngày mới được hẹn lên ký hợp đồng và sẽ phải nộp thêm 4 triệu đồng tiền đặt cọc nữa với lí do công ty sợ tôi sẽ không làm lâu dài và số tiền đó sẽ được hoàn trả sau 3 tháng làm việc. Nhận thấy có sự vô lí và có biểu hiện lừa đảo mang tính chất nguy hiểm vì cùng với tôi có nhiều người khác cùng xin việc nên tôi quyết định báo với cơ quan chức năng để điều tra giải quyết nhưng không biết bắt đầu từ đâu và với địa điểm như nêu trên thì tôi nên nộp đơn tố cáo tại cơ quan nào cho phù hợp?

Trả lời:

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được cấu thành như thế nào?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017:

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

...."

Các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm:

Thứ nhất, mặt khách quan: của tội này có các dấu hiệu sau:

Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết, bằng hành động …và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

Thứ hai, khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

Thứ ba, mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Thứ tư, chủ thể: chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Như vậy, theo quy định trên thì một trong những dấu hiệu để hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được cấu thành tội lừa đảo là: tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên. Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp thì bên công ty tuyển dụng bạn qua mạng đã yêu cầu bạn nộp 800.000 tiền phí (gần giống như đặt cọc) và 4 triệu đồng tiền đặt cọc nữa với lí do công ty sợ bạn sẽ không làm lâu dài và số tiền đó sẽ được hoàn trả sau 3 tháng làm việc nhưng bạn nhận thấy có sự vô lí và có biểu hiện lừa đảo mang tính chất nguy hiểm nên bạn quyết định báo với cơ quan chức năng để điều tra giải quyết. Tức là bạn chỉ mới nộp 800.000 đồng tiền phí nên hành vi của công ty đó chưa cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được. Do đó công ty mà bạn nộp đơn ứng tuyển sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng cháy chữa cháy như sau:

"Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

......

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;...."

Bạn có thể trình báo tới cơ quan công an nơi bạn nộp tiền để được xem xét, giải quyết theo pháp luật.

>> Tham khảo: Mẫu đơn tố cáo

Kèm theo đơn tố cáo là những bằng chứng, chứng cứ chứng minh cho hành vi lừa đảo này.

Như vậy, bạn làm đơn tố cáo hành vi của công ty đó kèm theo các cuộc nói chuyện, tin nhắn và hóa đơn chuyển khoản đến cơ quan công an nơi bạn nộp tiền hoặc nơi bạn đang cư trú để giải quyết.

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

2. Hành vi lừa đảo qua việc trúng thưởng thẻ ATM ?

Thưa luật sư, em xin luật sư tư vấn cho em về sự việc như sau: Khoảng tháng 8 năm nay em có nhận được cuộc điện thoại của nhân viên chăm sóc khách hàng của VP bank nói là em khách hàng may mắn được tặng một thẻ ATM có số dư trong tài khoản là 120 triệu trong chương trình tri ân của ngân hàng, và yêu cầu em gửi CMND và sổ Hộ khẩu đến cho nhân viên CSKH.
Mọi chữ ký của em là do nhân viên CSKH ký thay. Sau khi em nhận được thẻ và rút 40 triệu Tại ATM và 60 triệu là nhờ nhân viên chăm sóc khách hàng rút hộ (vì nghĩ là mình được trúng thưởng) nhưng sau một tháng ngân hàng mới nói là thẻ ghi nợ và yêu cầu em phải thanh toán theo tháng tối thiểu là 5% dư nợ.
Vậy em không thanh toán cho ngân hàng có được không ạ. Vì mọi giấy tờ để ký trên ngân hàng đều không phải do em ký mà là Nhân viên chăm sóc khách hàng ký ?
Xin luật sư tư vấn giúp em. Xin cảm ơn

Trả lời:

Trong trường hợp của bạn, thông tin của nhân viên chăm sóc khách hàng của ngân hàng không rõ ràng. Bạn cũng không xác định người gọi cho bạn có đúng là nhân viên chăm sóc khách hàng của VP Bank hay không mà đã cung cấp thông tin về chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu cho người đó.

Sau 1 tháng thì ngân hàng thông báo yêu cầu bạn thanh toán thẻ. Như vậy, thẻ của bạn là thẻ tín dụng chứ không phải thẻ ATM. Theo thông tư 23/2011/TT-NHNN, thẻ tín dụng là một hình thức thay thế cho việc thanh toán trực tiếp. Hình thức thanh toán này được thực hiện dựa trên uy tín. Chủ thẻ không cần phải trả tiền mặt ngay khi mua hàng. Thay vào đó, Ngân hàng sẽ ứng trước tiền cho người bán và chủ thẻ sẽ thanh toán lại sau cho ngân hàng khoản giao dịch. Thẻ tín dụng cho phép khách hàng "trả dần" số tiền thanh toán trong tài khoản. Chủ thẻ không phải thanh toán toàn bộ số dư trên bảng sao kê giao dịch hằng tháng.

Thẻ tín dụng (Credit Card) là một loại thẻ ngân hàng mà người sở hữu có thể dùng để thanh toán mà không cần tiền có sẵn trong thẻ. Điều này có nghĩa là bạn “mượn” một số tiền của ngân hàng để mua sắm, chi tiêu và cuối kỳ sẽ phải trả lại đầy đủ cho ngân hàng. Thẻ tín dụng được làm bằng chất liệu nhựa polyme với hình dạng và kích thước theo tiêu chuẩn ISO 7810. Tùy vào ngân hàng phát hành mà thẻ sẽ có màu sắc cùng thiết kế riêng biệt.

Thẻ ATM là công cụ được ngân hàng phát hành theo chuẩn quy định về chất lượng thẻ cũng như tính năng mà thẻ mang lại cho người dùng. Thẻ được trang bị những tính năng ngân hàng như: chuyển rút tiền, vấn tin tài khoản, thanh toán hóa đơn, rút tiền… tại cây ATM theo quy định riêng của mỗi ngân hàng.

ATM bao gồm: thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước của nội địa và cả quốc tế. Ngoài ra còn có thẻ đảm bảo, thẻ thanh toán…

Người gọi điện cho bạn có thể không phải là nhân viên chăm sóc khách hàng của VP Bank, mà đã dùng thủ đoạn lừa gạt để bạn cung cấp thông tin cho họ để làm thẻ tín dụng, chiếm đoạt số tiền 60 triệu đồng. Trường hợp này bạn cần đến ngân hàng xác minh, làm rõ vụ việc để tìm hướng giải quyết một cách đúng đắn và không vi phạm pháp luật.

Còn trường hợp bạn không chứng minh được là bạn không trực tiếp ký vay các khoản vay kia mà là do người kia đã lừa bạn. Mà trên thực tế ngân hàng lại có các bằng chứng về việc bạn đã cung cấp số tài chứng minh thư cũng như sổ hộ khẩu cho họ. Và nếu bạn không chứng minh được chữ kia là giả mạo chữ ký của bạn thì ngân hàng hoàn toàn có căn cứ để yêu cầu bạn thanh toán cho họ số tiền này. Còn nếu bạn chứng minh được và công an tìm được thủ phạm chính thực hiện việc lừa đảo này thì bạn vẫn phải trả lại cho ngân hàng số tiền là 40 triệu đồng mà bạn đã rút ra để dùng. Còn người kia sẽ có thể bị truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Có nên trình báo công an về hành vi lừa đảo?

Thưa luật sư, Xin hỏi: Tôi có một nhờ một người làm thủ tục để xin đi du học nước ngoài (Anh). Như sau khi đưa tiền họ cứ hẹn mãi, tôi nghi mình đã bị lừa đảo. Tôi có thể kiện người ta lừa đảo mình được không ? hay phải khởi kiện ra tòa án để xử lý vụ việc trên.
Kính mong luật sư tư vấn và hướng dẫn, tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho Chúng tôi. Quan điểm của chúng tôi trong trường hợp này như sau:

Trường hợp 1: Xử lý theo quy định của luật hình sự.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017: theo đó xét về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết, bằng hành động …và bằng nhiều hình thức khác để chiếm đoạt tài sản.

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.

Bạn có quyền trình báo vấn đề này ra cơ quan công an/cơ quan điều tra quận huyện nơi bạn đưa tiền cho người đó. Bạn có thể tham khảo: Mẫu đơn trình báo công an

Cơ quan điều tra có trách nhiệm xem xét vụ việc xem có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự không ? Nếu có họ sẽ khởi tố và điều tra hành vi trên.

Trường hợp 2: Xử lý theo quy định của pháp luật Bộ luật dân sự

Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015 trường hợp người này không có yếu tố lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì đây được có thể là hành vi tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

Điều 26. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.

2. Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.

3. Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

Về thẩm quyền Tòa án giải quyết là Tòa án cấp huyện trong trường hợp không có yếu tố nước ngoài, cụ thể về căn cứ pháp lý theo điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015:

Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

Trường hợp có yếu tố nước ngoài thì Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 37 BLTTDS 2015

Điều 37. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;

Theo quy định tại Điều 39 BLTTDS 2015 về việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ cụ thể như sau:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;"...

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Bán tài sản một lúc cho hai người hướng xử lý ?

Thưa luật sư, Tôi có mua 01 chiếc dream với giá 17. 000. 000 vnd chủ xe là người chồng, hiện đang đi làm xa người làm giấy tờ bán xe với tôi là người vợ, với lý do hiện tại đang cần tiền gấp, và đã được sự đồng ý của chồng.

Là chỗ quen biết và hiện tại tôi chưa có nhu cầu sử dụng chiếc xe nên tôi đã cho người vợ mượn lại xe để sử dụng và có viết tay giấy cho mượn xe, tôi và người bán cùng tỉnh nhưng khác huyện. Tôi chưa thể sang tên đổi chủ chiếc xe vì người chồng chưa về. Tôi đã yêu cầu người bán là người vợ xuống huyện tôi để làm giấy tờ mua bán, rồi mang ra ubnd chứng thực. Nay tôi có nhận được tin là chiếc xe đã được bán cho 1 người nữa. Sự việc xảy ra sau khi tôi cho mượn xe, không rõ người chồng hay người vợ làm thủ tục.

Vậy mong luật sư tư vấn cho trong trường hợp trên thì:

1. Giấy tờ mua bán của tôi với người vợ có hiệu lực, hợp pháp để tôi có toàn quyền với chiếc xe tôi đã mua hay không ?

2. Nếu như sảy ra tranh chấp giữa tôi và người mua thứ 2 hoặc với chủ xe là chồng của người bán cho tôi, thì tôi có thể nhận lại được số tiền tôi đã bỏ ra hay không ?

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, trường hợp của bạn phải xem xét người chồng có văn bản ủy quyền hợp pháp cho người vợ về việc bán chiếc xe hay không? trường hợp không có văn bản ủy quyền thì việc mua bán giữa bạn và người vợ không có hiệu lực, bởi lẽ đây là tài sản do người chồng đứng tên (là tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp chiếc xe mua trong thời kỳ hôn nhân bằng tài sản chung của vợ chồng tạo ra). Trường hợp người chồng có văn bản ủy quyền thì việc mua bán của bạn và người vợ hợp pháp mặc dù chưa công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật hiện hành tại Điều 129 Bộ Luật dân sự 2015 thì :

- Giao dịch dân sự (GDDS) đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

- Giao dịch dân sự (GDDS) đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

Thứ hai, nếu như xảy ra tranh chấp giữa bạn và người mua thứ 2 hoặc với chủ xe là chồng của người bán cho bạn, thì bạn có thể nhận lại được số tiền bạn đã bỏ ra trong trường hợp giao dịch mua bán giữa hai bên bị vô hiệu (không thực hện được).

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ số: 1900.0159 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?