1. Tổ chức quốc tế liên chính phủ là gì?

Là các thực thể liên kết các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế . Được hình thành trên cơ sở điều ước quốc tế có quyền năng chủ thể luật quốc tế ,có hệ thống các cơ quan duy trì hoạt động thường xuyên theo đúng mục đích tôn chỉ của tổ chức quốc tế đó .

2. Đặc điểm của tổ chức quốc tế liên chính phủ

-Tổ chức quốc tế là thực thể liên kết các quốc gia : đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt với tổ chức quốc tế phi chính phủ vì tổ chức quốc tế phi chính phủ thì thành viên là cá nhân,pháp nhân ,các tổ chức khác nhau vì mục đích chung nào đó. Nhưng có một số trường hợp ngoại lệ thành viên không phải là các quốc gia VD :WTO bao gồm thành viên là cả các vùng lãnh thổ,vùng nội vụ,thuế quan đặc biệt như Hồng Kông ,Ma Cao…

- Hình thành trên cơ sở điều ước quốc tế (để thành lập một tổ chức quốc tế các quốc gia thành viên bắt buộc phải ký kết một điều ước quốc tế để thành lập tổ chức quốc tế đó ).không như tổ chức quốc tế phi chính phủ được hình thành trên cơ sở thoả thuận quốc tế VD : Liên hợp quốc- hiến chương liên hợp quốc,ASEAN -tuyên bố Băng Cốc năm 1962.

- Có quyền năng chủ thể riêng biệt với quyền năng chủ thể của các quốc gia: và được ghi nhận trong điều lệ của tổ chức đó .Tuỳ vào từng tổ chức khác nhau thì sẽ có giới hạn cũng như phạm vi quyền năng chủ thể khác nhau

- Có một hệ thống bộ máy tổ chức chặt chẽ để duy trì hoạt động : VD WHO có ba cơ quan chính đó là : Hội nghị bộ trưởng, đại hội đồng và ban thư ký…

3. Các vấn đề pháp lý cơ bản về tổ chức quốc tế liên chính phủ

a) Quy chế thành viên :

- Điều kiện và thủ tục gia nhập : Các tổ chức quốc tế khác nhau là khác nhau và được ghi nhận trong điều lệ của ttỏ chức quốc tế đó

Lưu ý :

-Các quốc gia gia nhập phải thoả mãn điều kiện của diều lệ

- Mỗi một tổ chức có một điều lệ riêng

b) Cơ quan:

Để phân biệt với các thực thể khác không phải tổ chức quốc tế VD : APEC : chỉ là diễn đàn không có bộ máy cơ quan ARP : diễn đàn khu vực Đông Nam Á

Phân loại :

- Cơ quan đoàn thể (đại hội đồng liên hợp quốc …)

- Cơ quan hạn chế số lượng thành viên : Hội đồng bảo an liên hợp quốc: 15 thành viên

- Cơ quan chính : được quy định tại điều lệ

- Các cơ quan hỗ trợ giúp việc cho cơ quan chính ,do cơ quan chính thành lập

c) Nhân viên :

Bao gồm các viên chức của tổ chức quốc tế liên chính phủ và các chuyên gia trong đó viên chức tổ chức quốc tế là những người được tổ chức quốc tế bầu hoặc tuyển dụng ,các viên chức tổ chức quốc tế được hưởng một số quyền ưu đãi và miễn trừ tương tự như ưu đãi miễn trừ ngoại giao.

d) Hoạt động chức năng :

-Xây dựng và thực hiện pháp luật quốc tế

+ Xây dựng trự tiếp pháp luật quốc tế : là việc các tổ chức quốc tế trự tiếp tham gia xây dựng điều ước hợc thừa nhận tập quán quốc tế và trở thành thành viên của laọi nguồn đó

+ Hoạt động xây dựng pháp luật gián tiếp : là việc các tổ chức quốc tế đưa ra các sang kiến hợc bảo trợ các quốc gia ký kết điều ước quốc tế VD : công ước luật biển năm 1982 ,Công ước CEDEW : xoá bỏ mọi hoạt động phân biệt đối xử đối với phụ nữ Bản chất là công ước của các quốc gia ,ngoài ra các tổ chức quóc tế trong quá trình hoạt động của mình thường ban hành ba loại văn bản :

+ Nghị quyết bắt buộc đối với các thành viên

+ Nghị quyết bắt buộc đối với một số thành viên

+ nghị quyết khuyến nghị

- Thứ hai là hoàn thiện cơ cấu và ngân sách của tổ chức quốc tế ( rút khỏi tổ chức quốc tế ,khai trừ , đình chỉ tư cách thành viên của các tổ chức quốc tế)

4. Vai trò của tổ chức liên chính phủ

+ Hiện nay, tổ chức liên chính phủ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế. Khi thành lập của một tổ chức quốc tế thì các thành viên trong tổ chức đó đều có thể liên kết với nhau về mọi mặt trong tất cả các lĩnh vực chính trị, giáo dục, thể thao, kinh tế thương mại tạo điều kiện cho các quốc gia phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội.

+ Hoạt động xây dựng pháp luật trực tiếp của các tổ chức quốc tế, đồng nghĩa với việc sẽ thu hẹp khoảng cách giữa các quốc gia tạo điều kiện để các nước đàm phán và cùng nhau hợp tác cùng có lợi và phát triển nền kinh tế, đồng thời tạo ra mạng lưới sản xuất và lưu thông các sản phẩm hàng hóa giữa các quốc gia sẽ đến tay người tiêu dùng một cách dễ dàng hơn, tạo điều kiện để nền kinh tế phát triển hơn. Tạo môi trường thuận lợi để phát triển để thúc đẩy đầu tư trong nước và ngoài nước, phát triển tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ. Cho nên với sự ký kết gia nhập tổ chức quốc tế ra đời hàng loạt các văn bản ký kế song phương, đa phương tạo sự hợp tác cho các nước nhất là các nước thành viên với nhau.

Các quốc gia tiến hành ký kết các điều ước quốc tế và điều ước quốc tế là một trong các văn bản pháp lý quốc tế do các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổi hoăc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau thông qua các quy phạm điều ước. Điều ước quốc tế có thể ký kết theo hình thức đa phương hoặc song phương. Khi Ký kết các điều ước quốc tế là một quá trình hết sức phức tạp, nó chỉ có thể thực hiện được khi các bên tham gia thể hiện ý chí của mình một cách rõ ràng và dứt khoát như là quát trình đàm phán để đi đến soạn thỏa điều ước, thủ tục ký và các thủ tục khác để cho điều ước quốc tế có hiệu lực thi hành.

Chấp nhận các tập quán quốc tế và tập quán quốc tế có thể coi là những quy tắc xử sự chung, thông thường nó được hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế và đã được các quốc gia thừa nhận là quy phạm pháp lý ràng buộc mình được áp dụng một cách tự nguyện. Để được công nhận là một tập quán quốc tế thì các quy tắc đó phải được các quốc gia hoặc các tổ chức liên chính phủ thừa nhận và áp dụng thường xuyên.

+ Tổ chức liên chính phủ có vai trò lập nên các thiết kế để giám sát thực hiện điều ước quốc tế mà tổ chức bảo trợ ký kết để thực hiện các điều ước quốc tế một cách nghiêm túc đặc biệt trong lĩnh vực môi trường và các quyền của con người.

+ Khi gia nhập các tổ chức quốc tế thì các quốc gia thành viên sẽ được hưởng ưu đãi thuế so với các quốc gia khác.

+ Việc thành lập tổ chức liên chính phủ thì sự hợp tác quốc tế sẽ đem lại hiệu quả rõ rệt và sâu rộng hơn.

5. Vai trò của Việt Nam trong tổ chức quốc tế nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế thương mại trong giai đoạn hiện nay

Trong điều kiện quốc tế ngày nay khi quá trình hội nhập ngày càng được xúc tiến nhanh, ngoại giao đa phương ngày càng giữ một vị trí quan trọng, góp phần nâng cao vị thế quốc tế của đất nước trên thế giới. Cho đến nay, Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Việt Nam đã hoạt động tích cực với vai trò ngày càng tăng tại Liên hợp quốc (ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU...), phát huy vai trò thành viên tích cực của phong trào Không liên kết, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp, ASEAN ... Có thể nói ngoại giao đa phương là một điểm sáng trong hoạt động ngoại giao thời đổi mới. Những kết quả đạt được trong mối quan hệ đan xen này đã củng cố và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước, tạo ra thế cơ động linh hoạt trong quan hệ quốc tế, có lợi cho việc bảo vệ độc lập tự do.

Trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, vai trò của Việt Nam cũng ngày càng gia tăng. Việc nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng vào loại nhanh nhất thế giới cũng như giảm thiểu những hậu quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, những thành tích trong việc xoá đói giảm nghèo, nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế, bước đầu thành công trong việc ngăn chặn đà suy thoái, duy trì ổn định, góp phần đảm bảo an sinh xã hội… được tạo được những ấn tượng tốt đẹp và uy tín quốc tế. Hội nghị doanh nghiệp châu Á lần thứ 19 của Asia Society tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh vừa qua đã thu hút sự quan tâm lớn của cộng đồng doanh nghiệp quốc tế. Việc Asia Society thêm một lần chọn Việt Nam làm nơi tổ chức hội nghị trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế được cho là dịp các tập đoàn đa quốc gia đến tìm hiểu môi trường kinh doanh, đánh giá lại tiềm năng và cơ hội đầu tư tại Việt Nam và nói lên mong muốn Việt Nam có thể đóng một “vai trò mới”, tích cực đóng góp vào sự phát triển chung. Việt Nam đang trở thành một điểm nổi bật ở Đông Nam Á khi các nước lân cận chịu ảnh hưởng nặng nề hơn từ cơn suy thoái kinh tế và bất ổn chính trị - xã hội. Những tiềm năng kinh tế của Việt Nam, ngoài những con số về tài nguyên, lao động, nay còn được kể thêm về chính sách tăng cường hội nhập, mở cửa kinh tế…

Vai trò của Việt Nam đang được nhìn nhận như một đại diện cho quyền lợi và tiếng nói của các nước đang phát triển. Với việc lần đầu tiên Việt Nam chủ trì Hội nghị năm 2009 của WB và IMF tại Thổ Nhĩ Kỳ đầu tháng 10 vừa qua, vị thế của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế. Các định chế tài chính lớn thường “mạnh về tiền”, nay bắt đầu chú ý lắng nghe các nước đang phát triển. Trong vai trò Chủ tịch Hội đồng Thống đốc, chủ trì Hội nghị hàng năm của hai tổ chức tài chính lớn nhất thế giới với sự tham gia của 15.000 đại biểu gồm bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng 186 nước thành viên của WB và IMF, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Giàu chỉ ra nhu cầu tăng cường hỗ trợ các nước đang phát triển, đồng thời nêu bật những nỗ lực, khả năng của châu Á, ASEAN và Việt Nam trong việc đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu. Với vai trò của mình Việt Nam đã trở thành một cầu nối giúp cho sự hợp tác kinh tế thương mại trong khu vực cũng như trên chính trường quốc tế ngày càng sâu rộng và mang lại nhiều hiệu quả cao.