BỘ THƯƠNG MẠI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 1280 TM/XNK

Hà Nội, ngày 23 tháng 7 năm 2002

TỜ TRÌNH VỀ KẾT QUẢ HỌP GIAO BAN ĐỂ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU TRONGNHỮNG THÁNG CUỐI NĂM 2002

Kínhgửi: Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủtướng Chính phủ tại văn bản số 3302/VPCP-KTTH ngày 14/6/2002 của Văn phòngChính phủ về việc tổ chức giao ban để thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu, ngày12/07/2002 vừa qua Bộ Thương mại đã tổ chức Hội nghị giao ban xuất khẩu tạithành phố Hồ Chí Minh. Tham dự Hội nghị có đại diện một số Bộ, ngành hữu quannhư Bộ Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Thuỷ sản; đại diện một sốtỉnh và thành phố như T.P Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương;các Tổng công ty 90, 91 và một số Hiệp hội ngành hàng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,Bộ Tài chính, Bộ Công nghiệp, Tổng cục Hải quan không có đại diện đến dự. TạiHội nghị, Bộ Thương mại đã báo cáo về tình hình xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm,đánh giá khả năng thực hiện kế hoạch năm 2002; rà soát tình hình triểnkhai các biện pháp khuyến khích xuất khẩu đã được Thủ tướng Chính phủ và Chínhphủ cho phép thực hiện và nêu các kiến nghị cụ thể để đẩy mạnh xuất khẩu một sốmặt hàng chủ lực. Hội nghị về cơ bản nhất trí với báo cáo của Bộ Thương mại.Bên cạnh đó, đại diện các Bộ, ngành, các doanh nghiệp và Hiệp hộingành hàng đã nêu thêm một số kiến nghị, chủ yếu là nhằm khắc phục những vướngmắc trong việc triển khai các biện pháp đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

Trên cơ sở ý kiến Hội nghị, Bộ Thươngmại xin tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ như sau:

A. VỀ TÌNH HÌNHTHỰC HIỆN KẾ HOẠCH XUẤT NHẬP KHẨU NĂM 2002:

1. Xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng ước đạt7,25 tỷ USD, giảm 5,9% so với cùng kỳ năm 2001 1. Nguyên nhân giảm sút làdo xuất khẩu năm 2002 phải đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn, nhất lànhững tháng đầu năm.

Căn cứ vào kết quả xuất khẩu 6 tháng,trước triển vọng tình hình kinh tế thương mại thế giới và trong nước trongnhững tháng cuối năm, Bộ Thương mại dự báo kim ngạch xuất khẩu trong quý III vàquý IV năm nay sẽ có mức tăng trưởng rõ nét hơn so với cùng kỳ năm 2001. Tốc độtăng trưởng luỹ kế sẽ nhích dần và có khả năng bắt đầu đạt mức tăng trưởngdương vào cuối quý III hoặc đầu quý IV năm 2002, song mức tăng trưởng xuất khẩucả năm nhiều khả năng sẽ thấp hơn mục tiêu do Quốc hội khoá X đề ra. Sau khi ràsoát khả năng xuất khẩu của từng mặt hàng chủ lực trong nửa cuối năm 2002 với cácBộ, ngành hữu quan, dự kiến sẽ phải điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng xuất khẩunăm 2002 xuống còn 6,8% (tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 16.050 triệu USD). Tuythấp hơn so với kế hoạch đề ra nhưng để đạt được mục tiêu này vẫn cần có nhữngcố gắng vượt bậc của tất cả các ngành, các cấp, các doanh nghiệp, đặc biệt làđối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như thủy sản, dầu thô, gạo, dệtmay, giày dép...

Mặt hàng

Kim ngạch 6 tháng (triệu USD)

Dự kiến cả năm 2002 (triệu USD)

1. Thủy sản

816

2.100

2. Dầu thô

1.482

2.958

3. Dệt may

990

2.400

4. Giày dép

877

1.900

5. Gạo

343

626

6. Cà phê

137

274

7. TCMN

170

300

8. Rau quả

107

330

Tổng kim ngạch

7.250

16.050

2. Nhập khẩu

Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu nămđạt 8,4 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ, trong đó các mặt hàng vật tư nguyênliệu phục vụ sản xuất và khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cómức tăng nhanh: các doanh nghiệp 100% vốn trong nước giảm, xấp xỉ như xuấtkhẩu; Nguyên nhân chủ yếu là do tỷ giá đồng tiền trong nước ổn định, giá cảhàng hoá nhập khẩu trên thế giới giảm. Do xuất khẩu tăng trưởng âm nên 6 thángđầu năm nhập siêu 1.154 triệu USD, bằng 15,9% kim ngạch xuất khẩu. Đây là mứcnhập siêu khá lớn trong các năm gần đây. Những tháng cuối năm tình hình nhậpsiêu hy vọng sẽ được cải thiện do kim ngạch xuất khẩu dự kiến tăng trưởng ở mứccao hơn những tháng đầu năm.

B. VỀ CƠ CHẾCHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH XUẤT KHẨU:

Ngay từ cuối năm 2001, Chính phủ vàThủ tướng Chính phủ đã có sự chỉ đạo hết sức sâu sát và quyết liệu đối với hoạtđộng xuất nhập khẩu. Ngày 13/12/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 31/2001/CT-TTg về việc đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩuhàng hoá năm 2002. Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP ngày 24/4/2002 của Chính phủ vềmột số giải pháp triển khai thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2002 cũngđã dành sự quan tâm đặc biệt cho các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu.Tại Hội nghị, các đại biểu đã rà soát lại tình hình triển khai thực hiện nhữnggiải pháp đó và nêu một số kiến nghị nhằm tháo gỡ những vướng mắc tồn đọng,trong đó một số kiến nghị đã được Bộ Thương mại và các Bộ, ngành hữu quan giảiđáp ngay theo thẩm quyền. Ngoài ra, có một số kiến nghị khác các Bộ, ngành cầntiếp tục nghiên cứu, triển khai thực hiện hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ choý kiến chỉ đạo, cụ thể như sau:

I. VỀ THƯƠNG MẠI:

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chínhphủ tại Chỉ thị số 31/2001/CT-TTg và Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP ngay từ đầunăm 2002 Bộ Thương mại đã tăng cường triển khai công tác xúc tiến thương mại vàcông tác thị trường. Cụ thể là đã tổ chức được 4 đoàn liên ngành đi khảosát về xuất nhập khẩu tại các thị trường Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Châu Phi vàđang tiếp tục tổ chức đoàn đi Nhật với sự tham gia của đông đảo các doanhnghiệp ngành hàng; đồng thời tích cực phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan trongviệc theo dõi, nhận biết các rào cản phi quan thuế mới, các tình huống phức tạpnảy sinh để đề xuất biện pháp tháo gỡ như đối với xuất khẩu thủy sản vào EU vàHoa Kỳ, xuất khẩu rau quả vào Trung Quốc, xuất khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ vàNhật Bản. Về cơ chế quản lý nhập khẩu, Bộ Thương mại đã xây dựng đề án áp dụngcác công cụ quản lý nhập khẩu mới như hạn ngạch thuế quan, thuế tuyệt đối báocáo Thủ tướng Chính phủ để xin ý kiến chỉ đạo.

Trong thời gian tới Bộ Thương mại sẽtiếp tục triển khai một số nhiệm vụ cụ thể sau:

1. Phối hợp với Ban Tổ chức Cán bộ -Chính phủ và các Bộ, ngành hữu quan triển khai thực hiện thí điểm việc cử Thamtán kinh tế chuyên trách ngành hàng theo Chỉ thị số 31/2002/CT-TTg xâydựng đề án bổ sung cán bộ cho Đại diện thương mại Việt Nam tại một số bang cótriển vọng tại Hoa Kỳ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 3531/VPCP-KTTH ngày 28/06/2002.

2. Tiếp tục chỉ đạo các thương vụtăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp của ta tìm kiếm khách hàng, thị trường.

3. Sớm ban hành cơ chế điều hành xuấtkhẩu hàng dệt may năm 2003 vào các thị trường có quy định hạn ngạch để cácdoanh nghiệp chủ động trong việc ký hợp đồng xuất khẩu.

4. Xúc tiến nhanh việc thành lập cáctrung tâm giới thiệu sản phẩm Việt Nam tại Hoa Kỳ, Nga và các Tiểu vương quốc Ảrập Thống nhất (Đu bai) theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 301/CP-KTTH ngày 22/03/2002.

5. Làm việc với một số tỉnh biên giớiđể tiếp tục triển khai một số công việc sau khi tham gia hội chợ Côn Minh theođề nghị của Sở Thương mại T.P Hồ Chí Minh.

6. Làm việc với Hiệp hội Lương thựcViệt Nam về cơ chế xuất khẩu gạo vào các thị trường tập trung để đề xuất phươngán báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

II. VỀ TÀI CHÍNH,NGÂN HÀNG:

Thực hiện Chỉ thị số 31/2001/CT-TTg và Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP Bộ Tài chính đã ban hành một số văn bản để cụthể hóa các chính sách tài chính, hỗ trợ xuất khẩu như Quyết định số 63/2002/QĐ-TTg ngày 21/05/2002 về việc thưởng kim ngạch xuất khẩu năm 2002; cácvăn bản hướng dẫn việc miễn, giảm một số chi phí liên quan đến xuất khẩutrong năm 2002 như miễn thu lệ phí hạn ngạch xuất khẩu hàng hoá và lệ phí hảiquan, lệ phí cấp giấy chứng nhận xuất khẩu hàng giày dép đi EU và lệ phí cấpgiấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá xuất khẩu, miễn thu phí, lệ phí kiểm dịch độngvật, thực vật xuất khẩu. Quỹ hỗ trợ Phát triển cũng đã có văn bản số 167/HTPT-VNN về việc mở rộng đối tượng vay vốn tín dụng ngắn hạn hỗ trợ xuấtkhẩu theo Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg bao gồm tất cả các thương nhân xuấtkhẩu các mặt hàng: gạo, cà phê, chè, lạc nhân, thịt gia súc, gia cầm các loại,rau quả hộp, rau quả tươi, rau quả khô và sơ chế, hạt tiêu, hạt điều, thủy sản,gốm, sứ, đồ gỗ mỹ nghệ, mây tre lá, dệt may, giày dép vào tất cả các thị trường.

Trong thời gian tới, đề nghị Bộ Tàichính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành hữu quannghiên cứu, triển khai một số giải pháp sau:

a. Về tài chính:

1. Quyết định số 63/2002/QĐ-BTC vềviệc thưởng kim ngạch xuất khẩu năm 2002 đã có một số cải tiến, cụ thể là ngoàiviệc mở rộng đối tượng được thưởng, việc thẩm định hồ sơ đã được phân cấp chocác tỉnh. Tuy nhiên, để tạo thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp, Sở Thương mạiT.P Hồ Chí Minh kiến nghị việc thẩm định hồ sơ nên giao Sở Thương mại thực hiệnvà việc xuất Quỹ hỗ trợ xuất khẩu sẽ do Sở Tài chính thực hiện. Theo cách này,hồ sơ thưởng của các doanh nghiệp không phải chuyển ra Hà Nội, ngoài ra các địaphương có thể xem xét có thêm mức thưởng bổ sung cho các doanh nghiệp bên cạnhmức thưởng theo Quyết định số 63/2002/QĐ-BTC .

Ngoài ra, Tổng Công ty Chè đề nghị ápdụng việc chi thưởng đối với cả hàng hoá xuất khẩu theo Hợp đồng của Chính phủ(như xuất khẩu chè sang I-rắc do phụ phí chiến tranh cao)

Bộ Thương mại đề nghị Bộ Tài chínhnghiên cứu các ý kiến trên và đề xuất hướng xử lý phù hợp.

2. Đề nghị Bộ Tài chính tiếp tục kiệntoàn quy trình hoàn thuế GTGT và sớm ban hành chế độ chấn chỉnh việc khấutrừ thuế GTGT đối với hàng hoá xuất khẩu là nông sản, thủy sản: hướng dẫn thuthuế GTGT đối với phân bón và thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu phù hợp với đặcthù lưu thông hai mặt hàng này;

3. Nghiên cứu trình Quốc hội cho ápdụng thống nhất một mức thuế thu nhập đối với doanh nghiệp FDI và doanh nghiệptrong nước có doanh số xuất khẩu như nhau.

4. Tăng cường phối hợp với các Bộ,ngành hữu quan để sớm triển khai cụ thể việc cải tiến chế độ chi hỗ trợ pháttriển thị trường, xúc tiến thương mại theo tinh thần Nghị quyết số05/2002/NQ-CP của Chính phủ.

5. Tăng cường phối hợp với các Bộ,ngành rà soát các chi phí dịch vụ đầu vào đối với hàng xuất khẩu để sớm có đềán báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc giảm tới mức hợp lý các chi phí này.

6. Theo phản ánh của một số doanhnghiệp thì việc tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ tín dụng xuất khẩu chưa thật thuậnlợi do thủ tục còn phức tạp. Đề nghị Bộ Tài chính và Quỹ Hỗ trợ Phát triển tổchức họp tổng kết rút kinh nghiệm hỗ trợ tín dụng xuất khẩu thời gian qua, xâydựng đề án thành lập Ngân hàng xuất, nhập khẩu trình Thủ tướng Chính phủ theotinh thần Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP của Chính phủ.

7. Đề nghị Bộ Tài chính sớm quyếttoán thực hiện các hợp đồng xuất khẩu gạo cho Philippin và Cu Ba đã thực hiệntrong năm 2001; đề xuất phương án hỗ trợ tài chính đối với các hợp đồng nàytheo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 35/CP-KTTH ngày 27/06/2002của Chính phủ.

8. Bộ Tài chính phối hợp với một sốBộ, ngành nghiên cứu xây dựng cơ chế bảo hiểm một số mặt hàng nông sản, trướchết đối với các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn.

b. Về ngân hàng:

1. Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP chophép: "miễn toàn bộ lãi vay ngân hàng cho các hộ nông dân ở các tỉnh TâyNguyên vay chăm sóc vườn cà phê niêm vụ 2001 - 2002. Ngân hàng Nhà nướccấp bù khoản lãi vay". Đề nghị Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính sớm cóhướng dẫn cụ thể.

2. Về cơ chế thanh toán qua ngân hàngvới CHLB Nga, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo một số ngân hàng thương mại ký cácbiên bản ghi nhớ về thanh toán với các đối tác ngân hàng thương mại Nga. Đềnghị Ngân hàng Nhà nước có thông báo cụ thể cho các doanh nghiệp Việt Nam để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc lựa chọn ngân hàng giao dịch, bảo đảman toàn trong thanh toán.

3. Đối với cơ chế thanh toán vớiTrung Quốc, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký kết Hiệp định về thanh toán vớiNgân hàng Trung ương Trung Quốc. Đề nghị Ngân hàng Nhà nước sớm có hướng dẫn cụthể về việc triển khai hiệp định trên.

4. Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP giaoNgân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các ngân hàng thương mại tiếp tục cho vayvốn để thực hiện những dự án vay tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước do cácngân hàng thẩm định và đang cho vay dở dang. Những dự án mới do Quỹ hỗ trợ pháttriển thẩm định thì cho vay theo đúng quy định hiện hành. Đề nghị Ngân hàng Nhànước sớm có hướng dẫn cụ thể.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀKHÁC:

1. Ngày 24/06/2002 vừa qua Thủ tướngChính phủ đã ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khíchtiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng. Các Bộ, ngành, địa phương cầnnhanh chóng triển khai thực hiện các nhiệm vụ đã được phân công tại Điều 8 củaQuyết định số 80/2002/QĐ-TTg sớm đưa chủ trường của Nhà nước vào thực tiễncuộc sống.

2. Chỉ thị số 31/2001/CT-TTg đã giaoBan Tổ chức - Cán bộ Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Thương mại và các Bộ,ngành hữu quan nghiên cứu, chấn chỉnh hoạt động của các Hiệp hội ngành hàng đểtăng cường vai trò của Hiệp hội trong việc thúc đẩy xúc tiến thương mại, bảođảm quyền lợi của các Hội viên và lợi ích quốc gia.

Đề nghị Ban Tổ chức - Cán bộ Chínhphủ phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan, sớm ra Nghị định về các Hiệp hội ngànhhàng.

C. KIẾN NGHỊ

Các Bộ, ngành đều nhận thấy trongtình hình xuất khẩu năm 2002 phải đối mặt với nhiều thách thức, các giải phápkhuyến khích xuất khẩu đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép áp dụng tại Chỉ thịsố 31/2001/QĐ-TTg và Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP là tương đối đầy đủ và toàndiện, khi được triển khai sẽ vừa là những giải pháp trước mắt nhưng đồng thờicũng là những giải pháp có tác dụng trong thời kỳ trung hạn đối với xuất khẩu.Vấn đề còn lại là tiếp tục tập trung triển khai thực hiện cho thật tốtcác biện pháp này, nhanh chóng đưa cơ chế, chính sách vào thực tiễn. Vì vậy,trong thời gian tới Bộ Thương mại sẽ tích cực phối hợp với các Bộ, ngành hữuquan để triển khai thực hiện các giải pháp thuộc thẩm quyền của Bộ Thương mại.Đối với các giải pháp thuộc thẩm quyền của các Bộ, ngành khác, Bộ Thương mạikiến nghị Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các Bộ, ngành hữu quan khẩntrương thực hiện ngay, nhanh chóng đưa cơ chế, chính sách vào thực tiễn, gópphần nâng cao hiệu quả và kim ngạch xuất khẩu trong 6 tháng cuối năm 2002 để cóthể tiến gần tới mục tiêu do Quốc hội khoá X đã đề ra của năm 2002, tạo tiền đềcho tăng trưởng xuất khẩu những năm tiếp theo.

Trên đây là Tờ trình của Bộ Thươngmại trên cơ sở tổng hợp ý kiến của Hội nghị giao ban xuất khẩu tại thành phố HồChí Minh ngày 12/07/2002 vừa qua. Kèm theo Tờ trình này là Báo cáo của BộThương mại về một số chính sách, biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu trong những thángcuối năm 2002 phục vụ Hội nghị giao ban xuất khẩu, Bộ Thương mại xin kính trìnhThủ tướng Chính phủ xem xét và cho ý kiến chỉ đạo.

K.T BỘ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG MẠI
THỨ TRƯỞNG




Mai Văn Dâu

BỘ THƯƠNG MẠI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Hà Nội, ngày 08 tháng 07 năm 2002

BÁO CÁO

VỀ MỘT SỐ CHÍNH SÁCH, BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU TRONGNHỮNG THÁNG CUỐI NĂM 2002(Tài liệu phục vụ Hội nghị giao ban 7-2002)

A. VỀ TÌNHHÌNH XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2002 VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THỰC HIỆNKẾ HOẠCH XUẤT KHẨU NĂM 2002:

I. KẾT QUẢ XUẤTNHẬP KHẨU 6 THÁNG ĐẦU NĂM:

1. Xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng ước đạt7,25 tỷ USD, giảm 5,9% so với cùng kỳ năm 2001 1. Các mặt hàng có kimngạch tăng là cao su (25,5%), chè (31,7%), lạc nhân (62,7%), than đá (45,3%),dệt may (3%), giày dép (10,6%) và hàng thủ công mỹ nghệ (49%). Các mặt hàng cókim ngạch giảm là dầu thô (-16,7%), thủy sản (-2,4%), gạo (-1,3%), cà phê(-45,4%), rau quả (-38%), hạt tiêu (-12,5%) và hàng điện tử - linh kiện máytính (-28,4%).

Nguyên nhân chủ yếu của việc giảm kimngạch xuất khẩu là:

- Lượng xuất khẩu của một số mặt hàngchủ lực giảm, như gạo giảm 26,6%, cà phê giảm 34%, dầu thô giảm 1,9%. Nguyênnhân một mặt do các chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng đang được thựchiện, mặt khác do hạn hán tác động trên diện rộng. Sản lượng thủy sản tuy tăng gần 5% nhưng mặt hàng chủ lực là tôm lại giảm hơn 3%.

- Kinh tế và thương mại thế giới còntrì trệ, sức mua yếu khiến giá cả chậm phục hồi, ở một số mặt hàng thậm chí còntiếp tục giảm so với cùng kỳ năm 2001 2. Thiệt hại do giá xuất khẩu thấp ướctính vào khoảng trên dưới 400 triệu USD. Do giá giảm nên một số mặt hàng tăngrất khá về lượng như cao su, lạc nhân, chè... nhưng kim ngạch không tăng tươngứng.

- Môi trường thương mại thế giới kémthuận lợi, xuất hiện nhiều rào cản thương mại. Các vấn đề như lao động, môitrường, an toàn thực phẩm... được đặt ra một cách thái quá ảnh hưởng đến xuấtkhẩu của ta, nhất là đối với thủy sản và dệt may, trong khi đó ta lại có ítkinh nghiệm ứng phó với những vấn đề như vậy.

2. Nhập khẩu

Kim ngạch chung 6 tháng đầu năm ướcđạt 9.544 triệu USD, tăng 7,4%, trong đó về hàng hoá đạt 8.404 triệu USD, tăng8,1%.

Kim ngạch nhập khẩu tăng chủ yếu ởcác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với cơ cấu máy móc, thiết bị phụ tùng18,1%; nguyên, vật liệu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu 30,4%; các Khu chếxuất nhập khẩu 13%.

Một số mặt hàng chủ yếu khối lượngtăng mạnh so với cùng kỳ năm 2001 như sợi 43,9%, phân bón 39,1%, ô tô dạng linhkiện, lắp ráp 31,9%, thép thành phẩm 31%, máy móc, thiết bị, phụ tùng 28,8%,giấy các loại 28,4%, chất dẻo nguyên liệu 24,1%, hóa chất nguyên liệu 21%, phôithép 10,8%, xăng dầu 7,6%, tân dược 10%. Trong khi đó có một số mặt hàng nhậpkhẩu giảm nhiều như xe gắn máy giảm 65,8%, ô tô nguyên chiếc giảm 15,5%, bônggiảm 4,6%... Hàng tiêu dùng xấp xỉ cùng kỳ năm 2001.

Cụ thể tình hình nhập khẩu một số mặthàng chủ yếu như sau:

Phân bón: khối lượng phân bón6 tháng nhập khẩu 1,8 triệu tấn các loại tăng 39,1% so với cùng kỳ năm 2001.Nhập khẩu tăng chủ yếu do giá phân bón trên thị trường thế giới vẫn ở mức thấp(phân U rê khoảng ±110USD/tấn), các doanh nghiệp chuẩn bị lực lượng cho vụ Hè -Thu và sản xuất trong nước giảm khoảng 13% (tùy từng loại phân, riêng phân Lângiảm 21% do giá thành cao hơn hàng nhập khoảng 10 - 12USD/tấn).

Xăng dầu: Khối lượng nhập khẩu6 tháng đầu năm 4,9 triệu tấn, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2001, trong đó: quýI tăng 5,4%, tháng 4 giảm 10,2% tháng 5 tăng 27,9% và tháng 6 tăng 2,7%.

Trong 6 tháng đầu năm giá xăng dầutrên thị trường thế giới tiếp tục tăng (riêng tháng 6 giá xăng có giảm nhẹ),ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, với 4 lần điều chỉnh thuế suấtthuế nhập khẩu, Nhà nước đã đảm bảo hiệu quả cho các doanh nghiệp kinh doanh,cung ứng xăng dầu.

Hiện nay, một vấn đề cần được quantâm là các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu xăng dầu đang không mua được ngoạitệ, nên việc nhập khẩu rất khó khăn. Đề nghị các Bộ, ngành tích cực triểnkhai các biện pháp để hỗ trợ.

Linh kiện lắp ráp xe gắn máy: Khốilượng 6 tháng nhập khẩu 332 ngàn bộ, giảm 65,8% so với cùng kỳ năm 2001. Trongđó lượng nhập từ Trung Quốc giảm 93% (do Nhà nước có các quyết định mới quản lýchặt chẽ việc nhập khẩu linh kiện xe máy):

Mặc dù khối lượng nhập khẩu giảmnhưng trên thị trường nội địa chưa xuất hiện tình trạng tăng giá đột biến.

Giấy: Khối lượng nhập khẩu 6tháng tăng 28,4% so với cùng kỳ năm 2001 do nhu cầu tăng trong khi giá trên thịtrường thế giới giảm (khoảng 9,7%) và từ ngày 01/5/2001 không quản lý bằng hạnngạch, giấy in báo được giảm thuế giá trị gia tăng còn 5%.

Muối: Theo Bộ Nông nghiệp vàphát triển nông thôn cho biết năm 2002, thời tiết thuận lợi cho sản xuất,sản lượng muối cả năm dự kiến đạt tới 880 ngàn tấn, tăng 300 ngàn tấn so vớinăm 2001. Giá mua muối trong dân khoảng 350 - 400 đồng/kg ở miền Bắc, 200 - 300đồng/kg ở miền Trung và 250 - 300 đồng/kg ở miền Nam - chỉ bằng khoảng 50% sovới mức giá tăng đột biến năm 2001 nhưng đã bảo đảm bù đắp chi phí sản xuất vàcó lãi cho diêm dân.

Tổng nhu cầu muối của cả nước khoảng1.250 ngàn tấn (phục vụ ăn uống, công nghiệp hóa chất, bảo quản, chế biến thủysản, sản xuất khác, dự trữ quốc gia, dự trữ gối vụ...); Trong khi tổng nguồncung ứng khoảng 1.260 ngàn tấn (gồm tồn kho 2001 chuyển sang 283 ngàntấn, sản xuất trong nước 880 ngàn tấn và 90 ngàn tấn đã nhập khẩu). Với mức giámuối trong nước và thuế suất thuế nhập khẩu muối 30% hiện nay, việc nhập khẩumuối là không hiệu quả.

Ngày 29/10/2001, Chính phủ có côngvăn số 975/CP-KTTH tạm thời đưa muối ăn vào Danh mục hàng hoá quản lý chuyênngành, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.Hiện nay, các Bộ, ngành chức năng đang phối hợp triển khai áp dụng thí điểm hạnngạch thuế quan đối với muối nhập khẩu theo tinh thần công văn số 1160/CP-KTTH ngày 24/12/2001 của Chính phủ.

Đường: Vẫn thực hiện tạm ngừngnhập khẩu để bảo hộ sản xuất trong nước. Tuy nhiên cần thực hiện các biện phápquyết liệt hơn để chống việc nhập khẩu lậu đường qua biên giới.

Tóm lại, nét nổi bật của 6 tháng đầunăm là: nhập khẩu tăng nhanh ở các mặt hàng vật tư nguyên liệu phục vụ sản xuấtvà tăng nhanh ở khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: các doanhnghiệp 100% vốn trong nước giảm, xấp xỉ như nhập khẩu; Nguyên nhân chủ yếu làdo tỷ giá đồng tiền trong nước ổn định, giá cả hàng hoá nhập khẩu trên thế giớigiảm, và đặc biệt là do xuất khẩu tăng trưởng âm. Chính vì vậy, 6 tháng đầu nămthương mại hàng hoá và dịch vụ đã nhập siêu 969 triệu USD (trong đó thương mạidịch vụ xuất siêu 185 triệu USD và thương mại hàng hoá nhập siêu 1.154 triệuUSD, bằng 15,9% kim ngạch xuất khẩu hàng hoá, đây là mức nhập siêu khá lớntrong các năm gần đây). Những tháng cuối năm tình hình nhập siêu hy vọng đượccải thiện do kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng dự kiến ở mức cao hơn những thángđầu năm.

II. ĐÁNH GIÁ KHẢNĂNG THỰC HIỆN KẾ HOẠCH XUẤT KHẨU 2002:

Xuất khẩu năm 2002 phải đối mặt vớinhiều thách thức và khó khăn, nhất là trong những tháng đầu năm. So với cuốinăm 2001, tình hình kinh tế và thương mại thế giới chưa có sự cải thiện đángkể, sức mua nhìn chung còn yếu, giá cả chậm phục hồi, xuất hiện nhiều rào cảnmới. Các vấn đề như lao động, môi trường, an toàn thực phẩm, tranh chấp thươnghiệu được các nước nhập khẩu đặt ra một cách thái quá khiến xuất khẩu của ta bịảnh hưởng, nhất là thủy sản và dệt may. Trong nước, nguồn hàng xuất khẩucũng gặp một số hạn chế, một phần do tác động của chuyển dịch cơ cấu trong nôngnghiệp, phần khác do ảnh hưởng của hạn hán xảy ra ở nhiều nơi. Vì vậy, từ tháng3 trở đi mặc dù kim ngạch xuất khẩu hàng tháng đã tăng liên tiếp, riêng tháng 6ước đạt 1,42 tỷ USD (tháng có kim ngạch cao nhất kể từ đầu năm 2001 đến nay)nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm vẫn giảm 5,9% so với cùng kỳ.Nếu không tính dầu thô thì các mặt hàng khác có mức giảm thấp hơn (-2,7%). Tìnhhình đồi hỏi phải có những cố gắng và nỗ lực rất lớn của tất cả các ngành, cáccấp, các doanh nghiệp mới có thể tiến gần tới mục tiêu do Quốc hội khóa X đề racủa năm 2002.

Tăng trưởng sau 2 tháng (%)

Tăng trưởng sau 3 tháng (%)

Tăng trưởng sau 4 tháng (%)

Tăng trưởng sau 5 tháng (%)

Tăng trưởng sau 6 tháng (%)

Tổng kim ngạch

-16,0

-12,2

-9,0

-6,8

-5,9

Dầu thô

-27,5

-22,3

-20,3

-17,7

-16,7

Không phải dầu thô

-12,3

-9,2

-5,6

-3,5

-2,7

- Khối Việt Nam

-19,6

-15,6

-13,8

-11,7

- Khối FDI

3,9

5,4

14,5

16,8

Căn cứ vào kết quả xuất khẩu 6 thángđầu năm 2002, dự báo tình hình kinh tế, thương mại thế giới và trong nước trongnhững tháng cuối năm, sau khi rà soát khả năng xuất khẩu của từng mặt hàng chủlực, Bộ Thương mại dự báo kim ngạch xuất khẩu trong quý III và quý IV năm naysẽ có mức tăng trưởng rõ nét hơn so với cùng kỳ năm 2001. Tốc độ tăng trưởngluỹ kế sẽ nhích dần và có khả năng bắt đầu đạt mức tăng trưởng dương vào cuốiquý III hoặc đầu quý IV năm 2002. Trên cơ sở đó, dự báo năm 2002 có khả năngđạt kim ngạch xuất khẩu 16.051 triệu USD, tăng 6,8% so vớinăm 2001, bằng 96,69% kế hoạch. Để đạt mục tiêu này, kim ngạch xuất khẩu bìnhquân trong 6 tháng cuối năm 2002 phải đạt 1.467 triệu USD/tháng (chi tiết cụthể xin xem Phụ lục đính kèm).

B. VỀ CƠ CHẾCHUNG ĐỂ KHUYẾN KHÍCH XUẤT KHẨU:

Để đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu10 - 13% như Quốc hội đã đề ra, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã có sựchỉ đạo hết sức sâu sát và quyết liệt. Ngày 13/12/2001 Thủ tướng Chính phủ đãra Chỉ thị số 31/2001/CT-TTg về việc đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt độngxuất nhập khẩu hàng hoá năm 2002. Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP ngày 24/4/2002của Chính phủ về một số giải pháp triển khai thực hiện kế hoạch kinh tế - xãhội năm 2002 cũng đã dành sự quan tâm đặc biệt cho các giải pháp đẩy mạnh xuấtkhẩu. Phần này xin rà soát lại tình hình triển khai thực hiện những giải phápđó.

I. NHỮNG GIẢI PHÁPĐÃ ĐƯỢC CÁC BỘ, NGÀNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN THEO CHỈ THỊ SỐ 31/2001/CT-TTG VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 05/2002/NQ-CP .

1- Thưởng theo kimngạch xuất khẩu:

Chỉ thị số 31/2001 của Thủ tướngChính phủ và Nghị quyết số 05/2002 của Chính phủ đã cho phép mở rộng đối tượngđược thưởng theo kim ngạch xuất khẩu năm 2002. Ngày 21/5/2002 Bộ Tài chính đãcó quyết định số 63/2002/QĐ-BTC công bố mức thưởng cho những mặt hàng. Trong số13 nhóm mặt hàng được thưởng, có tới 11 nhóm mặt hàng thuộc khu vực kinh tếnông nghiệp, nông thôn.

Đề nghị các doanh nghiệp cần sử dụngtiền thưởng này một cách có hiệu quả, cố gắn đưa được một phần tiền thưởng tớitay nông dân thông qua việc nâng giá thu mua.

Để phát huy tác dụng tích cực của chếđộ thưởng, tạo thuận lợi cho thương nhân, việc thẩm định hồ sơ đã được phân cấpcho các tỉnh, UBND các tỉnh cần có sự chỉ đạo sâu sát, bảo đảm thực hiện đúngquy trình, quy định của Nhà nước. Thời gian giải quyết hồ sơ nên được quy địnhcụ thể và áp dụng cho tất cả các cấp tham gia vào quá trình thẩm định. Thí dụ,nếu có yêu cầu bổ sung, chỉnh lý hồ sơ thì tất cả các yêu cầu đó phải được đưara trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. Khi đã nhận được hồsơ hoàn chỉnh thì hồ sơ đó phải được giải quyết dứt điểm trong 15 ngày làm việcv.v.

2- Ký hợp đồngtiêu thụ sản phẩm với nông dân:

Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP của Chínhphủ đã nêu rõ: "khuyến khích doanh nghiệp ký hợp đồng tiêu thụ sảnphẩm với nông dân".

Ngày 24/06/2002 vừa qua Thủ tướngChính phủ đã ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khíchtiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng. Các Bộ, ngành cần nhanh chóngtriển khai thực hiện các nhiệm vụ đã được phân công tại Điều 8 của Quyết địnhsố 80/2002/QĐ-TTg dẫn trên.

3- Giảm các chiphí liên quan đến xuất khẩu:

Chỉ thị 31/2001/CT-TTg của Thủ tướngChính phủ đã cho phép tiếp tục áp dụng trong năm 2002 các biện pháp hỗ trợ trựctiếp đã được áp dụng cho xuất khẩu năm 2001. Nghị quyết 05/2002/NQ-CP của Chínhphủ cũng cho phép "tiếp tục thực hiện cơ chế miễn thu lệ phí hạn ngạchxuất khẩu hàng hoá và lệ phí hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu đến hết tháng12/2002. Vừa qua, Bộ Tài chính đã có một số hướng dẫn cụ thể như sau:

- Ngày 20/03/2002 Bộ Tài chính đã cóvăn bản số 2409/TC-TCT về việc không thu phí, lệ phí kiểm dịch động vật,thực vật khi xuất khẩu, áp dụng đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có độngvật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật xuất khẩu.

- Ngày 03/06/2002 Bộ Tài chính đã có văn bản số 5337 TC/TCT về việc miễn thu lệ phí hạn ngạch xuất khẩu hànghoá và lệ phí hải quan đối với tất cả các hàng hoá xuất khẩu đến hết ngày31/12/2002.

- Ngày 27/06/2002 Bộ Tài chính đã cóvăn bản số 7128 TC/TCT về việc miễn thu lệ phí cấp giấy chứng nhận xuất khẩuhàng giày dép đi EU và lệ phí cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá xuất khẩu(C/O) đến hết ngày 31/12/2002.

4- Công tác thịtrường, xúc tiến thương mại:

- Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướngChính phủ tại Chỉ thị số 31/2001/CT-TTg Bộ Thương mại đã tổ chức được 4 đoàn liên ngành đi khảo sát về xuất nhập khẩu tại các thị trường Hoa Kỳ,Trung Quốc, Nga, Châu Phi và đang tiếp tục tổ chức đoàn đi Nhật với sự tham giacủa đông đảo các doanh nghiệp ngành hàng. Qua các chuyến đi, các doanh nghiệpđã có nhận thức rõ hơn về thị trường, nhu cầu cụ thể của khách hàng, hàng chụcdoanh nghiệp đã đặt được quan hệ với đối tác, một số doanh nghiệp đã kýđược biên bản ghi nhớ và hợp đồng với trị giá hàng triệu USD.

- Bộ Thương mại đang tích cực phốihợp với các Bộ, ngành hữu quan trong việc theo dõi, nhận biết các rào cản phiquan thuế mới, các tình huống phức tạp nảy sinh để đề xuất biện pháp tháo gỡnhư đối với xuất khẩu thủy sản vào EU và Hoa Kỳ, xuất khẩu rau quả vào TrungQuốc, xuất khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ và Nhật Bản.

5- Mở rộng đốitượng hỗ trợ tín dụng xuất khẩu theo mục d, phần 4 Chỉ thị số31/2001/CT-TTg :

Ngày 24/01/2002 Quỹ Hỗ trợ Phát triểnđã có văn bản số 167/HTPT-VNN về việc mở rộng đối tượng vay vốn tín dụng ngắnhạn hỗ trợ xuất khẩu theo Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10/09/2001 của Thủtướng Chính phủ bao gồm tất cả các thương nhân xuất khẩu các mặt hàng: gạo, càphê, chè, lạc nhân, thịt gia súc, gia cầm các loại, rau quả hộp, rau quả tươi,rau quả khô và sơ chế, hạt tiêu, hạt điều, thủy sản, gốm, sứ, đồ gỗ mỹ nghệ,mây tre lá, dệt may, giày dép vào tất cả các thị trường.

II. NHỮNG BIỆN PHÁPCÁC BỘ, NGÀNH CẦN TIẾP TỤC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN THEO CHỈ THỊ SỐ 31/2001/CT-TTGVÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 05/2002/NQ-CP :

1. Các giải phápvề tài chính, ngân hàng:

1.1 Hoàn thiện quy trình thu và hoànthuế GTGT:

Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP đã giaoBộ Tài chính:

Do đây là một giải pháp có ý nghĩaquan trọng đối với xuất khẩu, đề nghị Bộ Tài chính tăng cường phối hợp với cácBộ, ngành hữu quan để triển khai thực hiện.

1.5. Miễn lãi vay ngân hàng cho cáchộ nông dân ở các tỉnh Tây Nguyên vay chăm sóc vườn cà phê vụ 2001 - 2002.

Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP cho phép:"miễn toàn bộ lãi vay ngân hàng cho các hộ nông dân ở các tỉnh Tây Nguyênvay chăm sóc vườn cà phê niên vụ 2001 - 2002. Ngân sách Nhà nước cấp bù khoảnlãi vay".

Đề nghị Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tàichính sớm có hướng dẫn cụ thể:

1.6 Cho vay vốn để thực hiện dựán vay tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước.

Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP giao Ngânhàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các ngân hàng thương mại tiếp tục cho vay vốn đểthực hiện những dự án vay tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước do các ngânhàng thẩm định và đang cho vay dở dang. Những dự án mới do Quỹ hỗ trợ pháttriển thẩm định thì cho vay theo đúng quy định hiện hành.

Đề nghị Ngân hàng Nhà nước sớm cóhướng dẫn cụ thể.

2. Các giải phápvề công tác thị trường, xúc tiến thương mại:

2.1. Cải tiến chế độ chi hỗ trợ pháttriển thị trường:

Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP giao BộTài chính phối hợp với Bộ Thương mại và các Bộ liên quan nghiên cứu cải tiếnchế độ chi hỗ trợ thị trường, xúc tiến thương mại trình Thủ tướng Chính phủtrong tháng 5/2002. Đề nghị Bộ Tài chính tăng cường phối hợp với các Bộ,ngành hữu quan để sớm triển khai cụ thể biện pháp này.

2.2. Công tác xúc tiến thương mại,thông tin thị trường tại các tỉnh, thành phố:

Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP đã giaocác tỉnh, thành phố lập Qũy hỗ trợ xúc tiến thương mại để hỗ trợ doanh nghiệpphát triển thị trường, thưởng xuất khẩu cho một số mặt hàng; xây dựng cơ sở hạtầng kho tàng, bến bãi, các Trung tâm Thương mại giới thiệu sản phẩm, tư vấnthương mại, đầu tư và phổ cập thông tin trên cơ sở sử dụng ngân sách địa phương.

Hiện nay, một số tỉnh và thành phốlớn như T.P Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng... đã bắt đầu triển khaithực hiện chủ trương này. Đề nghị các tỉnh,thành phố khác tham khảo kinh nghiệmcủa tỉnh và thành phố trên để rút kinh nghiệm và sớm thành lập mô hình phù hợptại địa phương mình.

- Tiếp tục kiện toàn quy trình hoànthuế GTGT và ban hành trong tháng 6/2002 chế độ chấn chỉnh việc khấu trừthuế GTGT đối với hàng hoá xuất khẩu là nông sản, thủy sản.

- Hướng dẫn thu thuế GTGT đối vớiphân bón và thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu phù hợp với đặc thù lưu thông haimặt hàng này;

- Hướng dẫn cụ thể việc ưu đãi thuếtrong lĩnh vực gia công hoặc sản xuất hàng xuất khẩu đối với các doanhnghiệp vệ tinh.

- Nghiên cứu trình Quốc hội cho ápdụng thống nhất một mức thuế thu nhập đối với doanh nghiệp FDI và doanh nghiệptrong nước có doanh số xuất khẩu như nhau.

Đề nghị Bộ Tài chính triển khai chỉđạo của Thủ tướng Chính phủ và sớm có hướng dẫn cụ thể.

1.2 Rà soát các chi phí dịch vụ đầuvào đối với hàng xuất khẩu:

Nghị quyết 05/2002/NQ-CP giao Bộ Tàichính phối hợp với Ban Vật giá Chính phủ, Bộ Thương mại và một số Bộ có liênquan tiến hành kiểm tra, rà soát các chi phí dịch vụ đầu vào đối với hàng xuấtkhẩu để trình Thủ tướng Chính phủ một số kiến nghị cụ thể trong tháng 6/2002nhằm giảm tới mức hợp lý những chi phí này.

Hiện nay, Bộ Tài chính, Ban Vật giáChính phủ đang tiến hành rà soát lại các chi phí trên. Bộ Thương mại đã có vănbản tham gia ý kiến với Ban Vật giá Chính phủ (về giá, cước các dịch vụ BCVT;giá dịch vụ cảng biển; phí cầu, đường). Đề nghị Bộ Tài chính, Ban Vật giá Chínhphủ tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan để sớm có đề án báo cáoChính phủ.

1.3. Xây dựng cơ chế bảo hiểm sảnxuất một số mặt hàng nông sản:

Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP giao BộTài chính phối hợp với một số Bộ, ngành hữu quan xây dựng cơ chế bảo hiểm mộtsố mặt hàng nông sản, trước hết đối với các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn,trình Chính phủ trong tháng 6/2002.

Đề nghị Bộ Tài chính khẩn trương phốihợp với các Bộ, ngành hữu quan triển khai thực hiện.

1.4. Nghiên cứu thành lập Ngân hàngxuất, nhập khẩu để hỗ trợ cho vay sản xuất hàng xuất khẩu, bán chịu, trả chậm:

Nghị quyết số 05/2002/NQ-CP giao BộTài chính cùng Quỹ Hỗ trợ Phát triển tổng kết kinh nghiệm hỗ trợ tín dụng xuấtkhẩu thời gian qua, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xây dựng đề ánthành lập Ngân hàng xuất, nhập khẩu trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng9/2002.

2.3. Nâng cao vai trò của Hiệp hộingành hàng:

Chỉ thị số 31/2001/CT-TTg đã giao BanTổ chức - Cán bộ Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Thương mại và các Bộ, ngànhhữu quan nghiên cứu, chấn chỉnh hoạt động của các Hiệp hội ngành hàng để tăngcường vai trò của Hiệp hội trong việc thúc đẩy xúc tiến thương mại, bảo đảmquyền lợi của các Hội viên và lợi ích quốc gia.

Đề nghị Ban Tổ chức - Cán bộ Chínhphủ tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan triển khai chủ trương này,sớm ra Nghị định về các Hiệp hội ngành hàng.

2.4. Thực hiện thí điểm việc cử Thamtán kinh tế chuyên trách ngành hàng:

Để tăng cường công tác xúc tiếnthương mại, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép thực hiện thí điểm việc cử Tham tánkinh tế chuyên trách ngành hàng. Chỉ thị số 31/2001/CT-TTg đã giao Ban Tổ chức- Cán bộ Chính phủ chủ trì cùng Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại và các Bộ, ngànhsản xuất nghiên cứu, bổ sung các quy chế liên quan để thực hiện.

Đề nghị Ban Tổ chức - Cán bộ Chínhphủ tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan triển khai chủ trương này.

2.5- Xúc tiến nhanh việc thành lậpcác kho ngoại quan, kho hàng, trung tâm giới thiệu sản phẩm Việt Nam ở nước ngoài.

Vừa qua, trên cơ sở đề nghị của BộThương mại, Chính phủ đã có văn bản số 301/CP-KTTH ngày 22/03/2002 đồng ý việcthành lập thí điểm một số Trung tâm giới thiệu sản phẩm Việt Nam tại Hoa Kỳ,Nga và các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (Đu bai). Hiện nay Bộ Thương mạiđang chủ trì phối hợp với Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Bộ Tài chính, BộNgoại giao và Bộ Kế hoạch và Đầu tư để thống nhất về mô hình, nội dung,phương thức hoạt động, kinh phí và biên chế của các trung tâm này nhằm sớmtriển khai thực hiện thí điểm một số trung tâm theo chỉ đạo của Thủ tướng Chínhphủ.

Mong các Bộ, ngành hữu quan tích cựcxem xét các kiến nghị của Bộ Thương mại để sớm thực hiện.

C. VỀ MỘT SỐMẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỤ THỂ :

1- Thuỷ sản:

ước xuất khẩu cả năm 2002 đạt 2.100triệu USD, tăng 18,1% so với năm 2001.

Xuất khẩu 6 tháng đạt 816 triệu USD,giảm khoảng 2,4% so với cùng kỳ năm ngoái do giá bán giảm, nguồn hàng thiếu ổnđịnh, các nước EU kiểm tra gắt gao dư lượng kháng sinh đối với mặt hàng tôm,kinh tế Nhật và kinh tế Mỹ chưa hồi phục nên sức mua giảm sút... Một số mặthàng như cá ba-sa, cá tra còn bị giãn tiến độ xuất khẩu do tranh chấp thươnghiệu tại Mỹ.

Trong các tháng tới, dự kiến xuấtkhẩu vào Mỹ, Trung Quốc, Hồng Kông sẽ tăng khá do đã vào vụ tôm. Xuất khẩu vàoEU sẽ còn gặp nhiều khó khăn do bị tăng cường kiểm tra dư lượng kháng sinh. Đểgiải quyết tốt vấn đề này, các Bộ, ngành hữu quan cần phối hợp chặt chẽ vớiUBND các tỉnh và các doanh nghiệp thực hiện các giải pháp về thị trường, bảođảm vệ sinh an toàn thực phẩm, về nguồn nguyên liệu cho chế biến, về thưởngxuất khẩu, về tín dụng cho sản xuất và thu mua và thường thông báotình hình cho EU để EU sớm dỡ bỏ lệnh kiểm tra tăng cường đối với mặt hàng tôm.Cần tận dụng lợi thế về vị trí địa lý để tăng cường xuất khẩu vào thị trườngTrung Quốc, đặc biệt là các tỉnh phía Nam và Tây Nam. Kinh tế Mỹ đã có dấu hiệuphục hồi nên cần tăng cường xuất khẩu vào thị trường này đồng thời cần nỗ lựcđấu tranh với việc Hiệp hội cá da trơn Mỹ kiện các doanh nghiệp Việt Nambán phá giá cá tra, cá ba-sa vào thị trường Mỹ.

Mặc dù mặt hàng thủy sản đang cónhững khó khăn nhưng để bù cho sự sụt giảm của các mặt hàng khác cần nỗ lựcphấn đấu đạt chỉ tiêu xuất khẩu năm 2002 theo dự kiến là 2.100 triệu USD.

2- Gạo:

Xuất khẩu 6 tháng khoảng 1,59 triệutấn, đạt kim ngạch khoảng 343 triệu USD. Mặc dù giá bình quân so với cùng kỳtăng khoảng 21 - 23 USD/tấn FOB nhưng do lượng xuất khẩu giảm khoảng 19,6% nêntrị giá khoảng 1,4%. Giá lúa tại ĐBSCL hiện dao động ở mức 1750 - 1850 đồng/kg,tuỳ theo chất lượng và từng địa phương. Với mức giá này thì giá thành gạo 5% sẽvào khoảng 195 - 197 USD/tấn, gạo 25% khoảng 173 - 175 USD/tấn. Trong khi đó,giá gạo trên thị trường thế giới vẫn khá ổn định, không có biểu hiệu tăng mạnh(gạo 25% của Thái Lan là 173 USD/tấn, của Paskistan là 158 USD/tấn, của ấn Độlà 130 USD/tấn).

Theo Bộ Thương mại, sở sĩ giá lúa củata liên tục đứng ở mức cao trong các tháng thu hoạch rộ vụ Đông Xuân là do nămnay không có gạo gối đầu của năm ngoái, từ tháng 3 đến nay một lượng gạo lớn từcác tỉnh phía Nam đã được mang ra bán ở miền Bắc. Theo tính toán sơbộ, lượng gạo này có thể lên tới trên 500 ngàn tấn. Bên cạnh đó, khác với nămngoái, từ đầu năm nay ta đã ký được trên 1 triệu tấn xuất vào các thị trườngtập trung nên các doanh nghiệp chủ động mua vào để chờ xuất khẩu (tính đến30/4/2002, riêng các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Lương thực còn tồn kho khoảng700 ngàn tấn). Thêm vào đó Cục Dự trữ Quốc gia cũng tiến hành muavào trong tháng 4 và tháng 5 vừa qua.

Về cơ bản lúa hàng hoá vụ Đông Xuân2001 - 2002 đã được tiêu thụ hết, số còn lại trong dân không đáng kể, chủ yếuphục vụ tiêu dùng trong nước. Lượng gạo xuất khẩu năm nay, vì vậy, sẽ khó vượtqua mức 3 triệu tấn. Trong bối cảnh đó, cần tập trung nỗ lực thực hiện các hợpđồng Chính phủ và khuyến cáo các doanh nghiệp thận trọng khi ký tiếp các hợpđồng thương mại. Về thị trường khả năng có thể xuất khẩu trên 3 triệu tấn gạo.Nhưng do giá lúa trong nước cao hơn giá xuất khẩu và tính toán nguồn hàng trongnước, theo Bộ Thương mại khả năng xuất khẩu năm 2002 chỉ ở mức 2,8 - 2,9 triệutấn gạo, tức là 6 tháng cuối năm còn kế hoạch khoảng 1,1 - 1,3 triệu tấn nữa.Hợp đồng đã ký sau 01/7/2002 khoảng 950 ngàn tấn (hợp đồng Chính phủ khoảng 650ngàn tấn gồm I-rắc: 300 ngàn tấn, Indonesia: 300 ngàn, Cuba: 50 ngàn; các hợp đồng thương mại khác khoảng 250 - 300 ngàn tấn), chưa kể 250 ngàntấn đã ký với I-rắc chưa có thời gian giao hàng cụ thể. Việc ký kết thêm hợpđồng xuất khẩu cần được tính toán thật cụ thể để tránh tình trạng giá lúa tăngcao và không có hàng để thực hiện hợp đồng.

3- Cà phê:

Xuất khẩu 6 tháng đạt khoảng 359 ngàntấn, trị giá 137 triệu USD, giảm 33,8% về lượng và 45,4% về trị giá so với cùngkỳ năm 2001.

Thị trường cà phê thời gian qua biểudiễn khá phức tạp, trong đó nổi bật là hiện tượng giá trong nước có lúc đã caohơn giá xuất khẩu. Nguyên nhân chủ yếu là do lo ngại về sản lượng của Việt Nam và nguy cơ El Nino kết hợp với tâm lý giữ lại cà phê khi giá có biểu hiện hồi phục.Trước tình hình đó, Bộ Thương mại đã có công văn khuyến các các doanh nghiệpkhông tham gia các hoạt động đầu cơ giá lên và đầu cơ giá xuống. Tới nay, thịtrường trong nước đã tương đối ổn định, giá trong nước vào khoảng 6500 đồng/kgtrong khi giá chào xuất khẩu vào khoảng 460 - 470 USD/T. Dự báo giá cà phê chưathể phục hồi nhanh do cán cân cung cầu trên thế giới vẫn chưa có sự cải thiệnđáng kể.

Do sản lượng vụ 2001 - 2002 của tagiảm nên dự kiến cả năm 2002 sẽ chỉ xử lý khoảng 680 - 700 ngàn tấn, đạt kimngạch khoảng 274 triệu USD, giảm 27% về lượng và 30% về trị giá. Giá xuấtkhẩu bình quân cả nước ước khoảng 403 USD/tấn, giảm 4% so với năm 2001. Để nângcao hiệu quả xuất khẩu, ngoài các biện pháp trung và dài hạn như tiếp tụcchuyển dịch cơ cấu sản xuất dưới sự giám sát chặt chẽ của UBND tỉnh, nângcao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm... các doanh nghiệp cần nỗ lực giữ vữngmức trừ lùi so với giá Luân Đôn như trong thời gian qua (khoảng trên dưới 50USD/T), tăng cường xuất khẩu cà phên chất lượng cao để tăng giá trị xuất khẩu.Về phía Hiệp hội, cần tăng cường chất lượng công tác dự báo sản lượng và xúctiến thương mại, đồng thời hướng dẫn các doanh nghiệp xuất khẩu đi vào tiêuchuẩn cà phê mới từ 1/10/2002.

Về thị trường tiêu thụ cà phê nhìnchung vẫn được bảo đảm, các thị trường chủ yếu của ta hiện nay là EU, Hoa Kỳ,Nhật Bản. Trong thời gian tới, cần chú trọng hơn nữa thị trường Nga, Đông Âu vàthị trường nam Trung Quốc. Các doanh nghiệp cần cố gắng thực hiện giao hàngđúng theo tiến độ đã ký với khách nước ngoài.

Theo các doanh nghiệp làm cà phê thìgiá thành cà phê quốc doanh hiện nay quá cao, vào khoảng 11 - 12.000 đồng/kg,gần gấp đôi giá thành cà phê dân doanh. Sở dĩ có tình trạng này là do cácnông trường phải gánh chịu rất nhiều chi phí hạ tầng như điện - đường - trường- trạm. hiện nay hạ tầng điện đã và đang được giải quyết bàn giao lại cho ngànhđiện. Các lĩnh vực khác đề nghị Chính phủ xem xét để tạo điều kiện cho các nôngtrường hạ giá thành.

4- Rau quả:

Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng năm đạt107 triệu USD, giảm 38,2% so với cùng kỳ năm 2001. Nguyên nhân chủ yếu do xuấtkhẩu sang Trung Quốc, thị trường chính của rau quả Việt Nam, có thời gian bị chững lại do một số vướng mắc về thủ tục từ phía bạn.

Về thị trường hàng rau quả có khảnăng xuất khẩu đạt dự kiến kế hoạch đầu năm là 350 triệu USD nhưng về nguồnhàng có khó khăn, nhất là nguyên liệu chủ yếu là dứa cung cấp cho các nhà máychế biến, nên có thể chỉ đạt kim ngạch 330 triệu USD, xấp xỉ mức thực hiện củanăm 2001. Tuy nhiên, về lâu dài, cần sớm hình thành các vùng nguyên liệu tậptrung để quản lý tốt hơn chất lượng sản phẩm, loại trừ việc sử dụng các loạithuốc bảo vệ thực vật bị cấm. Công nghệ sau thu hoạch, đặc biệt là công nghệbảo quản trái cây tươi, cần được chú ý đầu tư để giảm sức ép tiêu thụ trongthời gian ngắn đầu vụ.

5- Cao su:

xuất khẩu 6 tháng đầu năm đạt 172ngàn tấn, trị giá 89 triệu USD, tăng 39,8% về lượng và 25,4% về trị giá so vớicùng kỳ 2001. Lượng cao su xuất khẩu tăng chủ yếu do nguồn cung cao su trên thếgiơí tạm thời giảm, tồn kho cao su tại Nhật Bản ở vào mức thấp nhất kể từ năm1968 trong khi nhu cầu cao su có biểu hiện phục hồi. Tuy nhiên, do cấn cân cungcầu chưa được cải thiện về dài hạn nên giá chưa thể tăng ở mức độ lớn trong nămnay. Dự kiến xuất khẩu cao su của Việt Nam năm 2002 đạt 322 ngàn tấn, trị giá579 triệu USD, tăng 4,5% về lượng và 12,4% về trị giá.

Để đẩy mạnh xuất khẩu, cần tiếp tụcchú trọng đa dạng hóa sản phẩm để giảm dần sự phụ thuộc vào thị trường TrungQuốc, tăng cường xuất khẩu vào các thị trường EU, Singapore, Nhật Bản, Hoa Kỳ,Nga... không nên tăng thêm diện tích cao su. Đối với diện tích đã có cần tậptrung chăm sóc để nâng cao năng suất và hạ giá thành. Những khu vực đã quá hạnkhai thác thì phá bỏ, cải tạo đất và đưa giống tốt vào trồng lại, bảo đảm chomủ chất lượng cao.

6- Hạt điều:

Xuất khẩu hạt điều 6 tháng đạt 24ngàn tấn, trị giá 80 triệu USD, tăng 26,3% về lượng và 17,6% về trị giá. Thịtrường xuất khẩu chủ yếu cần là Trung Quốc và Mỹ.

Thị trường điều thế giới năm 2002 vẫntrì trệ như năm 2001, chủ yếu do nhu cầu hồi phục chậm trong khi nguồn cung vẫnổn định. ước kim ngạch xuất khẩu năm 2002 đạt 42 ngàn tấn, trị giá 150 triệuUSD, xấp xỉ mức thực hiện năm 2001. Để đẩy mạnh xuất khẩu, kiến nghị có sự hỗtrợ về vốn, kỹ thuật và giống để cải tạo lại các vườn điều cho sản lượng thấphiện nay, thay giống điều mới chịu được hạn, cho năng suất cao. Hỗ trợtín dụng và cải tiến chế độ miễn thuế, hoàn thuế để tạo thuận lợi cho nhập khẩunguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu. Tăng cường chế biến sản phẩm cao cấp đểxuất khẩu đi đôi với chú trọng vấn đề thương liệu.

Về thị trường, cần giữ vững và tăngcường xuất khẩu vào các thị trường Hoa Kỳ, Trung Quốc. Bên cạnh đó cần chútrọng các thị trường Hồng Kông, Hà lan, úc và tiếp tục mở rộng một số thịtrường mới.

7- Hạt tiêu:

6 tháng xuất khẩu 46 ngàn tấn, kimngạch 64 triệu USD, tăng 1,8% về lượng nhưng giảm 12,3% về trị giá so với cùngký năm 2001. Từ giữa tháng 4, giá đã có biểu hiện phục hồi sau khi có tin sảnlượng của Việt Nam giảm khoảng 20% trong năm nay do hạn hán (hiện giátrong nước đã vượt mức 20.000 đồng/kg). Dự kiến cả năm 2002 ta sẽ xuất khoảng50.000 tấn, giảm khoảng 12 - 13% so với năm 2001 nhưng trị giá có thể sẽ khônggiảm, thậm chí tăng nhẹ.

Để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả xuấtkhẩu, phấn đấu đưa giá tiêu của ta tiến gần hơn tới giá bình quân trên thịtrường thế giới, cần có sự cải tạo về giống, kỹ thuật và khuyến khích các doanhnghiệp đầu tư cho khâu sau thu hoạch để bảo đảm độ đồng đều và chất lượng củasản phẩm.

Về thị trường, cần tiếp tục đẩy mạnhxuất khẩu vào EU (chủ yếu là Hà Lan, Đức), Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc, hạn chế việcđưa hạt tiêu của Việt Nam qua thị trường trung gian để tái chế lại.

8- Hàng điện tửvà linh kiện máy tính:

Tính đến hết tháng 6/2002 kim ngạchxuất khẩu hàng điện tử và linh kiện máy tính đạt 230 triệu USD, đạt 30% (chỉtiêu kế hoạch 2002 là 750 triệu USD).

Đây là kết quả thực hiện quá thấp,tất nhiên có nhiều yếu tốt liên quan song phải kể đến 3 nguyên nhân chính là:thị trường bão hoà, chất lượng hàng hoá chưa ổn định và chưa phát triển đồng bộhàng điện tử công nghiệp, máy vi tính - phần mền so với điện tử dân dụng. Từđây đến hết năm 2002 mỗi tháng ước xuất khẩu từ 45 - 50 triệu USD, tháng 11 và 12 có thể lên 60 triệu USD thì cũng chỉ có khả năng đạt300 triệu USD, cộng cả năm 2002 là 530 triệu USD, mới bằng 70% kế hoạch.

Xét về tổng quan hàng điện tử khôngthiếu thị trường tiêu thụ, ngoài khu vực Đông Nam Á, Châu Âu, ta đã và đangtiếp cận Châu Phi, Trung Đông và Mỹ, tồn tại chủ yêú là hàng điện tử xuất khẩucủa ta kém khả năng cạnh tranh (chủ yếu là giá, chất lượng và điều kiện giaohàng).

Đề nghị Bộ Công nghiệp và Tổng côngty Điện tử Việt Nam sớm bàn biện pháp để tháo gỡ khó khăn, tăng kim ngạch xuấtkhẩu hàng điện tử.

9- Hàng dệt may:

Kim ngạch xuất khẩu tháng 6/2002 dựkiến đạt 200 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2002 ước đạt khoảng990 triệu USD, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2001 và đạt 41,25% kế hoạch năm 2002(2,4 tỷ USD).

Tỷ lệ tăng trưởng 3% của 6 tháng đầunăm 2002 là tỷ lệ tăng trưởng thấp so với mức tỷ lệ tăng trưởng cùng kỳnăm 2000 (7,6%) và 2001 (19%) và thấp nhiều so với kế hoạch tăng trưởng năm2002 là 15,4%. Nguyên nhân do xuất khẩu vào một số thị trường chính giảm hoặcđang trong xu thế giảm như:

Thị trường Nhật là thị trườngxuất khẩu hàng lớn nhất, năm 2001 chiếm tỷ trọng 34%, 6 tháng đầu năm 2002 giảm25% tương đương 55 triệu USD do kinh tế Nhật vẫn tiếp tục giảm sút, dự báo năm2002 tăng trưởng (-1%) nên sức mua giảm sút và dấu hiệu phục hồi trong năm 2002chưa rõ rệt.

Thị trường EU năm 2001 chiếm tỷ trọng33%, 6 tháng đầu năm chỉ tăng 3,3% (tương đương 8 triệu USD) do: Các mặt hàngđược bãi bỏ hạn ngạch ở giai đoạn 3 giữa các nước là thành viên WTO (có cảTrung Quốc và Đài Loan) theo Hiệp định ATC được thực hiện từ 01/10/2002 đã cạnhtranh làm giảm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đối với các Cat, này. Bên cạnhđó số lượng hàng dệt may tăng hơn cùng kỳ năm trước khoảng 16%, nhưng kim ngạchxuất khẩu không tăng nhiều do giá giảm khoảng 10%.

Dự kiến xuất khẩu 6 tháng cuối năm2002:

Năm 2002 năng lực sản xuất hàng dệtmay tăng mạnh. Có những nhà máy mở rộng quy mô sản xuất lên 2 - 3 lần, nhiềunhà máy mới được thành lập nhưng thực tế không đáp ứng hết các đơn hàng của đốitác Mỹ. Hầu hết các nhà máy hiện đều chạy hết công suất, công nhân đào tạokhông kịp nên xảy ra tình trạng tranh giành công nhân giữa các nhà máy. Hiệntượng thiếu việc làm, đóng cửa nhà máy không xảy ra nhưng hiệu quả xuất khẩukhông cao do giá xuất khẩu đi Mỹ thấp, đơn hàng khó thực hiện.

Với sự nỗ lực của tất cả các cấp, cácngành cùng với việc Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực từ cuốinăm 2001 và hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ chưa phải có hạn ngạch, hàng dệt mayViệt Nam có cơ hội tăng trưởng với tốc độ nhanh. Cụ thể về thị trường và khảnăng sản xuất hàng dệt may xuất khẩu năm 2002 có thể phấn đấu đạt được kế hoạchđề ra là 2.400 triệu USD, tăng 19% so với năm 2001 (1,975 triệu USD). Và nhưvậy nhiệm vụ xuất khẩu 6 tháng cuối năm còn lại 1.410 triệu USD. Mỗi tháng cuốinăm phải xuất trung bình 230 triệu USD thì mới hoàn thành kế hoạch.

Để có được con số như vậy, theo BộThương mại trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số việc sau đây:

- Đàm phán với EU để tăng hạn ngạch,bãi bỏ một số mặt hàng mà các nước là thành viên WTO được áp dụng từ 01/01/2002.

- Tăng cường các biện pháp chống gianlận.

- Ban hành sớm cơ chế quản lý và sửdụng hạn ngạch hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường EU, Canada, Thổ Nhĩ Kỳ năm 2003 để các doanh nghiệp sớm ký kết và nhận nguyên phụ liệu sản xuấthàng xuất khẩu ngay trong quý IV/2002.

- Đề nghị Bộ Tài chính sớm banhành quyết định về thưởng xuất khẩu theo kim ngạch xuất khẩu đối với các sảnphẩm ngành hàng dệt may (trừ những mặt hàng xuất khẩu sang EU, Canada, Thổ NhĩKỳ có hạn ngạch) và da giầy theo ý kiến của Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đãkết luận tại thông báo số 132/TB-VPCP ngày 03/10/2001.

- Hỗ trợ vốn để xây dựng một số trungtâm chuyên doanh bán buôn, bán lẻ hàng dệt may, giầy dép (cả trong nước và thịtrường nước ngoài có tiềm năng) gồm cả nhà kho, cửa hàng tại các thị trườngnhập khẩu lớn như Mỹ, EU, Nhật...

- Khẩn trương thực hiện chủ trươnggiảm chi phí đầu vào (không tăng hoặc giảm giá điện, nước; giá sử dụng dịch vụviễn thông; chi phí vận chuyển, cầu cảng; hỗ trợ đầu tư hạ tầng sản xuất nhưnghiên cứu công nghệ...) nhằm hạ giá thành xuất khẩu, có như vậy hàng dệt maymới có thể cạnh tranh được với hàng của các nước khác vì giá xuất khẩu của tavẫn trong xu hướng tăng lên.

- Hỗ trợ tài chính cho các trường dạynghề may (quần áo, da giầy), đặc biệt đào tạo công nhân kỹ thuật, quản đốc phânxưởng đáp ứng gia tăng đột biến hiện nay (tăng các ưu đãi về đất đai, thuế mởrộng trường dạy nghề, cho vay vốn ưu đãi để mua trang thiết bị đào tạo...)

- Bản thân các doanh nghiệp cũng phải:

+ Tìm mọi biện pháp để hạ giá thành,nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá.

+ Từng bước áp dụng các tiêu chuẩnISO: 9001, 14000, SA 8000 để nâng cao uy tín, chất lượng, hàng hoá nhằm thu hútthêm nhiều khách hàng mới và giữ vững các khách hàng cũ. Chủ động tìm kiếm thịtrường, tìm kiếm khách hàng.

+ Thực hiện liên kết các doanh nghiệptrên địa bàn để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao khả năng thực hiện đơn hànglớn - điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với thị trường Mỹ vì đơn hàng lớn, thờigian giao hàng ngắn.

+ Cần hết sức coi trọng yếu tố vệsinh công nghiệp và môi trường để giữ vững thị trường truyền thống, đặc biệt là2 thị trường EU và Nhật.

+ Mở rộng quy mô đào tạo tại chỗ đểđáp ứng nhu cầu công nhân và nâng cao tay nghề cho công nhân, áp dụng công nghệtiên tiến.

- Vai trò của Hiệp hội Dệt may cầnđược nâng cao hơn nữa trong việc cung cấp thông tin, điều phối, tránh các hiệntượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp làm giảm giá xuất khẩu...

10- Giầy dép:

Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu nămước đạt 892 triệu USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2001, bằng 46,2% kế hoạchnăm.

Thị trường chính là các nước Tây Âuđạt mức tăng cao về số lượng nhưng về trị giá không tăng tương ứng; thị trườngchủ yếu thứ hai là Hoa Kỳ có tỷ lệ kim ngạch tăng trưởng cao 18 - 20% nhưng vẫnchưa tương xứng với năng lực sản xuất. Khả năng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ sẽtăng nhanh hơn vào những tháng tới đạt mức dự kiến 200 triệu USD năm 2002 (tăng75,43% so với năm 2001).

Xét thị trường và tình hình sản xuất,xuất khẩu ngành da giầy năm 2002 có khả năng đạt kế hoạch là 1.900 triệu USD.Từ nay tới cuối năm:

- Các doanh nghiệp cần thực hiệnnghiêm túc Hiệp định chống gian lậu thương mại đã ký giữa Chính phủ Việt Nam vàEU (các vấn đề về giá xuất khẩu, xuất xứ nguyên phụ liệu và thành phẩm...) vàtuân thủ các luật lệ thương mại quốc tế, không để xảy ra việc tiến hành điềutra gian lận thương mại như bán phá giá hay sai lệch về xuất xứ. (Hiện nay, BộThương mại cùng với Bộ Công nghiệp và một số ngành liên quan hiện đang phảigiải quyết vụ Điều tra Bán phá giá của Chính phủ Canada đối với 6 doanh nghiệpViệt Nam xuất khẩu giầy và đế giầy không thấm nước vào thị trường Canada.)

- Duy trì và nâng cao chất lượng, uytín sản phẩm giầy dép Việt Nam đối với thị trường xuất khẩu của mình.

- Đầu tư công nghệ, tăng trị giá sảnphẩm xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh của giầy dép Việt Nam, chuyển từ hình thức gia công sang bán FOB.

- Đẩy mạnh việc khai thác thị trườngmới đặc biệt thị trường Mỹ vì đây là một thị trường có sức mua rất lớn, khôi phụccác thị trường truyền thống như Liên bang Nga, Đông Âu./.

Trên đây là báo cáo của Bộ Thương mạivề các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu trong 6 tháng cuối năm 2002, xintrình Hội nghị xem xét và thảo luận./.

BỘTHƯƠNG MẠI

1 Nếu chỉ tính nhữngmặt hàng không phải dầu thô thì mức giảm thấp hơn (-2,7%).

1 Nếu chỉ tính nhữngmặt hàng không phải dầu thô thì mức giảm thấp hơn (-3,7%).