Trả lời:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật tố tụng dân sự năm 2015

Luật dân sự năm 2015

2. Luật sư trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới Luật Minh Khuê

1. Khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ, quyền hạn, ý nghĩa của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự

1.1. Khái niệm, đặc điểm

Khái niệm:

Theo quy định khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa, chi tiết hóa tại khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 thì: “VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” 

Theo quy đinh tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 thì VKS là cơ quan tiến hành tố tụng , thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm ?

Khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Kiểm sát nhân dân 2014: “1. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

VKSND tham gia TTDS với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án.

Đặc điểm:

Khi tham gia TTDS, VKSND có những đặc điểm riêng mang tính đặc thù, đó là:

-Thứ nhất, đây là hoạt động chỉ do cơ quan duy nhất là VKSND tiến hành theo quy định của pháp luật TTDS.

-Thứ hai, sự tham gia của VKSND trong các hoạt động TTDS phải tuân theo trình tự, thủ tục do luật định

-Thứ ba, VKSND thực hiện sự tham gia TTDS của mình thông qua hoạt động của Kiểm sát viên và Viện trưởng Viện kiểm sát.

1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn

Theo khoản 1 Điều 21 BLTTDS 2004: “1. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật.”

Yêu cầu, kháng nghị các bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Tham gia các phiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, người tham gia tố tụng và những người liên quanm cơ quan thi hành án, chấp hành viên, cá nhân tổ chức liên quan đến việc thi hành án, quyết định của Tòa án, kháng nghị các quyết định về thi hành án của cơ quan thi hành án.

>> Xem thêm:  Điều kiện tuyển dụng công chức vào Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 2020.

1.3. Ý nghĩa

Sự tham gia tố tụng của VKSND trong TTDS có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ tính tối cao của pháp luật. VKSND có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan tư pháp.

Sự tham gia của VKSND góp phần phát hiện và đẩy lùi những hạn chế, tiêu cực, thiếu sót trong quá trình giải quyết vụ dân sự của Tòa án, đồng thời góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

Sự tham gia của VKSND đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự các cấp nhanh chóng, khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời, bảo đảm ọi bản án, quyết định của Tòa án có căn cứ và đúng pháp luật, bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành pháp luật.

 

2. Sự tham gia tố tụng của Viện kiểm sát tại Tòa án cấp sơ thẩm

2.1. Các trường hợp VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm

Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS 2004: “2. Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà đối với những vụ án do Toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, các vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Toà án”, đối với những vụ án dân sự do Tòa thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại về việc thu thập chứng cứ đó của Tòa án thì VKS phải tham gia phiên tòa sơ thẩm. Đối với những vụ án, ngày sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cho VKS cùng cấp, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, VKS phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án (khoản 2 Điều 195 BLTTDS). Các trường hợp cụ thể về việc đương sự khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của tòa án được quy định tại điểm 1.2 phần 1 mục II của Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT- VKSNDTC-TANDTC.

Sau một thời gian thi hành cho thấy, quy định của BLTTDS 2004 về sự tham gia củaVKS trong TTDS đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho VKS thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND. Do đó, BLTTDS sửa đổi năm 2011 đã có những sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm tham gia phiên tòa sơ thẩm của VKS và VKS phải tham gia phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự trong bốn trường hợp sau đây: Những VADS do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ; Những VADS có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công; Những VADS có đối tượng là quyền sử dụng đất, nhà ở; Những VADS có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần (khoản 2 Điều 21)

TTLT số 04/2012/TTLT-VKSNDTC hướng dẫn thi hành BLTTDS về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS có quy định chi tiết các trường hợp trên.

Bên cạnh đó, sự tham gia vào phiên tòa sơ thẩm dân sự của VKS còn phụ thuộc vào từng thời điểm có khiếu nại của đương sự về việc thu thập chứng cứ của Tòa án.

Tại Luật TTDS 2015 vẫn ghi nhận các trường hợp tham gia của VKS như Luật TTDS sửa đổi 2011.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền của Tòa án trong hôn nhân và gia đình mới nhất

2.2. Hoạt động của VKS tại phiên tòa sơ thẩm

- Thủ tục bắt đầu phiên tòa: Đối với những VADS mà VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm thì KSV có nhiệm vụ, quyền hạn là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động của Tòa án được quy định từ Điều 213 đến Điều 216 BLTTDS hiện hành.

- Thủ tục hỏi tại phiên tòa: KSV sẽ được hỏi sau đương sự, đây là một quy đinh mới so với quy định của các Pháp lệnh trước đây về sự tham gia phiên tòa của VKS.

- Thủ tục tranh luận tại phiên tòa: Theo Điều 234 BLTTDS 2004 quy định ta rút ra được rằng: tại phiên tòa sơ thẩm đại diện VKSND phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án sau khi các bên đã tranh luận.

BLTTDS sửa đổi đã đi theo quan điểm Kiểm sát viên không phát biểu quan điểm về nội dung vụ việc mà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia TTDS.

So sánh với Luật TTDS 2015:

+ Khoản 1 Điều 232 Luật TTDS 2015:  Sự có mặt của Kiểm sát viên

“1. Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa.”

Sự tham gia của VKSND không bắt buộc tại phiên tòa sơ thẩm theo Luật 2015 quy định

+ Thứ tự hỏi tại phiên tòa: Kiểm sát viên được cuối cùng sau: Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, những người tham gia tố tụng khác và Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân.

+ Điều 262. Phát biểu của Kiểm sát viên :

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.”

 

>> Xem thêm:  Thủ tục chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi khi mất giấy tờ ?

3. Sự tham gia tố tụng của Viện kiểm sát tại Tòa án cấp phúc thẩm

3.1. Các trường hợp VKS tham gia phiên tòa phúc thẩm

Luật tổ chức VKSND 2014 được ban hành, nhằm tăng cường kiểm sát các hoạt động tư pháp về việc tham gia phiên tòa phúc thẩm của VKSND có sự thay đổi so với Luật tổ chức tòa án trước đó. Theo đó, VKSND không chỉ tham gia phiên tòa phúc thẩm khi VKS kháng nghị mà còn có nhiệm vụ tham gia 100% các phiên tòa phúc thẩm.

Tuy nhiên, với quan điểm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay, việc sửa chữa, khắc phục rất khó khăn, có thể ảnh hưởng đến lợi ích của đương sự, do vậy, cần thiết phải có sự tham gia tố tụng của KSV ở tất cả các vụ việc. Do đó, BLTTDS sửa đổi 2011 đã quy định VKSND tham gia 100% các phiên tòa phúc thẩm.

Luật TTDS 2015 sắp có hiệu lực cũng quy định: Theo khoản 3 Điều 21 luật này:

Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.” Tức là cũng tham gia 100% các phiên tòa phúc thẩm. Điều 296. Hoãn phiên tòa phúc thẩm : “1. Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa phúc thẩm vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm”.

 

3.2. Hoạt động của VKS tại phiên tòa phúc thẩm

- Tranh luận tại phiên tòa: Thủ tục tranh luận được thực hiện như phiên tòa sơ thẩm, chỉ được tranh luận về những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm và đã được hỏi tại phiên toà phúc thẩm. Theo Điều 271 Luật TTDS 2005 có quy định “…Trong trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị; trong trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị…”

- Về phát biểu ý kiến của KSV tại phiên tòa: Tại phiên tòa phúc thẩm KSV được quyền phát biểu quan điểm của KSV về việc giải quyết vụ việc.(tức nội dung của vụ việc). Theo Điều 273a Luật sửa TTDS sửa đổi bổ sung 2011: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, KSV phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết VADS ở gia đoạn phúc thẩm.” Quy định trên được hướng dẫn cụ thể tại Điều 10 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC . Ý kiền phát biểu của KSV phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của KSV tham gia phiên tòa, phiên họp và phải gửi cho Tòa án trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa.

- Sau phiên tòa: Theo quy định tại Điều 281 BLTTDS 2005 thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án, quyết định cho VKSND cùng cấp. Trong công tác nghiệp vụ kiểm sát thì KSV có trách nhiệm báo cáo công tác phiên tòa với Viện trưởng.

Sự đổi mới trong Luật TTDS 2015:

Thứ tự tranh luận trong luật TTDS 2015 tại Điều 305 thì VKS chỉ được tranh luận tại phần mình kháng nghị và vẫn sau khi đương sự đã nêu ý kiến, và phần kháng cáo và kháng nghị được tách riêng trong các khoản cùng một điều luật. Chính vì thế thấy được sự phân định rõ ràng trong vai trò tranh luận của VKS

 

4. Thực tiễn thực hiện:

>> Xem thêm:  Viết đơn kiện thì gửi đến cơ quan nào?

Những vướng mắc còn tồn tại khi VKS tham gia vào phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm:

- Những vi phạm của chánh án, Phó chánh án trong việc quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không có căn cứ dẫn tới việc kéo dài thời hạn giải quyết vụ án thì VKS không được phát biểu vì luật không có quy định

- Những hành vi của người tham gia tố tụng trước khi tòa án thụ lý vụ án là căn cứ để quyết định đến việc giải quyết vụ án KSV không được phát biểu

- Việc liệt kê việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX và liệt kê việc chấp hành và không chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dẫn tới bài phát biểu quá dài của VKS, khó hiểu cho các đương sự đối với vụ án nhiều đương sự, gây mất niềm tin với đương sự.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê 

>> Xem thêm:  Viện kiểm sát có vai trò như thế nào trong trong tố tụng dân sự, các vụ án dân sự ?