1. Tội đánh bạc bị tạm giam có được tại ngoại hay không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có tham gia cá độ đá bóng tổng mức cược 12. 500. 000đ, mức độ vi phạm lần đầu. Nay sau quá trình tạm giữ điều tra tôi được thã tự do. Vậy trong khi chờ đến khi tòa xét xử thì tôi có phải bị bắt tạm giam hay không. Nếu bị bắt tạm giam thì người nhà có thể xin cho tôi được tại ngoại hay không ?
Nếu xét xử tôi có được hưởng án treo hay không. Nhờ luật sư giải đáp cho tôi được rõ. Chân thành cảm ơn.

Trả lời:

1. Các trường hợp áp dụng biện pháp tạm giam:

Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn, để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng minh người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử.

Để đảm bảo cho hoạt động tố tụng thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp hoặc Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp ra quyết định bắt bị can để tạm giam.

Những đối tượng sau đây sẽ bị áp dụng biện pháp tạm giam:

1.1 Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

1. 2 Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:

Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

1. 3 Bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu như họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã...

Đối chiếu trường hợp của bạn, bạn bị Công an điều tra khởi tố về hành vi đánh bạc, với tình tiết phạm tội lần đầu và số tiền là 12 triệu 500 nghìn đồng thì hành vi của bạn phạm tội đánh bạc ở mức độ ít nghiêm trọng. Bạn có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam nếu như bạn thuộc một trong các trường hợp dưới đây:

Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

2. Bị tạm giam có thể xin tại ngoại không ?

Nếu bị bắt tạm giam có thể xin tại ngoại hay không? Biện pháp tạm giam có thể được thay thế bởi biện pháp ngăn chặn khác như: bảo lĩnh hoặc đặt tiền. Vì thế tạm giam vẫn có thể được tại ngoại nếu sử dụng biện pháp ngăn chặn khác được phép thay thế.

Biện pháp bảo lĩnh: Nếu trường hợp bị tạm giam bạn có thể nhờ người thân thích, đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh, có thu nhập ổn định (ít nhất 02 người) để bảo lĩnh cho bạn tại ngoại.

Người thực hiện bảo lĩnh phải có giấy cam đoan là không để bị can bi phạm nghĩa vụ và có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

Biện pháp đặt tiền: căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm của bị can, bị cáo và khả năng kinh tế của bị can, bị cáo hoặc người thân thích mà cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát sẽ đưa ra mức đặt tiền cụ thể. Người đặt tiền cũng phải viết cam đoan là không để bị can bị tạm giam vi phạm nghĩa vụ, nếu vi phạm thì tiền đặt sẽ bị tịch thu. Nếu bị can, bị cáo thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết thì sẽ được trả lại tiền đặt.

Lưu ý: Trong trường hợp được tại ngoại thì bạn phải chấp hành một số nghĩa vụ sau:

Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Nếu như vi phạm những nghĩa vụ trên thì sẽ bị áp dụng biện pháp tạm giam. Điều này, hạn chế việc được tại ngoại lại vi phạm pháp luật.

3. Xét xử tội đánh bạc thì có được hưởng án treo không ?

Án treo không phải là một hình phạt mà là một hình thức miễn phạt tù có điều kiện, vì thế không thể đối chiếu vào điều luật định tội để khẳng định có được hưởng án treo hay không? Để trả lời câu hỏi này, trước hết cần phải biết rõ quy định về điều kiện hưởng án treo, từ đó đối chiếu với trường hợp của bạn có thể hưởng án treo hay không.

Để hưởng án treo, bị cáo cần phải đáp ứng 4 điều kiện sau:

3.1 Bị phạt tù không quá 3 năm:

Như đã nói ở trên, trường hợp của bạn là phạm tội ít nghiêm trọng, theo quy định tại điều 321 Bộ luật Hình sự thì mức phạt đối với tội phạm ít nghiêm trọng tội đánh bạc là: "phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Với mức phạt như trên có thể thấy bạn đáp ứng được điều kiện thứ nhất là bị phạt tù không quá 3 năm.

3.2 Nhân thân tốt

Một người được coi là có nhân thân tốt là người trước khi thực hiện hành vi phạm tội này chưa từng bị xử lý vi phạm pháp luật cả về hành chính, hình sự; luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú, làm việc. Để chứng minh việc này, cần phải xin xác nhận của chính quyền địa phương nơi bạn cư trú, làm việc.

3.3 Có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các tình tiết giảm nhẹ được xem xét là tình tiết theo quy định của Bộ luật hình sự, được quy định tại điều 51 Bộ luật hình sự, trường hợp của bạn chúng tôi nhận thấy đang có một tình tiết giảm nhẹ là: phạm tội lần đầu và là tội ít nghiêm trọng (theo điểm i khoản 1 điều 51); bạn có thể căn cứ quy định của pháp luật để thu thập thêm tình tiết giảm nhẹ cho mình.

3.4 Có nơi cư trú ổn định, nơi làm việc ổn định:

Nơi cư trú ổn định theo quy định của Luật cư trú là nơi thường trú hoặc tạm trú; là nơi mà trước khi phạm tội bạn thường xuyên sinh sống, có đăng ký cư trú; hoặc nơi làm việc thường xuyên.

Khi bạn đáp ứng các điều kiện trên thì bạn có thể được Tòa án cho hưởng án treo.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900 6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Đá gà chọi, chơi xóc đĩa có bị coi là Tội đánh bạc không ? Đồng phạm tội đánh bạc

2. Xem đánh bạc có phạm tội hay không ?

Chào luật sư cháu có một vấn đề sau rất mong luật sư tư vấn giúp: Đối với trường hợp không tổ chức đánh bài và không chơi bài. Nhưng hội đánh bài đánh trên địa phận đất canh tác nhà mình (cụ thể là khu vực đầm nơi gia đình nuôi trồng thủy sản).
Trong lúc bố của bạn cháu đi ra khu vực đầm nhà mình trông coi có thấy hội đánh bài và dừng lại xem. Ngay sau lúc đó công an tỉnh đã ập vào bắt và đưa về tỉnh tạm giam. Luật sư cho cháu hỏi là đối với trường hợp như trên thì bố của bạn cháu bị xử phạt như thế nào và mức độ vi phạm có cao không ạ. Chỉ bị xử phạt hành chính hay bị quy về tội đánh bài, tổ chức đánh bài và phải chịu theo quy định của Pháp luật ( phạt hành chính và phạt tù theo quy định) ạ ?
Mong quý Luật sư phân tích và trả lời giúp cháu! Cháu cảm ơn!
Người gửi: N.T.Thiem

Trả lời:

Theo quy định tại điều 248, Bộ luật hình sự năm 1999; Bộ luật hình sự năm 2009 sửa đổi, bổ sungvề Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 249 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 249. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Theo đó bố của bạn bạn sẽ không phạm tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo như Điều 248 và Điều 249 .

Tuy nhiên theo như bạn nói bố của bạn bạn đã biết việc đánh bạc và dừng lại xem. Nếu trong quá trình điều tra công an có đầy đủ chứng cứ cho rằng bố của bạn bạn có hành vi che dấu việc đánh bạc trái phép thì có thể bị phạt hành chính theo như Điểm b Khoản 3 Điều 23 của Nghị định 73/2010/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội.

>> Xem thêm:  Kỷ Luật Đảng viên tham gia đánh bạc ? Quy định truy nã tội đánh bạc

3. Xin tư vấn mức phạt cho tội cá độ, đánh bạc trên internet ?

Kính gửi luật sư,xin tư vấn mức phạt cho tội cá độ, đánh bạc trên internet như sau:tôi tham gia cá cược trên trang web m88 từ ngày 02/05/2018. Tôi đang rất hoang mang và cần luật sư tư vấn giúp tôi để Có 6 lần chuyển tiền online để chơi (vào các ngày 2/5 - 2tr; 12/5 - 4tr; 16/5 - 5tr; trong ngày 17/5 có 3 lần chuyển, 2 lần mỗi lần 5tr và 1 lần cuối 20tr)có 2 lần rút tiền ra (vào ngày 7/5 - 4tr; ngày 20/5 40tr)nạp tiền để chơi bài bacarat, mỗi ván cược từ 200 ngàn đến 2 triệu.
Gần đây, tôi tình cờ đọc được thông tin trên internert là một số người từng tham gia chơi bạc ở trang web m88 này, đã bị xử lý hình sự vào 5/2015. Vì vậy tôi đã dừng chơi và rất lo lắng, liệu nếu công an phát hiện, truy cứu thì tôi sẽ nhận mức phạt nào. Hiện tại, trong tài khoản của tôi ở trang web m88 vẫn còn 30tr tiền thắng cược, nhưng tôi không biết có nên rút tiền ra hay không. Tôi có tìm hiểu điều 321 blhs sửa đổi 2017, nhưng không hiểu rõ lắm là việc rút tiền thắng cược ra thì có làm tăng nặng tội của tôi hay không. Tôi đã có 4 lần gửi tiền chơi từ mức 5tr trở lên và chơi trên internet. Tổng tiền 4 lần gửi tiền này là 35tr, giả sử tôi gửi thêm 1 lần 20tr nữa thì có bị cộng gộp lại là 55tr > 50tr (tình tiết tăng nặng) hay vẫn tính theo mỗi lần gửi để chơi cá cược và mỗi lần như vậy chưa vượt quá 50tr. Hai lần gửi 2tr, 4tr có được không tính không hay phải tính tổng cả 6 lần gửi. Tiền thắng cược rút ra có bị cộng dồn vô tổng số tiền gửi vào không. Nếu cá cược trên internet nếu số tiền gửi vào để chơi dù thấp hơn 5tr thì vẫn bị tính tăng nặng, phạt 3 -7 năm tù. Tôi 40 tuổi, có vợ và 2 con nhỏ, đang làm việc tại một công ty nhà nước. Tôi chưa từng có tiền án, tiền sự. Tôi khả năng bị phạt cao nhất / thấp nhất là gì. Tôi bây giờ nên làm gì để mức phạt là thấp nhất.
Trong lần truy tố 5/2015 tôi đọc thấy có tới 12. 000 tài khoản người chơi, nhưng chỉ 53 người bị phạt tội đánh bạc nhưng người này có tổng tiền chơi hàng trăm triệu. Tôi đã dừng chơi và rất hối hận vì đã không tìm hiểu trước khi chơi, tôi mong rằng số tiền của tôi vẫn còn ít so với nhiều người khác, thời gian tham gia ngắn và có thể được bỏ qua hoặc phạt tiền ?
Mong luật sư giải đáp những câu hỏi của tôi ở trên và cho tôi lời khuyên. Chân thành cám ơn. Khiêm.
- Le Khiem

Luật sư trả lời:

Trong trường hợp bạn thực hiện hành vi đáng bạc qua internet là hành vi vi phạm pháp luật căn cứ theo Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi đánh bạc của bạn tuy là đã thực hiện nhiều lần nhưng bạn vẫn chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà bạn mới chỉ thấy hối hận và lo lắng về hình phạt đối với hành vi vi phạm của mình vậy nên luật sư nhận thấy bạn đã có sự tìm hiểu và hiểu biết pháp luật ở mức độ nhất định. Pháp luật Việt Nam rất hoan nghênh sự tự giác trong việc tuân thủ pháp luật.

Theo quy định pháp luật thì bạn có thể vi phạm theo điểm c Khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội nên bạn có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

"Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng."

Theo quy định tại Công văn số 196/2018/TANDTC quy định hành vi Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 được hiểu là việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để đánh bạc trực tuyến (như hình thành nên các chiếu bạc online hoặc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử đtổ chức đánh bạc, gá bạc).

Bạn cần lưu ý rằng việc bạn vi phạm quy định pháp luật về tội đánh bạc không phụ thuộc vào việc bạn đánh thắng hay thua nên việc bạn thắng thì bạn cũng không bị căn cứ vào số tiền thắng đấy làm cở sở để xử lý theo quy định pháp luật. Vậy nên số tiền mà bạn thắng sử dụng như thế nào hoàn toàn do bạn quyết định. Hơn nữa số tiền bạn sử dụng vào việc đánh bạc này theo quy định pháp luật là không tổng hợp mà tính theo từng lần bạn thực hiện đánh bạc, Cơ quan tố tụng sẽ căn cứ vào lần mà bạn sử dụng số tài sản lớn nhất để xử phạt đồng thời căn cứ theo số lần bạn vi phạm mà có cơ sở đề khép hành vi của bạn ở tính chất chuyên nghiệp hay không.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Viên chức bị khởi tố về hành vi đánh bạc có bị buộc thôi việc ? Mức phạt tiền tội đánh bạc

4. Tình tiết tái phạm trong vụ án hình sự (Tội đánh bạc) ?

Chào luật sư, tôi có một số vướng mắc như sau mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi vừa vừa bị bắt với hành vi đánh bạc trái phép. Tội vừa chấp hành xong hình phạt tù 18 tháng tính đến nay là ra tù 22 tháng. Trong lần đi đám cưới tôi có tham gia đánh bạc và số tang vật bị tịch thu tại hiện trường là 20 triệu đồng, hiên cơ quan công an đang tiến hành điều tra.
Vậy tôi có bị kết án vào tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng là tái phạm không. Kính mong quý luật sư tư vấn giúp tôi quy trình và thủ tục đăng kí logo (nhãn hiệu) ?
Cảm ơn luật sư đã tư vấn.

Tình tiết tái phạm trong vụ án hình sự (Tội đánh bạc)

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trường hợp của bạn vi phạm vào tội đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 cụ thể như sau:

Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Về chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội đánh bạc bạn trên 10 tuổi đủ độ tuổi mà pháp luật hình sự quy định và năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại các Điều 12, Điều 13 Bộ luật hình sự.

Về khách thể của tội phạm

Hành vi của bạn đã xâm phạm đến cơ chế hoạt động an ninh trật tự bình thường của xã hội nơi bạn bạn đang sống.

Về mặt khách quan của tội phạm

Xét về hành vi khách quan: bạn đã tham gia đánh bạc trái phép và bị cơ quan tuần tra phát hiện và bắt giữ.

Xét về hậu quả: bạn đã bị công an phát hiện và tịch thu 20 triệu tang vật tại hiện trường vụ án.

Về mặt chủ quan của tội phạm:

Căn cứ vào Điều 9 quy định về yếu tố lỗi trong hành vi phạm tội như sau:

Điều 9. Cố ý phạm tội

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra;

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Theo khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sưng 2017 thì bạn đã thực hiện hành vi đánh bạc với lỗi cố ý trực tiếp khi nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và thấy trước hậu quả xảy ra nhưng vẫn tham gia đánh bạc.

Từ những thông tin bạn cung cấp thì trường hợp của bạn đủ yếu tố để cấu thành Tội đánh bạc theo quy định Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Hành vi tái phạm:

Căn cứ quy định của pháp luật Điều 53 và Điều 71 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017

Điều 53. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm

1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án

1. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Người bị kết án được Tòa án quyết định việc xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

3. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích.

Trường hợp của bạn, theo thông tin bạn cung cấp bạn đã phạm vào tội đánh bạc Điều 248 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 và đã thực hiện xong hình phạt từ 18 tháng tính đến nay là được 22 tháng và tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc phạm vào Tội đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 “Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý”. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 71 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì án tích trong trường hợp của bạn được xóa khi chấp hành xong hình phạt chính trong thời gian 03 năm không thực hiện hành vi phạm tội mới. Bạn mới chấp hành xong hình phạt tù được 22 tháng như vậy là chưa đủ thời gian mà luật định, do đó đây được xem là tình tiết tăng nặng trong vụ án hình sự và bị kết án theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền xử phạt của trưởng công an xã đối với hành vi đánh bạc trái phép ?

5. Đánh bạc trực tuyến có vi phạm pháp luật không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi đánh bạc online với tổng số tiền la 100 trieu. Nhưng mỗi lần chơi tối đa của tôi là 1.500.000 vây tôi có bi truy tố hình sự không? Có hôm tôi cược 1trieu va thắng đươc 7 triệu ? Cảm ơn!

Trả lời:

>> Vì bạn tham gia đánh bạc với số tiền sưới 2.000.000 đồng nên bạn chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.

Thưa luật sư, xin hỏi: Anh tôi có chơi sóc đĩa, khi bị bắt trên chiếu có năm triệu đồng và 11 người bị bắt giữ, sau đó 2 người đứng xem được thả và phạt hành chính. Anh tôi vi phạm lần đầu nhân thân tốt, tôi muốn hởi luật sư trường hợp này anh tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

=> Anh bạn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Thưa luật sư, xin hỏi: Anh cháu vừa bị bắt vì tội đánh bac. theo camera ghi lại thì anh cháu có ngồi trên ghế đánh bạc, nhưng khi bắt anh cháu chỉ có 204.000 trong người. Nhưng anh cháu khai là không đánh mà chỉ ngồi xem. Như vậy có bị tội hình sự không, mức phạt thế nào?

=> Nếu anh bạn chứng minh được rằng anh bạn chỉ xem mọi người đánh bạc chứ không tham gia thì anh bạn chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có người thân là giáo viên, đảng viên bị bắt về tội đánh bạc cùng 9 người khác, số tiển thu được trên chiếu là hơn 24.000.000 đ. Nhưng người nhà tôi chỉ có 250.000đ và cũng mới chỉ đánh 1 ván (chưa rõ kết quả của ván bạc đó thì bị bắt ). Người thân của tôi có bố đi bộ đội mẹ làm ngành y đề được nhiều huân huy chương, bản thân có bằng khen trong quá trình công tác, phạm tội lần đầu và thành khẩn khai báo. Như vậy người thân của tôi có thể được hưởng hình thức phạt tiền hay không ? hay sẽ bị xử phạt ở mức nào ? Về Đảng và về nghề nghiệp sẽ như thế nào?

>> Người đó có thể được giảm nhẹ án những vẫn ở trong mưc xử phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Vì người đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên có thể sẽ bị khai trừ khỏi Đảng.

Thưa luật sư, xin hỏi: Bố em có tham gia đánh bạc mà trong người chỉ có 300.000 nhưng do tổng số tiền trên bàn là trên 5 triệu nên bị phạt tù tạm giam. Sau 9 ngày thì gia đình cũng thật sự chạy cho bố ra với số tiền 20 triệu mỗi người ( 4 người tất cả). Sau đó thì được viện kiểm soát gọi để xét xử nhưng lại bị hù và đòi phải nộp thêm 30 triệu để được giảm nhẹ chỉ để phạt hành chính. Cho em hỏi theo luật thì sẽ bị phạt như thế nào ạ?

>> Thông tư liên tịch 17/2013/TTLT-BTP-BCA- BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC quy định:

" Điều 5. Mức tiền được đặt để bảo đảm

1. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị can, bị cáo và khả năng tài chính của bị can, bị cáo hoặc của người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần (sau đây viết tắt là người đại diện hợp pháp), Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án quyết định mức tiền cụ thể mà bị can, bị cáo phải đặt để bảo đảm, nhưng không dưới:

a) Hai mươi triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Tám mươi triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) Hai trăm triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng;"

Theo quy định tại Bộ luật hình sự bố bạn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và 03 người khác tham gia đánh bạc và khi bị công an bắt thì số tiền thu được tại chiếu bạc là 1.010.000 đồng. Chúng tôi bị kiểm tra ví tiền và trong cốp xe. Người thứ 1 có 26.000.000 đồng, người thứ 2 trong ví tiền có 16.000.000 đồng, người thứ 3 có 6.000.000 và người thứ 4 có 1.900.000 đồng. Chúng tôi khai với cơ quan công an rằng số tiền này không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Trong 04 người chúng tôi có 01 người đã từng bị bắt về tội đánh bạc và đã bị xử phạt hành chính cách đây 07 tháng còn 03 người còn lại chỉ mới vi phạm lần đầu. Vậy 04 người chúng tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không ?

>> 3 người chưa vi phạm thì bị xử phạt vi phạm hành chính. Còn người đã từng có tiền án thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chơi game bài online với số tiền nạp thẻ lớn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc ?