1. Tội đánh bạc sẽ bị xử phạt như thế nào?

Tôi có vào xem một lúc rồi có thả vài ván, mỗi vãn 100-200 ngàn đồng, thì bị phòng CP 45 thành phố ập vào bắt. Khi bị thu trên chiếu bạc thì có 24 triệu đồng, và tôi bị thu 4. 500 nghìn đồng, và 1 điện thoại iphone 5. Đây là lần đầu tôi bị bắt , tôi chưa có tiền án tiền sự.

Vậy luật sư cho tôi hỏi , tội của tôi có bị ngồi tù không ạ. Có thể xin hưởng án treo không?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về tội đánh bạc, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật Hình sự năm 2015

>> Xem thêm:  Cá độ game có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

- Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017

2. Luật sư tư vấn:

Theo như quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi năm 2017 có hiệu lực từ 01/01/2018 thì Điều 321 xác định mức hình phạt đối với tội đánh bạc như sau:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì khi bị cơ quan công an phát hiện và tịch thu thì trên chiếu bạc có 24 triệu đồng, căn cứ theo khoản 1 nêu trên, bạn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Như vậy, hành vi của bạn chưa chắc đã bị phạt tù mà có thể chỉ bị xử phạt hành chính, phạt cải tạo không giam giữ.

Trong trường hợp bạn bị phạt tù, do mức phạt cao nhất trong khung hình phạt tù này là đến 03 năm nên nếu bạn chứng minh được mình có nhân thân tốt ( phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, có nơi cư trú rõ ràng,... ) thì bạn có thể làm đơn để xin được hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo sẽ được ấn đinh từ 01-05 năm và sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trong thời gian này theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bạn phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

Các dịp lễ, tết, ngày hội là những dịp mà rất nhiều người tổ chức/ tham gia đánh bạc, có khi là để mua vui, có khi là để thử vận may, tuy nhiên đánh bạc là một tệ nạn xã hội, do đó Nhà nước quản lí và xử phạt rất nghiêm đối với các hành vi này. Trong dịp Tết Mậu Tuất năm 2018, mọi người cần đặc biệt lưu ý để tránh không tham gia vào việc đánh bạc dưới mọi hình thức mà nên chọn một thú vui khai xuân khác lành mạnh hơn.

Về điều kiện hưởng án treo pháp luật có quy định cụ thể như sau:

Án treo là một biện pháp chấp hành hình phạt tù. Theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

>> Xem thêm:  Chơi tú lơ khơ ăn tiền tại đám cưới thì bị xử phạt thế nào ?

"1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự."

Tuy nhiên, điều luật không quy định các điều kiện cụ thể để áp dụng biện pháp án treo đối với người phạm tội. Chính vì vậy, Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo quy định điều kiện để cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Bị xử phạt tù không quá 03 năm.

- Có nhân thân tốt. Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc. Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

- Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo. Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

>> Tham khảo thêm nội dung liên quan: Điều kiện được hưởng án treo theo quy định mới nhất của luật hình sự?

2. Phạm tội đánh bạc lần đầu có bị phạt tù không?

Câu hỏi: cách đây không lâu tôi và 5 người bạn cùng chơi có rủ nhau đánh bài trong một đám cưới; sau đó bị công an địa phương bắt quả tang. Số tiền đánh bạc là gần 8 triệu. Chúng tôi đã bị khởi tố về tội đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là lần đầu tiên tôi vi phạm bị bắt, vậy cho tôi hỏi với trường hợp của tôi có bị áp dụng biện pháp phạt tù không? nếu có tôi có thể xin án treo được không?

Luật sư tư vấn:

Theo thông tin được cung cấp thì bạn bị khởi tố về tội phạm đánh bạc, tội phạm này được quy định trong Bộ luật hình sự như sau:

"Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.

Có thể thấy, quyết định khởi tố về tội đánh bạc là hoàn toàn đúng pháp luật vì giá trị hiện vật tối thiểu là 5.000.000 đồng nếu vi phạm lần đầu sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc, trường hợp của bạn thì hiện vật, tiền đã có giá trị vượt mức tối thiểu 5.000.000 đồng.

Cũng theo quy định điều 321 kể trên, khi cá nhân phạm tội này thì sẽ bị áp dụng một trong các biện pháp xử phạt hình sự như sau:

1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng,

2. Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc

3. Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Luật không hướng dẫn trường hợp nào thì sẽ áp dụng hình phạt tù, trường hợp nào thì áp dụng cải tạo không giam giữ, phạt tiền; mà tùy thuộc vào các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, hoàn cảnh phạm tội... mà Tòa án sẽ ấn định hình phạt với bị cáo. Vì thế đối với trường hợp của bạn việc bị phạt tù là có thể xảy ra.

Gỉa sử bạn bị áp dụng hình phạt tù, để có thể được hưởng án treo bạn cần phải thỏa mãn 3 điều kiện hưởng án treo mà điều 65 Bộ luật hình sự như sau:

1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm,

2. Căn cứ vào nhân thân của người phạm tội

3. Các tình tiết giảm nhẹ

Như vậy đối với trường hợp của bạn, bạn vẫn có thể bị áp dụng phạt tù; tuy nhiên nhận thấy đây là lần đầu tiên phạm tội và là tội ít nghiêm trọng, và với một số tình tiết khác như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải... thì bạn có thể xin Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

Trân trọng.

>> Xem thêm:  Cá cược bóng đá World Cup 2018 cần lưu ý những điều sau để tránh rủi ro pháp lý ?

3. Tội chống người thi hành công vụ

theo quy định bị phạt thế nào ?

Thưa Luật sư, vào ngày 31/12/2017 tôi có xem một đoạn clip trên mạng ghi lại hình một thanh niên xăm trổ, không đội mũ bảo hiểm và đèo bạn gái khi tham gia giao thông tại Nha Trang, Khánh Hòa. Khi phát hiện thanh niên này đã vi phạm hành chính thì lực lượng cảnh sát giao thông đã ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra thì anh này không hề hợp tác, thậm trí dùng dao để chống lại lực lượng.
Vậy luật sư cho tôi hỏi, anh thanh niên xăm trổ kia sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự thế nào? Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo Điều 330 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

Điều 330. Tội chống người thi hành công vụ

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì người thanh niên đó có dùng dao để cản trở lực lượng cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ vì vậy căn cứ theo quy định trên thì người đó sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi nguy hiểm với xã hội của mình. Căn cứ theo khoản 1 điều 330 Bộ luật hình sự 2015 thì khung hình phạt sẽ là phạt cảu tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

>> Xem thêm: Thẩm quyền kiểm tra hành chính của Cảnh sát giao thông, Cảnh sát cơ động ?

4. Đánh người có phải là

hành vi chống người thi hành công vụ không?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi là một A trưởng tự vệ vào một lần làm nhiệm vụ, Được sự điều động của công an viên đến nhà nhà anh A để giải quyết vấn đề, lúc tôi tới thì đã thấy đối tượng B nằm giữa sân với những vết máu trên người. Tôi cố khuyên giải nhưng đối tượng B lăng nhục và còn đánh tôi nhưng tôi đã tránh được hết và vứt các hung khí ra ngoài, cho tới khi công an xã tới mới đưa được đối tượng B về thì lúc này một đối tượng C nhảy vào đánh tôi vào mặt nhiều lần làm tôi phải nhập viện.
Xin hỏi luật sư như thế này có được coi là chống người thi hành công vụ được không ? Cảm ơn!

Trả lời

Theo Điều 330 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về Tội chống người thi hành công vụ được quy định như sau:

Điều 330. Tội chống người thi hành công vụ

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

Các dấu hiệu cơ bản cấu thành tội phạm này là:

- Khách thể: là xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công.

+ Đối tượng tác động của tội phạm này là người đang thi hành công vụ. Người thi hành công vụ là người được Nhà nước hoặc xã hội giao cho những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định trong quản lý lĩnh vực hành chính Nhà nước nhất định (cán bộ thuế vụ, cảnh sát giao thông, bộ đội biên phòng... ).

+ Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Nếu người thi hành công vụ lại là người làm trái pháp luật mà bị xâm phạm thì hành vi của người có hành vi xâm phạm không phải là hành vi chống người thi hành công vụ.

- Khách quan: có hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật. Vũ lực dùng trong trường hợp này không thuộc trường hợp nói tại Điều 93, 104 Bộ luật hình sự. Cụ thể người phạm tội có thể có những hành vi sau:

+ Dùng vũ lực chống người thi hành công vụ là dùng sức mạnh vật chất tấn công trực tiếp người đang thi hành công vụ (đấm, đâm, chém...)

+ Đe doạ dùng vũ lực là dùng lời nói, cử chỉ có tính răn đe, uy hiếp khiến người thi hành công vụ sợ hãi, phải chấm dứt việc thực thi công vụ... Sự đe doạ là thực tế có cơ sở để người bị đe doạ tin rằng lời đe doạ sẽ biến thành hiện thực.

+ Cưỡng ép người thi hành công vụ làm trái pháp luật là khống chế, ép buộc người thi hành công vụ phải làm những điều trái với chức năng, quyền hạn của họ hoặc không làm những việc thuộc chức năng quyền hạn của họ.

+ Các thủ đoạn khác chống người thi hành công vụ là hành vi bôi nhọ, vu khống, đe doạ sẽ cung cấp những tin tức bất lợi cho người thi hành công vụ…

- Tất cả các hành vi nói trên người phạm tội thực hiện đối với người thi hành công vụ là để ngăn cản người thi hành công vụ thực hiện công vụ của mình hoặc buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật.

- Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội có một trong những hành vi nêu trên để ngăn cản người thi hành công vụ thực hiện công vụ của mình hoặc buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật. Việc người thi hành công vụ có nghe theo yêu cầu của người phạm tội hay không không có ý nghĩa định tội.

Hành vi chống người thi hành công vụ nếu gây thương tích hoặc làm chết cán bộ thi hành công vụ thì người phạm tội còn có thể bị truy cứu TNHS về các tội phạm tại Chương XII Bộ luật hình sự (tội cố ý gây thương tích, tội giết người…).

- Chủ quan: là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết mình đang cản trở người thi hành công vụ hoặc cưỡng ép người thi hành công vụ làm trái pháp luật.

Nếu một người khi thực hiện hành vi mà không biết là đang cản trở người thi hành công vụ hoặc cưỡng ép người thi hành công vụ làm trái pháp luật, có cơ sở chính đáng thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng nếu có gây thương tích hoặc chết người.

- Chủ thể: bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật định.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Cá độ bóng đá sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp Luật hiện hành ?