1. Cách xác định tội phạm hoàn thành

Việc xác định tội phạm là hoàn thành hay chưa hoàn thành không phụ thuộc vào việc người phạm tội đã đạt được mục đích hay chưa. Khi tội phạm hoàn thành thì cũng có thể người phạm tội đã đạt được mục đích của mình nhưng cũng có thể chưa đạt được mục đích đó. Nói tội phạm hoàn thành là hoàn thành về mặt pháp lí (hành vi đã thỏa mãn hết các dấu hiệu pháp lí của cấu thành tội phạm) và như vậy có nghĩa hành vi đã có đầy đủ những đặc điểm phản ánh bản chất nguy hiểm của tội phạm. Tuỳ thuộc vào cấu thành tội phạm mà thời điểm tội phạm hoàn thành ở các tội khác nhau có thể khác nhau. Tội có cấu thành tội phạm vật chất hoàn thành khi hậu quả của tội phạm đã xảy ra, trái lại tội có cấu thành tội phạm hình thức hoàn thành ngay khi hành vi phạm tội đã được thực hiện mà không phụ thuộc hậu quả của tội phạm đã xảy ra hay chưa.

2. Cho ví dụ về tội phạm hoàn thành

Ví dụ: Tội giết người là tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất vì có dấu hiệu hậu quả chết người là dấu hiệu của cấu thành tội phạm và do vậy tội giết người chỉ được coi là hoàn thành khi hậu quả chết người đã xảy ra; tội cướp tài sản là tội có cấu thành tội phạm hình thức vì chỉ có dấu hiệu hành vi (dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc) là dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm và do vậy tội cướp tài sản được coi là hoàn thành ngay từ thời điểm người phạm tội có hành vi dùng vũ lực hoặc hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc...

Tội phạm hoàn thành cần được phân biệt với tội phạm chưa hoàn thành là trường hợp phạm tội mà hành vi phạm tội chưa thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm. Tội phạm hoàn thành cũng cần được phân biệt với tội phạm kết thúc là thời điểm hành vi phạm tội chấm dứt. Khi tội phạm hoàn thành, hành vi phạm tội có thể vẫn chưa chấm dứt và ngược lại, khi hành vi phạm tội đã chấm dứt, tội phạm có thể vẫn chưa hoàn thành...

3. Cách hiểu đúng tội phạm hoàn thành

Như đã được trình bày tại chương IV, các tội phạm được quy định trong bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đều được đặt tội danh và được mô tả bằng các dấu hiệu đặc trưng. Đó là các dẩu hiệu pháp lí của tội phạm và những dấu hiệu này tạo thành cấu thành tội phạm của mỗi tội danh. Khi hành vi cụ thể xảy ra thoả mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm thì người thực hiện hành vi đó được xác định đã phạm tội mà cấu thành tội phạm này phản ánh như phạm tội cướp tài sản (Điều 168 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) hay phạm tội vô ý làm chết người (Điều 128 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) V.V.. và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã thực hiện. Tuy nhiên, không phải chỉ khi hành vi thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm thì người thực hiện hành vi đó mới được xác định là phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã phạm đó. Đối với các tội có lỗi cố ý trực tiếp, có thể có trường hợp hành vi tuy chưa thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhưng chủ thể thực hiện hành vi này vẫn bị xác định là phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự. Để phân biệt giữa trường hợp hành vi phạm tội thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với trường hợp chưa thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm như vậy, luật hình sự có các khái niệm: Tội phạm hoàn thành, phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội. Trong đó, chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được gọi chung là tội phạm chưa hoàn thành.

Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thoả mãn tất cả dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm.

Trong định nghĩa trên, cần hiểu đặc điểm hoàn thành là “hoàn thành” về mặt pháp lí vì hành vi đã thoả mãn tất cả các dấu hiệu pháp lí của tội phạm; “hoàn thành” ở đây không gắn với mục đích phạm tội của người phạm tội. Với quan niệm về tội phạm hoàn thành như vậy, luật hình sự Việt Nam khẳng định: Thời điểm tội phạm hoàn thành không phụ thuộc vào việc người phạm tội đã đạt được mục đích của mình hay chưa. Khái niệm tội phạm hoàn thành không dùng để chỉ thời điểm người phạm tội đạt được mục đích của mình, khi tội phạm hoàn thành thì cũng có thể người phạm tội đã đạt được mục đích của mình nhưng cũng có thể chưa đạt được mục đích đó. Nói tội phạm hoàn thành là hoàn thành về mặt pháp lí - tức tội phạm đã thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Tội phạm khi đã hoàn thành về mặt pháp lí, có thể cũng dừng lại không xảy ra nữa trong thực tế nhưng cũng có thể vẫn còn tiếp tục xảy ra. Ngược lại, tội phạm tuy đã dừng lại nhưng có thể chưa hoàn thành vì chưa thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm.

Trong thực tiễn áp dụng, khi xác định trường hợp phạm tội cố ý, cụ thể là đã hoàn thành hay chưa, chỉ cần kiểm tra hành vi phạm tội đã thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm hay chưa. Sẽ là trường hợp tội phạm hoàn thành nếu hành vi phạm tội đã thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và ngược lại sẽ là trường hợp tội phạm chưa hoàn thành nếu hành vi phạm tội chưa thoả mãn hết các dấu hiệu (thuộc mặt khách quan của tội phạm) của cấu thành tội phạm. Trong trường hợp tội phạm hoàn thành và trong trường hợp tội phạm chưa hoàn thành, lỗi cũng như các dấu hiệu khác thuộc mặt chủ quan của tội phạm là như nhau cho nên việc xác định tội phạm hoàn thành chỉ liên quan đến các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm.

Như vậy, việc quy định thời điểm hoàn thành của từng tội phạm được thực hiện qua việc xây dựng các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Thời điểm hoàn thành sớm hay muộn là tuỳ thuộc vào việc xây dựng các dấu hiệu của cấu thành tội phạm, nhưng việc đưa những dấu hiệu nào vào cấu thành tội phạm không phải là tùy ý thích chủ quan của các nhà làm luật mà phụ thuộc vào những yếu tố khách quan như được trình bày trong Chương IV. Những dấu hiệu đó phải phản ánh được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đủ cho phép phân biệt với tội phạm khác cũng như với trường hợp chưa phải là tội phạm và đảm bảo thời điểm hoàn thành của tội phạm phù hợp với yêu cầu chống tội phạm cũng như với đặc điểm của tội phạm.

>> Xem thêm:  Hoạt động nhận thức, vai trò của nhận thức và thiết kế trong giai đoạn điều tra ?

Căn cứ vào định nghĩa chung về tội phạm hoàn thành và dựa vào đặc điểm cấu trúc của các loại cấu thành tội phạm, có thể rút ra được kết luận về thời điểm hoàn thành của các tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất, có cấu thành tội phạm hình thức và có cấu thành tội phạm cắt xén như sau:

- Tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất được xác định là (tội phạm) hoàn thành khi hậu quả của tội phạm đã xảy ra vì trong cấu thành tội phạm vật chất có dấu hiệu hậu quả thiệt hại.

Ví dụ: Tội giết người là tội có cấu thành tội phạm vật chất nên tội này hoàn thành khi hậu quả chết người xảy ra.

- Tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức được xác định là (tội phạm) hoàn thành khi hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm đã được thực hiện vì trong cấu thành tội phạm hình thức không có dấu hiệu hậu quả thiệt hại mà chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan, ở những tội phạm này, dấu hiệu hành vi khách quan có thể chỉ là một hành vi như ở tội cướp tài sản (dùng vũ lực hoặc...) nhưng cũng có thể bao gồm nhiều hành vi khác nhau như tội hiếp dâm (dùng vũ lực hoặc... và giao cấu...). Trong trường hợp dấu hiệu hành vi khách quan bao gồm nhiều hành vi khác nhau như vậy, tội phạm được xác định là tội phạm hoàn thành khi những hành vi này đều đã được thực hiện.

- Tội phạm có cấu thành tội phạm cắt xén được xác định là (tội phạm) hoàn thành khi hành vi bất kì (hoạt động) hướng tới thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại được mô tả trong cấu thành tội phạm . Như vậy, đối với tội phạm có cấu thành tội phạm cắt xén chỉ có tội phạm hoàn thành vì khi chủ thể thực hiện hành vi bất kỳ hướng tới hành vi được xác định thì hành vi của họ đã thoả mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cắt xén.

4. Phân biệt tội phạm hoàn thành với thời điểm tội phạm kết thúc

Thời điểm mà tội phạm được coi là tội phạm hoàn thành được nêu trên đây khác với thời điểm tội phạm kết thúc. Tội phạm kết thúc là thời điểm hành vi phạm tội đã thực sự chấm dứt. Ở đây cần phân biệt giữa trường hợp thực sự chấm dứt với trường hợp tạm dừng lại là trường hợp hành vi phạm tội chỉ tạm gián đoạn để tiếp tục xảy ra như ở trường hợp phạm tội liên tục. Thời điểm tội phạm hoàn thành là thời điểm dùng để đánh giá về mặt pháp lí còn thời điểm tội phạm kết thúc là thời điểm dùng để đánh giá về mặt thực tế. Hai thời điểm này khác nhau về tính chất nên về hình thức có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau.

Hành vi phạm tội có thể dừng lại (kết thúc) khi tội phạm chưa hoàn thành và ngược lại tội phạm tuy đã được coi là tội phạm hoàn thành nhưng vẫn còn có thể tiếp tục xảy ra (chưa kết thúc). Việc phân biệt hai thời điểm này có ý nghĩa khi áp dụng chế định đồng phạm (Điều 17 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017), chế định phòng vệ chính đáng (Điều 22 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khi áp dụng những quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 27 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017). Việc áp dụng những chế định và những quy định này đều dựa vào thời điểm tội phạm kết thúc mà không phụ thuộc vào thời điểm tội phạm được coi là tội phạm hoàn thành.

Trong khi áp dụng quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, việc xác định thời điểm tội phạm kết thúc sẽ có ý nghĩa đối với những trường hợp giữa ngày thực hiện tội phạm và ngày tội phạm kết thúc có khoảng cách như ở những tội kéo dài hoặc ở những trường hợp tội liên tục. Đối với những trường hợp này, việc tính thời hạn phải kể từ ngày tội phạm kết thúc.

Tội phạm hoàn thành như đã trình bày được dùng để phân biệt với tội phạm chưa hoàn thành ở các tội cố ý trực tiếp. Ở loại tội phạm này, cả hai trường hợp - tội phạm hoàn thành và tội phạm chưa hoàn thành đều bị coi là trường hợp phạm tội.

>> Xem thêm:  Hối lộ là gì? Khái niệm hối lộ được hiểu như thế nào ?

Đối với các tội cố ý gián tiếp và tội vô ý, khái niệm tội phạm hoàn thành cũng có thể được sử dụng. Tuy nhiên, việc sử dụng này không có ý nghĩa nên không cần thiết vì ở các tội cố ý gián tiếp và tội vô ý chỉ có tội phạm hoàn thành. Một hành vi xảy ra trong thực tế đã được xác định là tội cố ý gián tiếp hoặc tội vô ý thì luôn luôn có nghĩa là tội phạm hoàn thành.

Với cách hiểu tội phạm hoàn thành như trình bày, mỗi quy định về tội phạm cụ thể trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 hoặc trong luật hình sự đều là mô tả trường hợp tội phạm hoàn thành của một tội cụ thể. Do vậy, trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 hoặc trong luật hình sự không có điều luật riêng quy định về tội phạm hoàn thành.

5. Tội phạm hoàn thành ở Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Theo đó, cấu thành tội phạm được mô tả như sau:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

.....

Như vậy, tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoàn thành khi thương tích hoặc tổn hại cơ thể đã xuất hiện trong những trường hợp mà luật định với lỗi cố ý. Hay nói cách khác, nếu không có thương tích hoặc không có tổn hại cho sức khỏe thì chưa cấu thành tội này, ngay cả khi có thêm yếu tố dùng hung khí, với người dưới 16 tuổi hay tính chất côn đồ...

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Các loại thực nghiệm điều tra ? Mục đích của thực nghiệm điều tra ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Hiểu như thế nào là tội phạm?

Trả lời:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật hình sự phải bị xử lý hình sự.

Câu hỏi: Có phải hành vi nguy hiểm cho xã hôi nào cũng là tội phạm không?

Trả lời:

Không phải hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nào cũng được coi là tội phạm. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Câu hỏi: Thế nào được hiểu là phạm tội chưa đạt?

Trả lời:

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.