Trả lời:

Chào bạn! Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới mục tư vấn của công ty chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 

Bộ luật dân sự năm 2015

Nội dung tư vấn:

Xin chào luật sư! Tôi mới bị triệu tập vì hành vi mua số lô, đề tư nhân qua tin nhắn điện thoại (lần đầu). Tổng tiền mua là 4,3 triệu, tổng tiền trúng là 4 triệu. Khi ghi biên bản bên công an thì tổng số tiền tham gia là 8,3 triệu. Theo luật thì tôi bị xử lý như thế nào, tôi chưa bị tiền án, tiền sự gì.

Bộ luật Hình sự hiện hành quy định về tội đánh bạc như sau:

Điều 248. Tội đánh bạc 

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: 

a) Có tính chất chuyên nghiệp; 

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên; 

c) Tái phạm nguy hiểm. 

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng

Số tiền dùng để đánh bạc ở đây được tính bằng tổng số tiền đánh đề và số tiền trúng đề là 8.3 triệu đồng. Theo đó, bạn có thể phải chịu hình phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng và cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt từ 3 tháng đến 3 năm.

Xin chào luật sư! Tôi mới bị triệu tập vì hành vi mua số lô, đề tư nhân qua tin nhắn điện thoại (lần đầu). Tổng tiền mua là 4,3 triệu, tổng tiền trúng là 4 triệu. Khi ghi biên bản bên công an thì tổng số tiền tham gia là 8,3 triệu. Theo luật thì tôi bị xử lý như thế nào, tôi chưa bị tiền án, tiền sự gì.

Bộ luật Hình sự hiện hành quy định về tội đánh bạc như sau:

Điều 248. Tội đánh bạc 

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: 

a) Có tính chất chuyên nghiệp; 

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên; 

c) Tái phạm nguy hiểm. 

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng

Số tiền dùng để đánh bạc ở đây được tính bằng tổng số tiền đánh đề và số tiền trúng đề là 8.3 triệu đồng. Theo đó, bạn có thể phải chịu hình phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng và cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt từ 3 tháng đến 3 năm.

Chào văn phòng luật sư Minh Khuê, tôi có 1câu hỏi cần tư vấn như sau: E trai tôi có lấy trộm 1máy tính trị giá 11triệu, đã bị công an bắt và đưa lên huyện. Tuy nhiên e tôi có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: phạm tội lần đầu, lí lịch tốt, thân nhân tốt, học tập tốt, và ng bị mất đã viết đơn xin bãi nại... Hiện tại chưa bị khởi tố, vậy khi có đơn xin bãi nại của ng bị hại rồi thì vụ án có đc dừng lại k? Nếu k đc dừng lại thì mức án của e tôi sẽ như thế nào? Xin tư vấn giúp tôi!

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì tội Trộm cắp tài sản tại Điều 138 không thuộc trường hợp chỉ khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, tức là kể cả bên người bị hại đã có đơn xin bãi nại thì cơ quan Viện kiểm sát vẫn có quyền khởi tố vụ án.

Nếu như em bạn bị khởi tố thì có thể sẽ chịu mức phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Các tình tiết như phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có đơn bãi nại sẽ có thể coi là tình tiết giảm nhẹ. 

Chào luật sư... Hiện tại, gia đình tôi đang gặp một chuyện khó khăn trong lĩnh vực hình sự và nhờ luật sư giải đáp. Sự việc như sau: Năm 2014, gia đình của bên A đã xúc phạm danh dự nhân phẩm con gái tôi.. sau đó, con tôi bức xúc việc nói xấu nên con tôi về hỏi và tôi bị gia đình bên A gồm 2 đối tượng sinh năm 1998 và 1990... Tỉ lệ thương tật của tôi là 37%.. Nhưng đến nay vẫn chưa giải quyết mặc dù gia đình tôi đáp ứng đủ hồ sơ... Vậy nay gia đình tôi nhờ luật sư giải đáp thắc mắc dùm tôi: 1/ Giấy tỉ lệ thương tật thì tôi có quyền nhờ cơ quan Công An đưa lại hoặc photo bản sao không? 2/ Vụ án không xử hình sự mà chuyển qua dân sự được hay không?? Gia đình tôi chân thành cám ơn Mong luật sư trả lời sớm giúp gia đình tôi!
1- Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì:

Điều 158. Quyền của bị can và những người tham gia tố tụng đối với kết luận giám định

1. Sau khi đã tiến hành giám định, nếu bị can, những người tham gia tố tụng khác yêu cầu thì cơ quan đã trưng cầu giám định phải thông báo cho họ về nội dung kết luận giám định.

Bị can, những người tham gia tố tụng khác được trình bày những ý kiến của mình về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại. Những việc này được ghi vào biên bản.

2. Trong trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không chấp nhận yêu cầu của bị can, những người tham gia tố tụng khác thì phải nêu rõ lý do và thông báo cho họ biết.

Như vậy, gia đình bạn có quyền được biết về nội dung kết luận giám định, theo đó có quyền cơ quan có thẩm quyền cung cấp nội dung kết luận giám định này.
2 - Tội cố ý gây thương tích thuộc trong số các trường hợp chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, do vậy, khi có đơn bãi nại từ phía người bị hại thì sẽ không thực hiện xử lý theo hình sự nữa. Và sẽ chuyển sang dân sự nếu gia đình bạn chỉ yêu cầu tòa án giải quyết bồi thường thiệt hại.
Kính chào toàn thể các anh, chị Công ty Luật Minh Khuê. Tôi có một em trai bị người khác dùng dao nhọn sắc trọc vào cằm dưới cổ bên trái, sâu 2Cm, chiều dài 3Cm, đã làm đơn trình báo Công an và công an cũng đã làm việc. Qua quá trình Công an lam việc thi có nói là vụ việc trên chưa đến mức nghiêm trọng nên cho hai bên gia đình tự thỏa thuận ra giá bồi thường. Vậy, tôi xin hỏi các Anh, chị trường hợp như em trai tôi thì bên hại phải bồi thường bao nhiêu tiền thì mới thỏa đáng và hợp pháp. Trong lúc chờ đợi, tôi xin chân thành cảm ơn.
Trường hợp của em trai bạn đã bị người khác cố ý gây thương tích bằng hung khí nguy hiểm (dao sắc nhọn), theo quy định của Bộ luật Hình sự thì:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

Như vậy, kết luận vụ việc này chưa đến mức nghiêm trọng là chưa chính xác, ở đây đã có dấu hiệu tội phạm hình sự.
Nếu như bên em trai bạn có đơn yêu cầu khởi tố thì người đã đâm em trai bạn sẽ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định trên.
Còn nếu như em trai bạn chỉ yêu cầu bồi thường thiệt hại thì có quyền đưa ra mức bồi thường hợp lý theo quy định Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Dựa theo quy định trên, em trai bạn có quyền đưa ra mức bồi thường, nếu 2 bên không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án ấn định.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng   để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Luật Hình sự - Công ty Luật Minh Khuê